TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Lê Bảo Khánh
Lớp : Anh 4
Khoá học : K43A – KT&KDQT
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Quang Hiệp
khích phát triển DNVVN và kinh nghiệm của một số n-ớc
trên thế giới 34
I. Vài nét về các DNVVN Việt Nam 34
1. Về số l-ợng DNVVN và quy mô vốn 34
2. Các văn bản pháp luật và chính sách hiện hành liên quan đến sự phát triển
của DNVVN 39
2.1. Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV 39
2.2. Quyết định số 115/2004/QĐ-TTg, ngy 25/6/2004 về việc sửa đổi, bổ sung quy
chế thnh lập, tổ chức v hoạt động của Quỹ Bảo lnh tín dụng cho doanh nghiệp
nhỏ v vừa. 40
2.3. Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu 41
II. Chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ đối với sự
phát triển của DNVVN 41
1. Chính sách thuế trong việc khuyến khích và định h-ớng phát triển DNVVN
41
2. Chính sách tín dụng trong việc khuyến khích và định h-ớng phát triển
DNVVN 50
2.1. Chơng trình tín dụng u đi của Nh nớc 52
2.2. Quỹ bảo lnh tín dụng 54
2.3. Huy động vốn từ các ngân hng thơng mại (NHTM) 55
56
2.4. Các chơng trình tín dụng của các tổ chức nớc ngoi 60
2.5. Hỗ trợ vốn qua hình thức cho thuê tài chính (tín dụng thuê mua) 61
III. Kinh nghiệm của các n-ớc trong việc sử dụng chính
sách tài chính, tiền tệ nhằm thúc đẩy sự phát triển của
DNVVN 62
1. Tóm tắt chính sách tài chính, tiền tệ trong việc khuyến khích phát triển
DNVVN của một số n-ớc trên thế giới 62
1.1. Thực hiện miến, giảm thuế thúc đẩy đầu t- 63
1.2. Thực hiện khấu hao nhanh tài sản cố định. 66
10
5
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục bảng:
Bảng 1: Tiêu thức xác định DNVVN của một số nước trên thế giới 5
Bảng 3: Vốn bình quân của doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam năm 2003 38
Bảng 4: Tỷ trọng vốn chủ sở hữu và tín dụng của doanh nghiệp (%) 51
Bảng 5: Dư nợ cho vay DNVVN của toàn ngành ngân hàng giai đoạn 2001-2006 . 55
Bảng 6: Cơ cấu cho vay DNVVN phân theo thời hạn tín dụng và loại hình tổ chức
tín dụng 56
Danh mục biểu đồ:
Biểu đồ 1: Cơ cấu ngμnh nghề kinh doanh của DNNVV 35
Biểu đồ 2: Số l−ợng DNVVN vμ số vốn đăng ký hμng năm 37
Biểu đồ 3: Tỷ lệ khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của DNVVN 57
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
APEC : Diễn đàn hợp tác châu Á - Thái Bình Dương
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GTGT : Giá trị gia tăng
hỗ trợ và định hướng sự phát triển của các doanh nghiệp này. Có thể nói, hiện nay
sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chịu tác động rất lớn từ
các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cũng như các chính sách định hướng sự phát
triển kinh tế của Chính phủ. Trong các chính sách điều tiết nền kinh tế có ảnh
hưởng trực tiếp tới sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chính sách tài chính,
tiền tệ là một trong những công cụ quan trọng thường được Chính phủ sử dụng. Bản
chất của các chính sách này là việc Chính phủ sử dụng các công cụ tài chính và công cụ
tiền tệ để khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các tổ chức xã
hội trong xã hội nhằm tạo ra của cải ngày càng nhiều cho xã hội. Cụ thể, thông qua 2
công cụ chủ yếu và thường được sử dụng là chính sách thuế và chính sách tín dụng,
Chính phủ đã thực hiện các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao hiều quả hoạt
động và năng lực cạnh tranh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Việc nhìn nhận và đánh giá đúng đắn tác động của các công cụ của chính
sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ trong việc hỗ trợ sự phát triển của doanh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp 2
nghiệp vừa và nhỏ để từ đó hoàn thiện và phát huy hơn nữa vai trò của Chính phủ
đối với việc định hướng và phát triển loại hình doanh nghiệp này là một yêu cầu cấp
thiết có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay đối với các quốc
gia trên thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng. Đó chính là lý do tác giả
chọn đề tài “Chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ đối với sự phát triển của
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và bài học đối
với Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu: Khóa luận tốt nghiệp tập trung phân tích, đánh giá
tác động của các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ trong việc hỗ trợ sự phát
triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong thời gian qua, nêu kinh
nghiệm của các nước trên thế giới, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và
nhau trong các nước khác nhau, điểm giống nhau duy nhất trong quan niệm về
DNVVN là khái niệm này dùng để chỉ một loại hình doanh nghiệp được xếp loại
theo những tiêu chí nhất định thường là dựa vào quy mô sản xuất của doanh nghiệp.
