Công nghệ cao và kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khu vực
Sự phát triển nhanh và có tính đột biến của khoa học và công nghệ (KH-CN) trên
thế giới trong những năm qua, đặc biệt là công nghệ cao (CNC) đã đem đến những
thay đổi có tính cách mạng trong cuộc sống của nhân loại trên toàn thế giới. Nhờ
những đóng góp to lớn của CNC, của cải và phúc lợi xã hội của nhiều nước tăng
đột biến, chất lượng cuộc sống được tăng cao, lối sống và phương thức sản xuất
biến đổi tích cực đến mức trước đó con người khó hình dung. CNC cũng được
nhiều quốc gia, dù là nước phát triển hay đang phát triển, sử dụng như là vũ khí
chiến lược nhằm đảm bảo vị thế của mình trên thế giới cũng như an ninh quốc gia.
Cùng với xu hướng phát triển đó của nhân loại, Việt Nam quyết tâm đẩ
1. CNC và tác động của CNC đến sự phát triển kinh tế - xã hội
1.1. CNC là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu KH-CN hiện đại; tạo ra sản phẩm có
chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có
vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện
đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có. (Theo Luật công nghệ cao năm 2008)
CNC là những công nghệ cho phép sản xuất với năng suất cao và sản phẩm có
chất lượng cao, mang lại nhiều giá trị gia tăng hơn từ cùng một nguồn vốn và lao
động. Bản thân CNC bao hàm “3 cao”: hiệu quả cao, giá trị gia tăng cao và độ
thâm nhập cao.
CNC thường có các đặc điểm cơ bản sau đây: Chứa đựng hàm lượng cao về
nghiên cứu - phát triển, có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia, sản phẩm được
đổi mới nhanh chóng, đầu tư lớn, độ rủi ro cao, nhưng khi thành công sẽ đem lại
lợi nhuận khổng lồ, thúc đẩy năng lực cạnh tranh và hợp tác trong nghiên cứu -
phát triển, sản xuất và tìm kiếm thị trường trên quy mô toàn cầu.
Trên thực tế đang có sự khác nhau trong nhìn nhận về CNC giữa các cơ quan
nhà nước, cơ quan KH-CN và doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, CNC là công
nghệ mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn tình trạng hiện tại. Các cơ
quan KH-CN chú ý tới hoạt động sáng tạo công nghệ và cho rằng CNC gắn với
hoạt động nghiên cứu và phát triển trong nước. Các cơ quan nhà nước coi CNC
là công cụ để đi tắt, đón đầu, đưa nền kinh tế tiến lên CNH-HĐH.
của KH-CN, trong đó có CNC vào sự tăng trưởng GDP của các nước này là 60-
80%. Các ngành CNC có năng suất lao động cao hơn hẳn so với các ngành công
nghiệp khác. Ví dụ, công nghiệp phần mềm Mỹ là khoảng 140 nghìn
USD/người/năm, Trung Quốc khoảng 14-18 nghìn USD/ người/năm và Việt Nam
khoảng 10 nghìn USD/ người/năm. Việc ứng dụng CNC đã làm thay đổi có tính
cách mạng về lực lượng sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lý luận và tổ chức lao
động xã hội. Ví dụ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực dịch vụ
tài chính - ngân hàng, hàng không đã làm thay đổi cơ bản chất lượng, tính chất và
hiệu quả của hoạt động này.
CNC có tác động điều chỉnh cơ cấu kinh tế: Việc hình thành và phát triển với
tốc độ cao của các ngành nghề mới nhờ ứng dụng CNC đã góp phần quan trọng
vào việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các dịch vụ có
giá trị gia tăng cao (ở những nước phát triển, dịch vụ chiếm tỷ trọng trên 70%
GDP; khu vực dịch vụ dựa trên công nghệ thông tin của thế giới trong 2 năm từ
2006-2008 tăng trưởng 6%/năm).
- CNC có tác động to lớn tới sự phát triển và gắn kết giữa KH-CN với giáo
dục, đào tạo và sản xuất, kinh doanh:
Sản phẩm CNC có chu kỳ sống ngắn, thời gian chuyển từ ý tưởng, kết quả
nghiên cứu vào sản xuất sản phẩm nhanh, đòi hỏi sự gắn kết rất chặt chẽ giữa các
cơ sở nghiên cứu, đào tạo và sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, sản phẩm CNC là
tích hợp của nhiều kết quả nghiên cứu, cần có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ
sở nghiên cứu, đào tạo và sản xuất. Ví dụ, dự án internet được hình thành từ yêu
cầu của Bộ Quốc phòng Mỹ và do các trường đại học Mỹ và các công ty lớn như
Sun Micro System, Cisco, IBM thực hiện.
