5
NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ
NÔNG NGHIỆP Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
Lê Thị Kim Liên, Nguyễn Khắc Hoàn
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp là ngành sản xuất đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế Việt Nam. Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp đã đạt được
những thành tựu đáng khích lệ. Sản lượng lương thực tăng nhanh không chỉ đủ
ăn trong nước mà còn xuất khẩu. Sản phẩm các loại cây công nghiệp cũng tăng
lên đáng kể. Mặt hàng thủy sản, chăn nuôi các loại cũng đang chiếm tỷ trọng lớn
trong nông sản xuất khẩu của cả nước. Những thành tựu đó là kết quả nỗ lực của
ngành nông nghiệp mà trực tiếp là các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp
trên cả nước trong đó hợp tác xã nông nghiệp đóng một vai trò hết sức quan
trọng.
Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) là tổ chức kinh tế tập thể do nông dân tự
nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự hướng dẫn giúp đỡ của nhà nước,
hoạt động theo nguyên tắc tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất
kinh doanh, có tư cách pháp nhân, bình đẳng trước pháp luật, có trách nhiệm phát
huy tính ưu việt của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, hợp tác xã nông nghiệp đã và đang tồn tại
một cách khách quan trong nền nông nghiệp Việt Nam. Qua quá trình hình thành 6
và phát triển lâu dài với nhiều thăng trầm, hợp tác xã nông nghiệp vẫn tỏ ra là
hạ tầng nông thôn, góp phần cũng cố quan hệ kinh tế nông thôn.
Năng lực kinh doanh của HTX là điều kiện quan trọng tạo nên sức mạnh
của hợp tác xã, nó bao gồm các yếu tố về vốn đầu tư, lao động, phương tiện, máy
móc thiết bị, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý Năng lực kinh doanh của
hợp tác xã là tiền đề để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTX.
Nhìn chung một trong những khó khăn lớn hiện nay của các HTX là thiếu vốn,
thiếu cán bộ có năng lực, kinh nghiệm kinh doanh trong cơ chế thị trường. Việc
nghiên cứu khảo sát các yếu tố cấu thành năng lực kinh doanh của hợp tác xã từ
đó đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những khó khăn, bất cập về năng lực sản xuất
kinh doanh của các hợp tác xã hiện nay là việc làm cần thiết nhằm đề xuất những
giải pháp chính sách để nâng cao năng lực kinh doanh của các hợp tác xã nông
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Khảo sát đánh giá các HTXNN ở khu vực BắcTrung bộ gồm 5 tỉnh là
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng bình và Thừa Thiên Huế. Số liệu thứ cấp
dựa vào các niên giám thống kê, các báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển
nông thôn của các tỉnh Bắc Trung bộ, kết quả tổng điều tra nông thôn, nông
nghiệp và thủy sản cuả cả nước. Ngoài ra chúng tôi tiến hành điều tra phỏng vấn
một số chủ nhiệm hợp tác xã trên địa bàn các tỉnh để bổ sung mở rộng các thông
tin định lượng đã được khảo cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Các yếu tố cơ bản của sản xuất trong HTXNN 8
3.1.1. Lao động của các HTXNN
Lực lượng lao động là yếu tố năng động và có vai trò rất quan trọng trong
hoạt động kinh danh và dịch vụ của các HTX trong điều kiện chuyển đổi hiện
nay của các HTXNN. Lao động mà chúng tôi nghiên cứu ở đây là những lao
nay là chưa phát huy được những lợi thế, tiềm năng và sức mạnh của kinh tế tập
thể cũng như nỗ lực của HTX trong tổ chức nhiều các hoạt động kinh doanh và
dịch vụ cho các hộ gia đình xã viên. Mặt khác lao động chủ yếu vẫn tập trung
vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm nông sản với hai ngành chính là trồng trọt và
chăn nuôi. Lao động ở các ngành nghề khác như thủy sản và lâm nghiệp chỉ có ở
một số lượng lao động rất ít. Tình hình trên cũng phản ánh một thực trạng cơ cấu
sản xuất, kinh doanh của các HTX rất nghèo nàn, chủ yếu vẫn là sản xuất nông
nghiệp, trong đó các HTX vẫn lấy hoạt động dịch vụ các khâu cho các hộ gia
đình xã viên làm nông nghiệp là chủ yếu. Các loại ngành nghề kinh doanh hầu
như chưa được nhiều các HTX mạnh dạn đầu tư.
