Tình hình phát triển công nghệ cao của một số nước trên thế giới - Pdf 23

1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG

NGHỆ CAO CỦA MỘT SỐ NƯỚC

TRÊN THẾ GIỚI

3
I. CÁC KHÁI NIỆM VỀ CÔNG NGHỆ CAO, CÔNG NGHỆP CÔNG NGHỆ
CAO, KHU CÔNG NGHỆ CAO VÀ PHÂN LOẠI CÁC LĨNH VỰC VÀ NGÀNH
CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
1. Công nghệ cao
Công nghệ cao (CNC) là những công nghệ cho phép sản xuất với năng suất cao và
sản phẩm có chất lượng cao, nghĩa là có thể mang lại nhiều giá trị gia tăng hơn từ cùng
một nguồn vốn và lao động. Bản thân công nghệ cao đã bao hàm “3 cao”: hiệu quả
cao, giá trị gia tăng cao và độ thâm nhập cao.
CNC còn có khả năng mở rộng phạm vi, hiệu quả của các loại hình công nghệ khác
nhờ tích hợp các thành tựu khoa học và công nghệ (KH&CN) tiên tiến. Mức độ CNC
có thể được đo bằng độ ngắn của chu kỳ sống sản phẩm. Hiện nay, đối với ngành công
nghiệp máy tính, chu kỳ sống của sản phẩm là dưới hai năm.
Sản phẩm CNC là sản phẩm được tạo ra nhờ CNC thông qua quá trình thiết kế hoặc
sản xuất sản phẩm.
CNC thường phải có các đặc điểm sau đây:
(i) Chứa đựng nỗ lực quan trọng về nghiên cứu-phát triển (NCPT);
(ii) Có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia;
(iii) Sản phẩm được đổi mới nhanh chóng;
(iv) Đầu tư lớn, độ rủi ro cao, nhưng khi thành công sẽ đem lại lợi nhuận khổng
lồ;
(v) Thúc đẩy năng lực cạnh tranh và hợp tác trong NCPT, sản xuất và tìm kiếm
thị trường trên quy mô toàn cầu.
Tiêu chí quan trọng nhất để xác định một CNC là hàm lượng NCPT cao (High R&D
Intensity) trong sản phẩm. Các đặc điểm và tiêu chí trên đây về CNC được chấp nhận
một cách rộng rãi, song việc xác định các ngành CNC lại phụ thuộc khá nhiều vào
quan niệm của từng quốc gia, từng nhóm quốc gia về ý nghĩa chiến lược của các ngành
cụ thể đối với mỗi nước trong từng thời kỳ xác định.
2. Công nghiệp công nghệ cao