Đứng trên giác độ quy mô người ta hay nói đến số lượng lao động thường
xuyên có trên thực tế hoặc tổng số vốn đầu tư thể hiện tổng giá trị tài sản hoặc
doanh thu trong năm của 1 doanh nghiệp. Các nước trên thế giới đã dựa vào 2 chỉ
tiêu này để xác định quy mô của loại hình DNVVN nhưng ở các mức độ định lượng
rất khác nhau.
Việc xác định quy mô DNVVN trên thế giới chỉ mang tính chất tương đối vì
nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển mỗi nước, tính chất ngành
nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân
loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Nhìn chung, trên thế giới, việc xác
định 1 doanh nghiệp có phải là DNVVN hay không tuỳ thuộc vào 2 nhóm tiêu thức
phổ biến là: Tiêu chí định tính và Tiêu chí định lượng
Nhóm tiêu chí định tính: Dựa trên nhóm tiêu thức cơ bản nh− bộ máy quản
lý, cơ chế ra quyết định, các nghiệp vụ tμi chính, hình thức tổ chức doanh nghiệp,
trình độ chuyên môn hoá… Các tiêu thức nμy có −u thế lμ phản ánh đúng bản chất
của vấn đề nh−ng th−ờng khó xác định trên thực tế. Do đó, chúng chỉ đ−ợc dùng
lμm cơ sở để tham khảo mμ ít đ−ợc sử dụng để phân loại.
Nhóm tiêu chí định l−ợng: Được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như số
lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
5
doanh nghiệp. Số lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số
lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp. Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm
tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của doanh
nghiệp
Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định
quy mô doanh nghiệp. Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác
Bán lẻ
1 - 50
0 - 50 triệu Yên Dịch vụ
1 - 100
1 - 100 triệu Yên
3. EU
Doanh nghiệp
cực nhỏ
< 10
Không quan trọng
Doanh nghiệp
nhỏ
< 50
7 triệu Ecu
Doanh nghiệp
vừa
< 250
27 triệu
Ecu
4.Hàn Quốc
Nông lâm ngư
và dịch vụ
0 - 50
Không quan trọng
100 triệu
NTS
6. Thái Lan
Sản xuất nhỏ
Không quan
trọng
0 - 50 triệu Baht Sản xuất vừa
50 - 200 Bán buôn nhỏ
0 - 50 Bán buôn vừa
50 - 100 Bán lẻ nhỏ
D
Doanh nghiệp
vừa
20.000 - 100.000
USD
100.000 -
500.000
USD
9. Nga
Doanh nghiệp
nhỏ
1 - 249
Không quan trọng
Không
quan trọng
Doanh nghiệp
249 - 999 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
7
vừa
10. Trung
Quốc
Doanh nghiệp
nhỏ
DNNVV. Theo đó, DNNVV trong ngành công nghiệp là các doanh nghiệp phải có
vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 300 người;
trong ngành thương mại dịch vụ là những doanh nghiệp có vốn sản xuất dưới 3 tỷ
đồng và số lao động dưới 200 người. Trong đó, doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
8
và số lao động dưới 50 người trong công nghiệp và dưới 30 người trong thương mại
dịch vụ là doanh nghiệp nhỏ. Tiêu chí này dựa trên 2 căn cứ là tổng số vốn và số lao
động. Các tiêu thức về DNVVN trong công văn này đã trở thành một căn cứ pháp lý
quan trọng đầu tiên để chính thức xác định các đối tượng là DNVVN Việt Nam.
Theo các tiêu thức này, các doanh nghiệp không tính đến hình thức sở hữu là các
doanh nghiệp quốc doanh hay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Ngày 23 tháng 11 năm 2001 Chính phủ đã ban hành nghị định 90/2001/NĐ-
CP về trợ giúp phát triển DNVVN. Trong nghị định này, Chính phủ đã đưa ra một
định nghĩa chung về DNVVN để các ban ngành, địa phương có căn cứ để xác định
đối tượng được Chính phủ trợ giúp phát triển. Theo định nghĩa này, “DNVVN lμ
những đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật
hiện hμnh, có mức vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình
hμng năm không quá 300 ng−ời”. Theo nghị định này, đối tượng được xác định là
DNVVN bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà
nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03
tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.