3.1.2.Các loại máy móc thiết bị chủ yếu:
Máy móc thiết bị là những tư liệu sản xuất hết sức quan trọng thể hiện
trình độ cơ giới hóa và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất nông nghiệp của các HTXNN. Qui mô và loại hình các loại máy móc thiết
bị phản ánh trình độ đầu tư, khả năng vốn liếng và khả năng điều hành hoạt động 10
sản xuất kinh doanh của bộ máy quan lý HTX. Máy móc thiết bị chính là yếu tố
có tính chất quyết định đến việc tăng năng suất lao động trong nông nghiệp. Các
loại máy móc thiết bị chủ yếu của các HTXNN được trình bày ở bảng 2.
11
Bảng 2: Các loại máy móc thiết bị chủ yếu
Đơn vị tính: cáí
Trong đó Địa
bàn
12
7. Máy phát điện 255 65 8 14 6 4 10
8. Bình phun thuốc
trừ sâu
745 173 27 132 6 6 0
9. Máy bơm nước 15.517
4.022 255 2.643 227 229 494
Nguồn: Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản
Trang thiết bị máy móc của các hợp tác xã nông nghiệp nhìn chung vẫn
còn nghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của sản xuất nông nghiệp. Đặc
biệt máy sử dụng cho các dịch vụ quan trọng của HTX như làm đất, cung cấp
điện, bơm nước, hiện nay vẫn còn rất hạn chế.
3.1.2. Vốn kinh doanh của các HTXNN:
Vốn là một yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả
hoạt động kinh doanh của các HTXNN. Thực trạng khảo sát cho thấy vốn trong
các HTX hiện nay đang là vấn đề bức xúc, thiếu vốn cho các hoạt động kinh
doanh đang là tình trạng phổ biến trong các HTX
Bảng 3. Tình hình vốn kinh doanh của các hợp tác xã
Đơn vị tính: triệu đồng
Trong đó 13
Địa
bàn
Chỉ tiêu
1. Phân theo đặc
điểm vốn
- Vốn cố định 426,0
420,2
456,2
432,8
449,9
412,8
439,4
- Vốn lưu động 215,8
253,9
246,4
256,4
384,5
346,4
364,5
377,9
357,2
300,4
Nguồn: Số liệu điều tra 2003
Đối với HTX cũ chuyển sang, giá trị tài sản được quy thành vốn cổ phần
mới cho xã viên. Giá trị của TSCĐ chiếm phần lớn trong tổng số tài sản (chiếm 14
66,38%), TSCĐ này đã gần hư hỏng hoặc kém hiệu quả. TSLĐ hiện nay rất hạn
chế tập trung chủ yếu vào nợ tồn đọng, khả năng thu hồi có nhiều khó khăn.
3.2. Năng lực quản lý của các hợp tác xã:
3.1.2.Chủ nhiệm HTXNN phân theo giới tính, trình độ văn hóa và
chuyên môn:
Bảng 4: Chủ nhiệm HTXNN phân theo giới tính, trình độ văn hóa và chuyên môn
Đơn vị tính: người
Trình độ văn hóa Trình độ chuyên môn
Địa bàn
Tổng
152 3 60 89 63 49 6
Nguồn: Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản
Hiện nay số nữ làm chủ nhiệm HTX còn rất ít chỉ chiếm 2,3% trong tổng số
chủ nhiệm HTX của cả nước, đặc biệt 3 tình Hà Tĩnh, Quảng Bình và Thừa
Thiên Huế không có chủ nhiệm HTX là nữ. Về trình độ văn hóa hầu hết các chủ
nhiệm đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở, cả nước chiếm 56,8% ở vùng Bắc Trung
bộ chiếm 64,7% . Về trình độ chuyên môn nhiều nhất là chủ nhiệm HTX đã tốt
nghiệp Cao đẳng hoặc Trung cấp, bên cạnh đó nhiều HTX đã có chủ nhiệm đã tốt
nghiệp Đại học, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn rất ít và đây cũng là một hạn chế
trong quá trình phát triển HTX.
3.1.2.Trưởng ban kiểm soát phân theo giới tính, trình độ văn hóa và
chuyên môn:
Bảng 5: Trưởng ban Kiểm soát phân theo giới tính, trình độ văn hóa và chuyên
môn
Đơn vị tính: người 16
Trình độ văn hóa Trình độ chuyên môn
Địa bàn
Tổng
số
Nữ
Cấp I
Cấp
II
Cấp
ít cán bộ mới học hết cấp một còn lại đã tốt nghiệp cấp hai và ba. Trình độ
chuyên môn tỷ lệ nhiều nhất là trình độ Sơ cấp, tuy đã có cán bộ có trình độ đại
học song còn quá ít.
3.2.1.Kế toán trưởng phân theo giới tính, trình độ văn hóa và chuyên
môn:
Kế toán trưởng là nữ có tỷ lệ cao hơn chủ nhiệm và trưởng ban kiểm soát.