3. Khu công nghệ cao
Sự hình thành và phát triển các khu công nghệ (Technology Park) là yếu tố rất quan
trọng và không thể thiếu để thúc đẩy nhanh sự ra đời các công nghệ mới. Từ khu công
nghệ đầu tiên và cũng rất tiêu biểu cho thế hệ khu công nghệ thứ 1 (thập niên 50 - 60
của thế kỷ XX) là Khu Thung Lũng Silicon (Mỹ) đến các khu CNC xuất hiện gần đây
trong bối cảnh toàn cầu hóa (Thế hệ thứ 3), đã có nhiều thuật ngữ khác nhau, như:
công viên khoa học, công viên công nghệ, trung tâm công nghệ, trung tâm đổi mới
công nghệ, công viên KH&CN, trung tâm CNC, song về bản chất đều có một số điểm
chung.
Thuật ngữ “Khu CNC” được dùng chỉ một trung tâm, một khu vực riêng biệt, thuộc
quyền quản lý và sở hữu của các công ty, trường đại học, viện nghiên cứu, của địa
phương, quốc gia hoặc của nhiều thành phần khác nhau. Hoạt động của các khu này
nhằm mục đích trao đổi, sáng tạo, phát triển, ươm tạo các công nghệ mới, thúc đẩy
hình thành nền công nghiệp CNC và góp phần quan trọng cho việc xây dựng năng lực
công nghệ của quốc gia.
Đối với các nước đang phát triển, có thể quan niệm một cách khái quát: Khu CNC
là nơi tiếp thu CNC của thế giới, là cửa ngõ nhập khẩu các CNC của các công ty
đa/xuyên quốc gia có CNC hàng đầu thế giới, là nơi làm việc có đủ điều kiện để sáng
tạo của các nhà khoa học quốc tế và trong nước. Nơi đây, trong giai đoạn đầu sẽ tiếp
thu chuyển giao công nghệ và sau đó là sáng tạo các CNC. Trong vai trò cửa khẩu trên
5
siêu xa lộ thông tin, với môi trường thuận lợi cho việc đầu tư CNC, quá trình chuyển
giao thực hiện tại chính khu vực sản xuất, hoặc NCPT, đào tạo, giúp cho việc tiếp thu
và sử dụng CNC có hiệu quả.
Khu CNC thường được quy hoạch giới hạn trong một vùng lãnh thổ có quy mô lớn
nhỏ khác nhau, nhưng phải là địa điểm có môi trường tốt nhất để:
- Đầu tư công nghiệp CNC;
- Sản xuất các sản phẩm CNC;
- Chuyển giao, thích nghi CNC;
- Dịch vụ-thương mại các sản phẩm CNC;

được thao tác ở cấp nanô sẽ có tiềm năng rất lớn do có các tính chất hoàn toàn khác
với những vật liệu chế tạo trước đó.
4. Công nghệ năng lượng mới bao gồm năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời,
năng lượng địa nhiệt, năng lượng hải dương v.v., trong đó đặc biệt là lợi dụng sự phát
triển của năng lượng hạt nhân và năng lượng mặt trời, nhằm thoát khỏi sự ràng buộc
vào loại năng lượng hóa thạch (dầu mỏ và than đá), mở ra một thời đại năng lượng
mới. Song, đến nay hầu hết các nước trên thế giới rất coi trọng công nghệ năng lượng
hạt nhân. Công nghệ này dựa trên vật lý học hạt nhân, năng lượng học, v.v.. Sản phẩm
chủ yếu là nhà máy nhiệt, nhà máy điện hạt nhân, các phương tiện giao thông vận tải
dùng năng lượng hạt nhân, các thiết bị y tế dùng năng lượng hạt nhân v.v..
5. Công nghệ hàng không vũ trụ dựa trên các thành tựu hiện đại của khoa học về Vũ
trụ, về vật lý địa cầu, vật lý khí quyển và vùng lân cận trái đất, vật lý thiên văn của Thái
dương hệ v.v.. Các sản phẩm điển hình: vệ tinh nhân tạo, tàu vũ trụ, tàu con thoi v.v..
Công nghệ hàng không vũ trụ tạo ra một loạt các sản phẩm, dịch vụ chưa từng có:
thông tin viễn thám, thông tin liên lạc toàn cầu, thông tin địa lý toàn cầu v.v...
6. Công nghệ hải dương bao gồm việc sử dụng, khai thác tài nguyên sinh vật,
khoáng vật, hoá học, động lực v.v.. trong lòng các đại dương.
5. Các ngành công nghiệp công nghệ cao
Công nghiệp công nghệ cao được đặc trưng bởi sự đổi mới liên tục các công nghệ, sản
phẩm. Doanh nghiệp công nghệ cao thường dành nhiều nguồn lực cho việc cải tiến, sáng
tạo công nghệ và sản phẩm. Tại các nước công nghiệp hoá, các ngành công nghệ cao là
những nguồn sáng tạo việc làm và thuê mướn nhân công có năng lực, được trả lương cao
hơn so với mức trung bình. Các ngành này có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn so với nền kinh tế
nói chung và chiếm một tỷ trọng ngày càng tăng trong thương mại nội địa và quốc tế, là
phần đóng góp chủ yếu cho xuất khẩu hàng công nghiệp ở hầu hết các nước. Ngoài ra, các
ngành này còn có hàm lượng vốn, NCPT cao và rất có hiệu quả trong việc sáng tạo ra tri
thức và công nghệ mới. Chúng hoạt động dựa trên một tốc độ phát triển NCPT rất nhanh,
thường xuyên tung ra thị trường các hàng hoá và dịch vụ mới.
Công nghiệp công nghệ cao còn được gọi là công nghiệp dựa trên khoa học và công
nghệ ở đó, khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sản phẩm có