Như vậy, theo định nghĩa này tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn hai tiêu thức lao động và vốn đưa ra
trong nghị định này đều được coi là DNVVN Việt Nam. Theo cách phân loại này,
các chính sách dành cho DNVVN. Tương tự như vậy, nếu sử dụng tiêu chí vốn kinh
doanh/doanh số thì các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động cũng vẫn được hưởng
lợi từ các chính sách phát triển DNVVN.
Vì vậy, việc xác định DNVVN nên dựa trên cả 2 tiêu chí là doanh số và số
lao động thường xuyên trung bình hàng năm của các doanh nghiệp.
2. Các đặc điểm của DNVVN
2.1. Điểm mạnh
Thứ nhất, các DNVVN dễ khởi sự. Đa phần các doanh nghiệp chỉ cần một số
l−ợng vốn nhỏ, số lao động không nhiều với các điều kiện lμm việc đơn giản lμ có
thể tiến hμnh kinh doanh. Điều nμy phù hợp với hoμn cảnh kinh tế xã hội của Việt
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
10
Nam do n−ớc ta còn ở trình độ phát triển thấp, khoảng cách chênh lệch với các
n−ớc trong khu vực vμ thế giới rất lớn. Quy mô cũng nh− cách thức không đòi hỏi
sự phức tạp vμ khó khăn vμ điều nμy thôi thúc những ng−ời có ý t−ởng kinh doanh
b−ớc đầu thμnh lập doanh nghiệp.
Thứ hai, các doanh nghiệp nμy có tính linh hoạt cao. Do quy mô nhỏ nên các
DNVVN nhạy cảm với những thay đổi của thị tr−ờng. Khi thị tr−ờng có những biến
động, các doanh nghiệp nμy có thể chuyển h−ớng sang những ngμnh nghề khác
đem lại lợi nhuận cho công ty dễ dμng hơn so với các doanh nghiệp lớn. Nhìn
chung DNVVN năng động hơn vμ dễ thích ứng hơn so với diễn biến nhanh chóng
của môi tr−ờng kinh doanh ngμy nay.
Thứ ba, các DNVVN luôn có lợi thế trong việc duy trì vμ phát triển các
ngμnh nghề truyền thống. Những ngμnh nghề nμy đòi hỏi vốn ít, nhân công dồi dμo
sẵn có, lại luôn nhận đ−ợc sự −u tiên khuyến khích phát triển của chính quyền địa
ph−ơng, rất phù hợp với quy mô của DNVVN. Đồng thời các doanh nghiệp nμy có
khả năng khai thác vμ sử dụng có hiệu quả những nguồn lực đầu vμo nh− lao động,
tμi nguyên….
Thứ tư, các doanh nghiệp nμy có lợi thế về sử dụng lao động. Đặc điểm của
Khả năng về công nghệ thấp do không đủ khả năng tμi chính cho nghiên cứu
triển khai nên các doanh nghiệp nμy gặp nhiều khó khăn trong đầu t− công nghệ
mới đặc biệt lμ công nghệ đòi hỏi vốn đầu t− lớn. Từ đó ảnh h−ởng đến năng suất,
chất l−ợng vμ hiệu quả, hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị tr−ờng.
Khả năng tiếp cận thị tr−ờng kém đặc biệt lμ thị tr−ờng n−ớc ngoμi.
Nguyên nhân chủ yếu lμ do các DNVVN th−ờng lμ những doanh nghiệp mới hình
thμnh, khả năng tμi chính cho các hoạt động marketing không có vμ họ cũng ch−a
có nhiều khách hμng truyền thống. Thêm vμo đó, quy mô thị tr−ờng của các doanh
nghiệp nμy th−ờng bó hẹp trong phạm vi địa ph−ơng, việc mở rộng ra các thị
tr−ờng mới lμ rất khó khăn. Các DNVVN rất linh hoạt trong môi tr−ờng kinh doanh
đầy biến động song cũng phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh. Các doanh nghiệp
nμy không có lợi thế kinh tế theo quy mô vμ th−ờng không có mối quan hệ với các
ngân hμng, các tổ chức tμi chính nên th−ờng gặp khó khăn trong việc vay vốn để
duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh hay nhận đ−ợc sự giúp đỡ từ chính quyền địa
ph−ơng nếu gặp khó khăn. Các doanh nghiệp nμy cũng không có khả năng mở rộng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
12
thị tr−ờng khi mμ không có đội ngũ cán bộ dμy dặn kinh nghiệm… Nhìn chung số
l−ợng các DNVVN ra đời ngμy cμng nhiều song cũng nhiều DNVVN bị phá sản.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
13
3. Vai trò của DNVVN đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, hoạt động của các DNVVN
đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
3.1. Về khía cạnh kinh tế
Thứ nhất, các DNVVN góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, làm
tăng GDP
Cũng như DNVVN tất cả các nước, DNVVN Việt Nam cung cấp ra thị
nghiệp. Dưới khía cạnh đó, DNVVN có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để
phát triển kinh tế.
