MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ CDCC NGÀNH KT CỦA CÁC NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI
1-Nhật Bản :
Sự chuyển dịch CCKT đã bắt đầu diễn ra ,lao động trong NN bị thu nhỏ dần một
phần do tác động của khoa học kỹ thuật mới , mặt khác do sự tính toán hiệu quả
sản xuất đã tạo ra một sư chuyển lao động rất lớn từ NN sang CNvà các lĩnh vực
kinh tế khác .Chỉ trong thời gian 30 năm (từ 1950-1979) đã có 9 triệu người rút
khỏi khu vực NN để chuyển sang các khu vực khác.Nhờ chủ trương nâng cao tiền
lương thực tế của nhân dân bằng cách nâng cao năng suất lao động nên trong suốt
thập kỷ 50 ,tiền lương thưc tế của công nhân NN đã tăng bình quân 7%/năm ,đIũu
này đã góp phần làm tăng thêm thu nhập của gia đình nông dân trong suốt thâp kỷ
50,tạo cơ sở cho sự phát triển trong giai đoạn sau.Đến những năm 1960-1970,tình
hình thị trường lao động ở Nhật Bản trở rất căng thẳng .Chính phủ NHật Bản đã
tận dung hết khẳ năng nguồn lự cho sự phát triển kinh tế. Tình hình di chuyển lao
đọng sang các ngành phi NN phát triển quá nhanh đã trở thànhmối nguy cho sự
phát triển của khu vực nông nghiẹp,nông thôn.Để giảI quuyét tình trạng đó, Chủ
Nhật Bản đãđưa tiến bộ kỹ thuật vaò NN ( đầu tiên là máy gặt đập,sau đó là máy
cày ... ) đã giảI phóng sức lao động của nông dân,tạo cơ hội cho họ tìm kiếm việc
làm phi NN. Như vậy ,ở đây ta thấy Nhật Bản đã phát triển theo mô hình hai khu
vực của A.Lewis .
-Về tàI chính : sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), nền kinh tế
Nhật Bản bắt đầu đI vào phát triển ; sự thiếu thốn diễn ra là một thực tế .Nguồn tàI
chínhcủa Chính phủ , thậm chí cả của tư nhân cũng bị kiệt quệ hoặc bị tiêu hao do
tình trạng lạm phát diễn ra .Tuy vậy , Nhạt Bản đã nhận được nguồn viên trợ tư Mỹ
cùng với sự thành công của một số chính sách làm cho t;ỷ lệ tích luỹ cao và có xu
hướng tăng . Thứ nhất :Nhật Bản duy trì mức tiền lương thấp trong khi năng suất
lao động tăng nhanh . Thứ hai : nhờ tính tiết kiệm ,người Nhật đã làm tăng khối
lượng tiền tiết kiệm cho sản xuất kinh doanh .Chỉ tính từ năm 1961-1967 , thời kỳ
phát triển mạnh nhất của CN Nhật Bản thì tỷ lệ tiết kiệm trong tổng số thu nhập
của ngươì dân Nhật là 18,6% ,trong khi đó của Mỹ là 6,2%,Anh là 7,7 %,Philippin
là 8,7 %.Tứ ba :do có chính sách thuế hợp lý đã góp phần đáng kể vào ổn định và
10năm. Tỷ trọng ngành NN giảm đáng kể và tỷ trọng ngành CN&DV tăng lên. CN
đã trở thành lực lượng chính của nền KTQD, từ chỗ chỉ chiếm 27,8% năm 1978
vươn lên chiếm 50% vào năm 1990, đồng thời NN năm 1990 còn 45,4% mà năm
1978 là 68,4%. Tốc độ tăng trưởng bình quân CN thời kỳ 1980-1990 đạt
11,7%;NN đạt 5,5% .
Tuy nhiên quá trình phát triển xí nghiệp Hương Trấn đã đảy Trung Quốc đến
tình trạng thu hẹp diện tích đất canh tác , do phát triển CN và qú trình đô thị hoá
nhanh . Trước tình hình đó Chính phủ Trung Quốc đã ra chính sách hạn chế sử
dụng đất NN nhằm bảo đảm ổn ddịnh lương thực .
Trong quá trình phát triển các nước đều coi CNH là trọng tâm , là động lực phát
triển của xã hội .Sự CDCCKT diễn ra tuỳ theo đặc thùcủa mỗi quốc gia nhưng với
xu thế chung giảm tỷ trọng cuẩ NN ,tăng tỷ trọng CN & DV trong GDP .
CDCCKT diễn ra theo chiều hưỡng ngày càng naang cao vị chí vai trò chủ đạo ,
then chốt của ngành CN & DV trong quá trình phát triển kinh tế . Tuy nhiên ,
không phảI mọi sự CDCC dều mang ý nghĩa tiến bộ , đều dẫn tới sự phát triển kinh
tế như nhau khi áp dụng ở các nước khác nhau . do vậy , chính phủ của mỗi quốc
gia cần nghiên cứu đIũu kiện , đặc đIúm của đất nước mình mà lựa chọn một
CCKT hợp lý .
3-Hàn Quốc .
Quá trình CDCCKT của Hàn Quốc có thể coi là thành công trong khoảng thập
kỷ 60-80 với các kế hoạch 5 năm đã thực hiện (bảng 3). ĐIúm nổi bật của giai
đoạn này là nền kinh tế Hàn Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh ,
bình quân trong 4 kế hoạch 5 năm là 8,3%. Sau 4 lần thực hiện kế hoạch 5 năm
Hàn Quốc đã đạt được một nền kinh tế tự lực (1981).Đạt được sự thành công đó ,
trước hết phảI nói đến vai trò của chính phủ trong việc lựa chọn chiến lược
CDCCKT.
Trong giai đoạn phát triển , Hàn Quốc đã theo đuổi lý thuyết thay thế nhập khẩu
, tập trung sức phát triển CN , đặc biệt là các ngành công nghiệp nhẹ cần nhiều lao
động và làm hàng xuất khẩu . Những 1986-1988 được xem là những năm thành
công nhẩt của Hàn Quốc , do xuất khẩu bùng nổ nên tăng trưởng hàng năm lên tới