Máy tính, máy văn phòng.
Điện tử - viễn thông.
Dược phẩm.
Công nghiệp công nghệ trung bình cao
Thiết bị khoa học.
Ô-tô.
Máy điện.
Hóa chất.
Các thiết bị vận tải khác.
Máy không dùng điện.
Công nghiệp công nghệ trung bình thấp
Sản phẩm cao su và chất dẻo.
Đóng tàu.
Các ngành chế tạo khác.
Luyện kim màu.
Sản phẩm khoáng phi kim loại.
Các sản phẩm kim loại chế tạo.
8
Lọc dầu.
Luyện kim đen.
Công nghiệp công nghệ thấp
In ấn, giấy.
Dệt, may.
Thực phẩm, đồ uống và thuốc lá.
Gỗ và đồ gỗ.
Các nhóm sản phẩm công nghệ cao:
Thiết bị hàng không vũ trụ.
Máy tính và thiết bị văn phòng.
Điện tử - viễn thông.
Dược phẩm.

khoa học và phát triển công nghệ, các phòng thí nghiệm, các tổ chức đào tạo, các xí
nghiệp công nghệ cao và các tổ chức dịch vụ nội bộ khu và các đối tượng nằm ngoài
khu. Khu công nghệ cao là trung tâm ươm tạo công nghệ, gắn KH&CN hiện đại với
sản xuất các sản phẩm công nghệ cao. Khu công nghệ cao định hướng hoạt động của
mình vào việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước để tiến hành các hoạt
động chuyển giao công nghệ, nghiên cứu nhằm phát triển các công nghệ cao, không
chỉ nhằm phục vụ mục đích xuất khẩu, mà chủ yếu nhằm tạo ra năng lực công nghệ
trong nước, biến đổi cơ cấu công nghiệp và dịch vụ trong nước. Do vậy, khu công
nghệ cao phải có một môi trường thuận lợi để sáng tạo ra công nghệ mới trong lĩnh
vực công nghệ mũi nhọn, luôn luôn được đổi mới bằng những thành tựu KH&CN tiên
tiến nhất.
2. Các loại hình khu công nghệ cao trên thế giới
Tuỳ thuộc trình độ KH&CN của vùng và do các mục tiêu khác nhau mà mô hình
khu CNC của một số nước trên thế giới cũng rất khác nhau và đa dạng.
Khu CNC có thể được phân loại theo mức độ hoạt động NCPT, hoặc theo mô hình.
2.1. Theo trình độ hoạt động nghiên cứu và phát triển (NCPT)
(i) Công viên khoa học truyền thống (Traditional Science Park)
- Tỷ trọng NCPT rất cao, chủ yếu thúc đẩy quá trình NCPT và thương mại hóa các
kết quả NCPT;
- Thường do các trường đại học thành lập hoặc liên kết - gắn chặt với các trường đại
học.
Thí dụ: Đại học Stanford (Mỹ), Đại học Cambridge (Anh).
(ii) Thành phố khoa học (Science City hoặc Technopolis)
- Kết hợp chặt chẽ hoạt động NCPT với sản xuất;
- Thường kết hợp tạo vùng công nghiệp mới;
Thí dụ: Khu Tsukuba (Nhật Bản), Sophia Antipolis (Pháp).
(iii) Công viên đổi mới công nghệ (Technology Innovation Park)
- Kết hợp sản xuất hàng hóa có trình độ CNC với phát triển NCPT;
- Chủ yếu dựa vào các doanh nghiệp lớn và thu hút đầu tư từ bên ngoài, có liên kết
với viện nghiên cứu, trường đại học.