Thứ ba, các DNVVN góp phần lμm tăng chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việc phát triển các DNVVN sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngμnh kinh tế vμ thμnh phần kinh tế. Điều nμy
đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Khi các doanh nghiệp tiến hμnh thμnh lập doanh nghiệp tại những khu vực nμy sẽ
góp phần lμm giảm tỷ trọng nông nghiệp vμ tăng tỷ trọng ngμnh công nghiệp vμ
dịch vụ đồng thời góp phần tạo công ăn việc lμm, giảm bớt chênh lệch thu nhập
giữa các vùng dân c−. Khi các DNVVN ra đời ngμy cμng nhiều vμ cùng với sự lớn
mạnh của khối doanh nghiệp nμy thì buộc các thμnh phần kinh tế khác phải củng cố
lại, kinh doanh có hiệu quả hơn nhằm đứng vững trên thị tr−ờng. Hơn nữa việc các
DNVVN kinh doanh trên nhiều lĩnh vực sẽ góp phần đa dạng hóa ngμnh nghề đẩy
mạnh phát triển cơ cấu ngμnh.
Thứ tư, các DNVVN sẽ góp phần lμm cho nền kinh tế phát triển ổn định vμ
hiệu quả hơn.
Do đặc thù của loại hình doanh nghiệp nμy lμ khá linh hoạt, nhạy cảm tr−ớc
những biến động của thị tr−ờng nên có −u thế hơn trong việc chuyển h−ớng sang
những ngμnh nghề kinh doanh đem lại lợi nhuận cao hơn. Mặt khác sự ra đời của
những DNVVN nμy cũng lμm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế. Việc thμnh
lập vμ hoạt động của doanh nghiệp nμy sẽ lμm giảm độc quyền, buộc các doanh
nghiệp khác cùng phải cạnh tranh mới có thể tồn tại vμ phát triển đ−ợc. Tr−ớc áp
lực cạnh tranh gay gắt những doanh nghiệp nμo yếu kém sẽ bị đμo thải hoặc buộc
phải liên kết với các doanh nghiệp khác. Về cơ bản điều nμy luôn đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tiến hμnh đổi mới, tăng năng suất, nâng cao chất l−ợng sản phẩm đồng
thời hạ giá thμnh sản phẩm.
Thứ năm, các DNVVN tích cực đóng góp vμo ngân sách Nhμ n−ớc.
Khuyến khích vμ định h−ớng DNVVN phát triển sẽ lμm tăng tỷ lệ đóng góp
vμo ngân sách Nhμ n−ớc. Ngân sách nhμ n−ớc có ảnh h−ởng quyết định đến sự
phát triển của toμn bộ nền kinh tế vμ xã hội. Thông qua việc hình thμnh vμ sử dụng
Trong gần bốn năm qua −ớc tính các DNVVN, hộ kinh doanh cá thể mới
thμnh lập đã tạo khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ lμm việc mới, đ−a tổng số lao động lμm
việc trong các doanh nghiệp lμ 1.845.200 ng−ời, xấp xỉ bằng tổng số lao động lμm 2
http://www.ciem.org.vn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
16
việc trong các doanh nghiệp Nhμ n−ớc. Điều nμy xuất phát từ đặc điểm của các
doanh nghiệp lμ ít vốn vμ hoạt động chủ yếu trong các ngμnh sử dụng nhiều lao
động. Với quy mô nhỏ, chi phí tạo ra một chỗ lμm việc thấp nên các DNVVN Việt
Nam đang đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra vμ tăng thêm việc lμm cho nền
kinh tế, góp phần lμm giảm tỷ lệ thất nghiệp vμ tăng c−ờng ổn định xã hội.
Các cá nhân sau khi tham gia hoạt động sản xuất tại các doanh nghiệp nμy lại
có cơ hội nâng cao tay nghề, nghiệp vụ đ−ợc học tập thông qua các ch−ơng trình
đμo tạo của doanh nghiệp. Rõ rμng các doanh nghiệp nμy không chỉ thu hút lao
động mμ từng b−ớc nâng cao chất l−ợng đội ngũ nhân công. Vấn đề nμy ngμy cμng
đ−ợc Nhμ n−ớc quan tâm vì việc nâng cao chất l−ợng nguồn nhân lực sẽ đáp ứng
đ−ợc nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đ−a nền kinh tế Việt Nam lên một vị thế
mới.
Nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện
công bằng xã hội
Khi một bộ phận dân c− có công ăn việc lμm, đồng nghĩa với việc ng−ời dân
có thu nhập phục vụ cuộc sống m−u sinh hμng ngμy, Chính quyền địa ph−ơng sẽ
bớt gánh nặng xã hội trong việc trợ cấp. Dân c− có công ăn việc lμm ổn định sẽ hạn
chế nảy sinh những tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng một lối sống văn hoá lμnh
mạnh. Hơn thế nữa, việc phát triển DNVVN ở khu vực thμnh thị cũng nh− nông
hơn, giảm chi tiêu Chính phủ và thậm chí, còn khống chế tiền lương và giá, nhằm
giảm tổng chi tiêu.
Chính sách tài chính, tiền tệ là một trong những công cụ quan trọng để Chính
phủ tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bản chất của các chính sách này là việc
Chính phủ sử dụng 2 công cụ quan trọng là công cụ tài chính và công cụ tiền tệ để
khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các tổ chức trong xã
hội nhằm tạo ra của cải ngày càng nhiều cho xã hội. Trong nền kinh tế thị trường,
chính sách tài chính, tiền tệ là trung tâm của hệ thống chính sách. Do đó, chính sách
này có tác động mạnh mẽ và quyết định đối với sự phát triển khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh nói riêng và các DNVVN nói chung.
1. Chính sách tài chính
Hiện nay trên các phương tiện thông tin, thuật ngữ chính sách tài chính được
sử dụng với nội dung không thống nhất. Có trường hợp chính sách tài chính được
sử dụng như là chính sách tài khóa (Fiscal Policy), nhưng cũng có trường hợp chính
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
18
sách tài chính được quan niệm bao hàm cả chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ,
chính sách tỷ giá… mang ý nghĩa là chính sách tài chính quốc gia (Financial
Policy).
Để tránh nhầm lẫn và phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài, thuật ngữ
chính sách tài chính được đề cập đến là chính sách tài chính theo nghĩa hẹp - nghĩa
là, chính sách tài khóa. Với việc giới hạn nội dung của thuật ngữ như vậy, chính
sách tài chính được hiểu là chính sách liên quan đến những điều chỉnh trong các
hoạt động thu - chi ngân sách nhà nước, cơ cấu của thu chi ngân sách và quan hệ
giữa chúng với nhau nhằm hướng nền kinh tế tới mục tiêu kinh tế vĩ mô mong muốn.
Các công cụ chủ yếu của chính sách tài chính là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu
tư của Chính phủ; các loại thuế trực thu, gián thu và các khoản thu khác - trong đó
thu ngân sách chủ yếu là thu từ thuế; và các khoản chuyển nhượng (chuyển khoản).
Chính sách tài chính chủ yếu và trực tiếp gây nên những biến đổi ở thị
nước, phân bổ lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư… mà còn là công cụ đắc lực để
điều phối các nguồn và luồng đầu tư sao cho hiệu quả, gián tiếp tác động cơ cấu lại
sản xuất.
Phân loại theo tính chất, thuế được chia thành 2 loại:
+ Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào người nộp thuế, người nộp
thuế cũng là người chịu thuế. Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân.
+ Thuế gián thu: là loại thuế đánh vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng
hóa và dịch vụ, nghĩa là người nộp thuế không phải là người chịu thuế. Ví dụ: thuế
giá trị gia tăng (VAT), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.
Chi ngân sách bao gồm hai bộ phận cơ bản: chi tiêu của Chính phủ (G) và
các khoản chuyển nhượng (TR) trong đó thông thường ở nhiều nước G chiếm tỷ
trọng rất cao khoảng từ 60 đến hơn 80%. Trong cơ cấu của G thường bao gồm các
khoản chi chủ yếu sau: Chi sản xuất hàng hóa công cộng, ví dụ như: xây dựng
trường học, bệnh viện, đê đập, kè cống, đường sắt; Chi lương cho công chức của
Chính phủ; Chi cho An ninh – Quốc phòng.
Trong thực tế chi ngân sách thường được thể hiện ở nhiều cơ cấu khác nữa
như: hoặc là bao gồm chi tích lũy, chi tiêu dùng và chi khác, hoặc là bao gồm chi
xây dựng cơ bản, chi trả nợ, chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển v.v… việc phân
chia chi ngân sách thành những cơ cấu khác nhau đó phụ thuộc vào những nhiệm vụ