Đa số kế toán trưởng đã tốt nghiệp cấp ba. Đại bộ phận các kế toán trưởng đã tốt
nghiệp Sơ cấp hoặc trung cấp. Số kế toán trưởng có trình độ Đại học trong cả
nước là 3,2%, trong khi đó vùng Bắc Trung bộ còn quá ít chỉ 1,4 % thậm chí ở
Quảng Bình và Thừa Thiên Huế không có kế toán trưởng nào có trình độ Đại
học.
Bảng 6: Kế toán trưởng phân theo giới tính, trình độ văn hóa và chuyên môn
Đơn vị tính: người
Trình độ văn hóa Trình độ chuyên mônĐịa bàn
Tổng
số
Nữ
Cấp I
Cấp
II
Cấp III
SC
CNKT
Thanh Hóa tăng thêm 131 HTXNN, Nghệ An 30 HTX và Thừa Thiên Huế 5
HTX.
Bảng 7: Số lượng HTX phân theo loại hình dịch vụ
Đơn vị tính: HTX 19
Địa bàn
Tổng
số
Làm
đất
Giống
cây
trồng
Thủy
nông
Bảo vệ
thực
vật
Tiêu
thụ sản
phẩm
Cung
ứng vật
tư
Cả nước 8.105 1.627 4.669 6.841 4.630 673 3.935
Bắc Trung bộ 1.638 290 1.270 1.518 1.305 114 1.023
1.Thanh Hóa 548 45 421 496 399 53 305
2.Nghệ An 381 8 321 348 321 22 278
5. Phân định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ giữa hợp tác xã và uỷ ban
nhân dân xã.
6. Nâng cao mức thù lao cho cán bộ quản lý hợp tác xã để họ thực sự
chuyên tâm với công việc tập thể, mặt khác cần nghiên cứu về thời gian một
nhiệm kỳ chủ nhiệm và số nhiệm kỳ tối đa có thể cho mỗi chức danh cán bộ theo
hướng tăng tính ổn định để đạt được mục tiêu lâu dài của hợp tác xã. 21
KẾT LUẬN
Trong những năm qua các HTXNN đã chuyển đổi phương hướng sản xuất
kinh doanh, tinh giản bộ máy quản lý phù hợp với yêu cầu hoạt động dịch vụ, và
ngày càng khẳng định vai trò vị trí của mình trong quá trình phát triển nông
nghiệp, nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường. Hầu hết các HTXNN kiểu
mới đã xác định hướng kinh doanh, không chỉ tập trung vào các dịch vụ có tính
chất công cộng mà còn chú trọng vào đa dạng hóa loại hình kinh doanh với giá
cả hợp lý. Hiệu quả kinh doanh của nhiều hợp tác xã đã có những biến đổi rõ rệt,
nhiều HTX đã làm ăn có lãi, bình quân lãi của một hợp tác xã là 29,75 triệu đồng
từ các hoạt động dịch vụ. Nhiều HTX không chỉ dịch vụ trong lĩnh vực nông
nghiệp mà sang cả phi nông nghiệp và các địa phương khác. Tuy vậy kinh tế
HTX vẫn còn nhiều điều bất cập như: nhiều HTX chuyển biến còn chậm, chưa
xây dựng được phương hướng kinh doanh có hiệu quả, qui mô kinh doanh của
HTX còn quá nhỏ, công nghệ lạc hậu, lao động ít, phổ biến là lao động phổ
thông, phương tiện sản xuất ít về số lượng, kém về chất lượng. Năng lực tài
chính của các HTXNN còn quá yếu và thiếu vốn cho hoạt động kinh doanh. Đội
ngũ cán bộ vừa thiếu lại vừa yếu về trình độ kinh doanh dịch vụ trong cơ chế thị
trường. Nguyên nhân do các ngành các địa phương chưa làm tốt công tác chuẩn
bị trước khi thành lập HTX mới hoặc chuyển đổi HTX theo luật. Nhà nước cần
có kế hoạch đầu tư hỗ trợ HTX đào tạo và đào tạo lại, bỗi dưỡng đội ngũ cán bộ
chủ chốt của HTX để có khả năng điều hành sản xuất, kinh doanh.
23
College of Economics, Hue University
SUMMARY
Agricultural cooperatives play a very important role in the development of
agricultural economy and rural areas. Since the introduction of the Law on
Cooperatives in 1996, many cooperatives have reorganized their management
machine, defined their business orientation, diversified their functions to meet
the requirement of service producing activities for farmers, and established their
legal status as a premise for their business. However, the business doing
capacity of the cooperatives in general is weak and inefficient and their
management skills is very critical. Increasing the business doing capacity of
agricultural cooperatives is a precondition for higher efficiency and stronger
competition in the market economy.