Được thành lập năm 1951 tại Palo Alto (Tây Nam San Francisco, Mỹ), rộng gần
1.000 km
2
chủ yếu phát triển CNTT. Năm 2000 có 330.000 lao động kỹ thuật cao
(chiếm 73% tổng lực lượng lao động), có 6.000 tiến sĩ khoa học, hơn 8.000 doanh
nghiệp, có hơn 4.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực điện tử - tin học, doanh
thu xấp xỉ 200 tỷ USD/năm. Là nơi tập trung các công ty điện tử - tin học, được phát
triển xung quanh một trường đại học có hoạt động nghiên cứu cao cấp: Đại học
Stanford (Mỹ). Một trong những yếu tố thành công của Khu này là cơ cấu quản lý linh
hoạt, nhạy bén và con người ở đây trẻ, sẵn sàng chịu rủi ro và mạnh dạn đối với những
cách tiếp cận mới. Khu này có sự đóng góp nhân lực khá lớn (khoảng 10.000 người)
của người Việt Nam định cư ở Mỹ, nhưng chủ yếu là kỹ thuật viên và kỹ sư. Quá trình
hình thành và phát triển Silicon Valley được tóm tắt theo các giai đoạn như sau:
- Các hoạt động nghiên cứu sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ điện tử thế giới bắt
đầu tại trường Đại học Stanford. Công ty sản xuất thiết bị điện tử đầu tiên được thành
lập là Federal Telegraph Company of Palo Alto.
11
- Năm 1950, Khu CNC này được thành lập dựa trên hạt nhân là Khu công nghệ
Stanford với sự tham gia của nhiều công ty điện tử trong đó có HP. Trường Đại học
Stanford đóng vai trò lớn trong việc hình thành Khu CNC này.
- Những năm 1960, được sự hỗ trợ của các chương trình điện tử quốc phòng Mỹ,
các công ty mới tách ra từ các hãng ban đầu, sản xuất tới 95% sản lượng “chip” trên
thế giới.
- Thời kỳ 1970-1980, các hãng sản xuất vật liệu bán dẫn, cùng với sự ra đời máy
tính cá nhân, được thành lập và trở thành những công ty điều khiển cuộc cách mạng
CNC.
- Từ năm 1980, chuyển hướng sang các lĩnh vực sáng tạo siêu xa lộ thông tin. Ngoài
các công ty ở Mỹ, các công ty Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước cũng đã tham gia
các hoạt động đầu tư ở Khu này.
Khu này đặc trưng cho mô hình khu Công viên khoa học truyền thống, phát triển từ