- CNC có tác động to lớn tới an ninh, quốc phòng:
Trước đây và cả ngày nay, trong các cuộc chạy đua quân sự, CNC là một
trong những yếu tố quyết định. Các chương trình sản xuất bom nguyên tử, chinh
phục vũ trụ (trong đó có vệ tinh tình báo), sản xuất tên lửa, máy bay và trang
thiết bị vũ khí tối tân đều được các nước phát triển quan tâm và đầu tư những
khoản kinh phí khổng lồ. Gần đây nhất, cùng với chương trình chạy đua vũ trang
mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng CNC, nâng cao năng lực cạnh tranh với Hoa
Kỳ và EU trên thị trường này. Đặc điểm phát triển CNC của Nhật Bản là tranh
thủ nắm bắt, làm chủ, hoàn thiện CNC của thế giới rồi nhanh chóng sản xuất,
xuất khẩu hàng loạt các mặt hàng này với chất lượng vượt trội. Chính phủ đã
thực thi chính sách hỗ trợ phát triển các công ty CNC bằng cách vừa cung cấp tài
trợ, vừa giúp đỡ trong việc mua CNC của nước ngoài, bảo vệ thị trường trong
nước, tránh sự cạnh tranh của nước ngoài. Chính phủ Nhật Bản đã dành nguồn
ngân sách rất lớn để hỗ trợ cho các dự án CNC nhằm nâng cao trình độ nghiên
cứu cơ bản trong nước và để chuyển giao các kết quả nghiên cứu đó cho ngành
công nghiệp. Các lĩnh vực CNC được ưu tiên phát triển ở Nhật Bản bao gồm
công nghệ điện tử - viễn thông, tự động hóa, vật liệu mới, công nghệ sinh học,
năng lượng mới, công nghệ biển và công nghệ vũ trụ.
Khu Khoa học Tsukuba bắt đầu được xây dựng từ năm 1970 với tổng diện tích
280km
2
. Hiện nay có 46 tổ chức quốc gia về nghiên cứu và giáo dục đặt trụ sở
chính tại thành phố Tsukuba. Các tổ chức này sử dụng 13.000 nhân công (8.500
người trong số họ là các nhà nghiên cứu). Thành phố cũng thu hút hơn 250 viện
nghiên cứu tư nhân, công ty và các trường đại học với khoảng 210.000 người,
trong đó có hơn 6.000 có trình độ tiến sĩ. Ở đây được chia thành 02 khu: Khu
vực phục vụ và ứng dụng - là nơi làm việc của 116.297 nhà khoa học chuyên
nghiệp; Khu nghiên cứu và học tập: có 10.748 sinh viên, nghiên cứu sinh là
khu vực nghiên cứu và giáo dục khoa học có quy mô lớn nhất được quy hoạch.
Từ khoản đầu tư ban đầu tương đương 5 tỉ USD, trong đó 3,2 tỉ dành cho việc
xây dựng cấu trúc thành phố cùng các công trình dịch vụ, còn 1,8 tỉ để trang bị
máy móc cho các viện nghiên cứu, ví dụ như máy bắn hạt proton là 1 trong 5 cỗ
máy gia tốc hạt mạnh nhất mà thế giới hiện có, hay chiếc kính hiển vi điện tử
mạnh nhất hành tinh có thể phóng đại một vật lên gấp cả triệu lần, song song là
các hệ thống máy tính điện tử thế hệ thứ tư và thứ năm cũng lần lượt được trang
bị nhằm phục vụ cho giới khoa học thuộc 17 bộ môn mũi nhọn như nguyên vật
nghiên cứu, có hơn 400 nghìn người đang theo học tại các trường đại học, hàng
năm có hơn 100 nghìn người tốt nghiệp. Có hơn 1 triệu nhân tài sáng tạo với tố
chất cao, chiếm gần 1/4 số lưu học sinh về nước lập nghiệp, có 57 phòng thí
nghiệm trọng điểm cấp quốc gia, có 26 trung tâm nghiên cứu công trình quốc gia,
có 29 trung tâm nghiên cứu công nghệ công trình quốc gia, có 17 vườn công
nghệ trong các trường đại học, có 29 vườn sáng nghiệp cho người đi du học, có
hơn 30 tổ chức Hiệp hội với chức năng là doanh nghiệp tự thành lập, tự chủ quản
lý. Hàng năm số lượng dự án đầu tư sáng tạo và kinh phí đầu tư chiếm khoảng
1/3 tổng số kinh phí toàn quốc; hàng năm có hơn 10 doanh nghiệp lên sàn giao
dịch, xuất hiện một loạt thành quả sáng tạo công nghệ mang tính tự chủ sáng tạo
bao phủ toàn quốc. Trọng điểm phát triển của khu CNC là năng lượng mới, tiết
kiệm năng lượng bảo vệ môi trường, ôtô chạy bằng động cơ điện, nguyên liệu
mới, y dược mới, ươm giống sinh vật, ngành thông tin, và các ngành nghề mới
nổi mang tính chiến lược. Năm 2009, doanh nghiệp khu CNC Trung Quan Thôn
đạt doanh thu thập vượt 1.200 tỷ NDT; thị trường máy tính, sản lượng điện thoại
di động đứng thứ nhất thế giới, thu nhập của thiết kế mạch điện chiếm 1/4 tỷ lệ
toàn quốc. Đến nay, có 145 doanh nghiệp đã lên sàn giao dịch, trong đó có 86
doanh nghiệp là quốc doanh, 59 doanh nghiệp nước ngoài.