Khu CNC này là một công ty cổ phần, liên kết giữa tư nhân và Nhà nước.
3.3. Thành phố khoa học Tsukuba (Tsukuba Science City), Nhật Bản
Thành phố khoa học Tsukuba của Nhật Bản là một dự án quốc gia được thực hiện
trên một khu vực rộng 28.560 ha. Nó được phát triển thành một thành phố khoa học có
quy hoạch cẩn thận bao gồm các khu nhà ở lân cận, các cơ sở giáo dục và thương mại,
các văn phòng, các viện thử nghiệm và nghiên cứu quốc gia. Ngoài ra, để có được sự
cân bằng, người ta còn phát triển khu vực ngoại vi thành phố. Thành phố khoa học
Tsukuba được thành lập từ năm 1970, nhằm thúc đẩy KH&CN và đào tạo, đồng thời
có mục đích tiếp nhận một phần dân cư từ Tokyo.
Đến năm 1980 Thành phố khoa học Tsukuba có 45 viện nghiên cứu và đào tạo
(chiếm 30% tổng số trung tâm của cả nước). Từ năm 1980, hợp tác giữa khu vực công
cộng và tư nhân bắt đầu phát triển, đến 4/1992, có 4 khu công nghiệp và 160 hãng tư
nhân tham gia, thu hút hơn 10.000 cán bộ nghiên cứu.
Thành phố khoa học này được chia thành 2 vùng, một vùng nghiên cứu hàn lâm và
một vùng phát triển ngoại vi. Vùng nghiên cứu hàn lâm (với diện tích 2.700 ha) có 47
cơ quan thử nghiệm, nghiên cứu quốc gia và các cơ sở có tính chất hàn lâm, như các
trường đại học, cùng các phương tiện thương mại và kinh doanh, kể cả các khách sạn,
tòa nhà trung tâm với phòng đợi công cộng, các cửa hàng trung tâm, một bến xe buýt,
khu nhà ở. Ngoài ra có một số ít trung tâm giải trí, nghỉ ngơi khác. Đây là một thiếu
sót trong quy hoạch vì những người sống ở đây ít được thư giãn và tham gia các hoạt
động xã hội. Vùng ngoại vi là vùng công nghiệp, nghiên cứu và nhà ở với 115 công ty
và 9 tổ chức được chia thành 6 khu với diện tích 25.860 ha. Từ năm 2001, đã hình
thành một cơ chế tự quản của Trung tâm quốc gia về CNC trong Khu, có mối quan hệ
chặt chẽ (nhưng không trực thuộc) với Bộ Kinh tế và Công thương Nhật Bản và có
mạng lưới liên kết với các trung tâm khoa học và các trường đại học trong cả nước.
3.4. Khu CNC Tân Trúc (Hsinchu, Đài Loan)
Khu CNC Tân túc được thành lập năm 1980, nằm trong khu vực rộng 2.100 ha cách
Đài Bắc 80 km do Uỷ ban Khoa học Đài Loan chuẩn bị và tổ chức triển khai. Diện tích
xây dựng của Khu là 650 ha, phát triển theo 3 giai đoạn: Giai đoạn I: 270 ha; giai đoạn
2: mở rộng thêm 110 ha, và giai đoạn 3: phát triển thêm 170 ha. Đến nay, Khu CNC

hàng hóa có trình độ CNC được phối hợp với sự phát triển các hoạt động NCPT. Đây
là một kiểu đặc trưng cho mô hình Công viên đổi mới công nghệ.
3.5. Khu công nghệ cao Kulim - Malaixia
Đây là khu CNC đầu tiên của Malaixia được hình thành với sự tư vẤn nghiên cứu
khả thi, quy hoạch của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) từ sáng kiến của
Thủ tướng Malaixia Mohathir Mohamad. Khu được thành lập từ năm 1992 và chính
thức hoạt động từ năm 1993 với các chức năng ban đầu là thu hút FDI về công nghiệp
CNC, NCPT CNC và hướng đến hình thành một đô thị khoa học với đầy đủ các tiện
nghi, ưu đãi cho các nhà khoa học và công nghệ, các công ty sản xuất trên cơ sở CNC.
Diện tích Khu hiện đã lên đến 1.450 ha. Khu Kulim (Kulim Hi-Tech Park - KHTP) do
Công ty Kulim Technology Park Corporation Sdn Bhd trực thuộc Nhà nước điều hành
(sở hữu chính là Công ty Kedah State Development). Hiện Khu Kulim đang tập trung
thu hút các tập đoàn sản xuất công nghiệp CNC, xây dựng nâng cấp thêm cơ sở hạ
tầng, đào tạo nhân lực và ươm tạo doanh nghiệp vừa và nhỏ CNC. Vào năm 2002, Khu
đã đạt tiêu chuẩn ISO 9002. Trong Khu công nghiệp CNC của Kulim đã có mặt các
công ty, tập đoàn đầu tư hàng đầu thế giới như: Intel, Advanced Disk, Entergis, BCM,
NUR, Toyo, Fuji, Hamadatec, NSC…
14
3.6. Khu Trung Quan Thôn (Zhong guan cun) Trung Quốc
Khu Trung Quan Thôn là một khu CNC thuộc dạng tạo vùng đô thị khoa học và
công nghệ rất lớn của thành phố Bắc Kinh, bao gồm 5 vùng khoa học công nghệ và
sản xuất CNC: Haidan, Fengtai, Changping, vùng Điện tử, Yizhuang (mỗi vùng tương
đương với một quận nội thành). Khu Trung Quan Thôn có 39 Viện, Trường từ Đại học
Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa. Trong Khu còn có hoạt động của 213 Viện nghiên
cứu của Viện Khoa học Trung Quốc. Hiện nay Khu Trung Quan Thôn đã thu hút được
khoảng 1.500 trung tâm NCPT và các công ty sản xuất CNC, trong đó có các công ty
nổi tiếng như IBM, Microsoft, Mitsubishi…
Khu Trung Quan Thôn được điều hành bởi Ban Quản lý đứng đầu là Thị trưởng
thành phố Bắc Kinh. Vào đầu năm 2001, Khu Trung Quan Thôn đã cho công bố chính
sách ưu đãi, được coi là tiến bộ nhất ở Trung Quốc, với các mô hình tổ chức hoạt động

TAI là một chỉ số tổng hợp được đưa ra để nhằm giúp các nhà hoạch định chính
sách xác định các chiến lược công nghệ trong một kỷ nguyên nối mạng hiện nay. Chỉ
số này cho phép các nước nhận thức rõ được vị trí tương đối của mình như thế nào so
với các nước khác và định hướng cho các nhà hoạch định chính sách có một cái nhìn
mới về thành tựu công nghệ của nước mình để hoạch định cho tương lai.
TAI tập trung vào 4 khía cạnh phản ánh năng lực công nghệ của một nước, đóng vai
trò quan trọng trong việc gặt hái được những lợi ích trong kỷ nguyên nối mạng, cụ thể
như sau:
1) Sáng tạo công nghệ. Không phải tất cả các nước đều có vị trí dẫn đầu trong sự
nghiệp phát triển công nghệ toàn cầu, nhưng năng lực đổi mới liên quan đến tất cả các
nước và cấu thành ở mức cao nhất năng lực công nghệ. Nền kinh tế toàn cầu đã mang
lại những phần thưởng lớn cho các nước đi đầu và nước tạo ra đổi mới công nghệ. Tất
cả các nước đều cần phải có năng lực đổi mới, bởi vì khả năng đổi mới trong sử dụng
công nghệ không thể phát triển đầy đủ được nếu không có khả năng sáng tạo, đặc biệt
là trong việc làm thích nghi các sản phẩm và quy trình mới với các điều kiện địa
phương.
2) Phổ biến công nghệ hiện đại. Tất cả các nước đều phải áp dụng công nghệ hiện
đại để nắm bắt được những ích lợi từ các cơ hội trong kỷ nguyên nối mạng. Điều này
được đánh giá bằng sự phổ biến của mạng Internet và bằng tỷ trọng xuất khẩu các sản
phẩm công nghệ cao và trung trong tổng sản lượng xuất khẩu.
3) Phổ biến công nghệ cũ. Việc tham gia vào kỷ nguyên nối mạng cần có sự truyền
bá nhiều đổi mới đã thực hiện trước đây. Mặc dù đôi khi có thể tạo được bước nhảy
vọt, nhưng sự tiến bộ công nghệ là một quá trình tích luỹ và sự truyền bá các công
nghệ cũ rất là cần thiết cho việc áp dụng các công nghệ hiện đại. ở đây sử dụng hai chỉ
số đặc biệt quan trọng, đó là điện và điện thoại. Đây là hai yếu tố cần để sử dụng các
công nghệ mới hơn và cũng là đầu vào liên quan đến đa số các hoạt động của con
người.
4) Kỹ năng con người. Một tập hợp tới hạn các kỹ năng không thể thiếu đối với tính
năng động công nghệ. Cả hai phía - người sáng tạo và người sử dụng công nghệ đều
cần có kỹ năng. Các công nghệ ngày nay đòi hỏi khả năng thích nghi, tức là các kỹ