* Ở Thái Lan, Chính phủ thành lập Công viên khoa học Thái Lan, thuê người
nước ngoài quản lý một số lĩnh vực quan trọng với mức lương cũng như những
chế độ ưu đãi đặc biệt. Thái Lan đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ thông
tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới và công nghệ nano. Năm 2004, Chính phủ
Thái Lan đã thông qua Chương trình quốc gia về công nghệ nano do Thủ tướng
Chính phủ trực tiếp chỉ đạo. Lộ trình phát triển các CNC được xây dựng trên cơ
sở dự báo về tiến bộ công nghệ và chiến lược quốc gia về phát triển KH-CN. Đối
với khu vực nông thôn, Thái Lan thực hiện chính sách tập trung phát triển CNC
cho khu vực cộng đồng, nông thôn với chương trình mỗi làng một sản phẩm đặc
thù.
3. Ứng dụng và phát triển CNC ở Việt Nam
Việt Nam hiện có 3 khu CNC quốc gia được quy hoạch và đầu tư phát triển
vào ngày 7/7/2000 thực hiện theo 3 định hướng lớn là: Tạo nguồn nhân lực; Môi
trường làm việc hoàn hảo - tiện ích và làm phần mềm ở tầm khu vực. Quy hoạch
công viên được Hoa Kỳ tài trợ thực hiện.
Khu nông nghiệp CNC với tổng diện tích 88,17ha, được thành lập năm 2004
tại Củ Chi, được quy hoạch 7 khu chức năng gồm: Khu Trung tâm hành chính;
Khu thí nghiệm và trưng bày sản phẩm; Khu nhà kính; Khu học tập và chuyển
giao công nghệ; Khu bảo quản và chế biến; Khu lâm sinh, cảnh quan và Khu sản
xuất kêu gọi đầu tư.
Ngoài ra thành phố đã quy hoạch 16.000ha trồng rau an toàn ứng dụng CNC,
sản lượng đạt khoảng 30.00 tấn/năm, đặc biệt là diện tích rau sản xuất trong nhà
lưới cho giá trị đạt 120-150 triệu đồng/ha; hơn 700ha trồng hoa - cây cảnh áp
dụng CNC cho thu nhập 600 triệu đến 1 tỷ đồng/năm.
Tại Đà Lạt - Lâm Đồng: Công ty Hasfarm tại Đà Lạt, Lâm Đồng đã ứng dụng
công nghệ của Hà Lan để trồng hoa hồng, cúc, đồng tiền, lily cho hiệu quả kinh
tế cao gấp 20-30 lần so với cách trồng thông thường. Mô hình trồng hoa trong
nhà lưới có mái che plastic đạt giá trị trên 600 triệu đồng/ha, trồng rau an toàn
đạt 150 triệu đồng/ha.
Tại Bình Thuận, Tiền Giang: Xây dựng một số vùng sản xuất cây ăn quả đảm
bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm theo tiêu chuẩn VietGAP, như: vùng sản xuất
thanh long tại Bình Thuận; vùng sản xuất vú sữa tại Châu Thành, Tiền Giang;
vùng sản xuất xoài cát Hoà Lộc tại Cái Bè, Tiền Giang.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu đã xây dựng nhiều mô hình sản xuất giống cây lâm
nghiệp, chăn nuôi lợn giống, lợn siêu nạc, chăn nuôi gà quy mô công nghiệp theo
công nghệ Nhật Bản.
Qua kinh nghiệm ứng dụng và phát triển CNC trên thế giới và thực tiễn phát
triển trong nước đã cho Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng những bài học
kinh nghiệm:
CNC luôn là át chủ bài của các cường quốc, là một trong những yếu tố quyết
định lợi thế cạnh tranh và vị thế của quốc gia - dân tộc. Ứng dụng và phát triển
CNC ở Việt Nam phải là lựa chọn chiến lược để đảm bảo lợi ích, chủ quyền quốc