1 Phần Lan 0,744 10 Singapo 0,585
2 Mỹ 0,733 11 Đức 0,583
3 Thuỵ Điển 0,703 12 Nauy 0,579
4 Nhật Bản 0,698 13 Ailen 0,566
5 Hàn Quốc 0,666 14 Bỉ 0,553
6 Hà Lan 0,630 15 Niu Zilân 0,548
7 Anh 0,606 16 Áo 0,544
8 Canada 0,589 17 Pháp 0,535
9 Ôxtrâylia 0,587 18 Israel 0,514
Các nước có tiềm năng dẫn đầu
19 Tây Ban Nha 0,481 29 Ba Lan 0,407
20 Italia 0,471 30 Malaixia 0,396
21 Cộng hoà Séc 0,465 31 Croatia 0,391
22 Hungary 0,464 32 Mêhicô 0,389
17
23 Cộng hoà Slovenia 0,458 33 Síp 0,386
24 Hồng Kông 0,455 34 Achentina 0,381
25 Hy Lạp 0,437 35 Rumania 0,371
26 Bồ Đào Nha 0,419 36 Costa Rica 0,358
28 Bungaria 0,411 37 Chilê 0,357
Các nước thích nghi năng động
38 Uruguay 0,343 51 Tuynidi 0,255
39 Nam Phi 0,340 52 Pagaguay 0,254
40 Thái Lan 0,337 53 Ecuađor 0,253
41 Trinidad và Tobago 0,328 54 El Salvador 0,253
42 Panama 0,321 55 Cộng hoà Dominican 0,244
43 Braxin 0,311 56 Syri 0,240
44 Philipin 0,300 57 Egypt 0,236
45 Trung Quốc 0,299 58 Algeria 0,221
46 Bolivia 0,277 59 Zimbabwe 0,220

Xuất/
Nhập
Xuất Nhập
Xuất/
Nhập
Xuất Nhập
Xuất/
Nhập
€ bn € bn € bn € bn € bn € bn
Phần Lan 9.7 5.7 1.71 9.3 5.3 1.74 8.5 5.6 1.51
Thuỵ Điển 11.6 9.9 1.16 12.1 10.1 1.19 14.0 11.5 1.21
Đan Mạch 8.8 8.9 0.99 7.7 6.6 1.16 . . .
Đức 98.9 89.1 1.11 92.9 84.2 1.10 107.7 94.6 1.14
Áo 10.7 10.4 1.03 10.2 10.9 0.93 11.9 12.3 0.96
Hà Lan 36.0 33.7 1.07 44.1 41.5 1.06 . . .
Bỉ 16.0 17.4 0.92 15.8 17.3 0.91 16.2 17.5 0.92
Luxembour
g
1.1 2.0 0.57 0.9 1.3 0.68 0.8 1.5 0.56
Pháp 56.7 48.3 1.17 50.7 43.7 1.16 53.4 47.8 1.12
Anh 76.9 72.6 1.06 58.2 64.7 0.90 . . .
Ai Len 33.6 21.0 1.60 24.6 14.2 1.73 24.5 14.7 1.66
Tây Ban
Nha
7.6 16.5 0.46 8.1 17.7 0.46 . . .
Bồ Đào Nha 1.7 4.3 0.40 2.1 4.6 0.45 2.1 4.9 0.43
Italia 21.9 30.5 0.72 19.0 28.9 0.66 19.8 31.1 0.64
Hy Lạp 0.8 2.8 0.27 0.9 3.8 0.23 0.9 4.6 0.19
EU-15 392.1 373.2 1.05 356.4 355.0 1.00 . . .


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status