Tài liệu Đề Tài: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU - Pdf 10



Luận văn Đề Tài:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU

Tài Liệu
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG

Theo qui định về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh XNK thì
hoạt độnh kinh doanh XNK phải nhằm phục vụ nền kinh tế trong nước phát triển
trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh sẵn có về
lao động, đất đai và các tài nguyên khác của nền kinh tế, giải quyết công ăn việc
làm cho nhân dân lao động, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và qui trình công
nghệ sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đất nước, đáp ứng các
yêu cầu cơ bản và cấp bách về sản xuất và đời sống, đồng thời góp phần hướng
dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều hoà cung cầu để ổn định thị truờng trong nước.
XNK là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó không
phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán
phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy
sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước
nâng cao mức sống của nhân dân. XNK là hoạt động dễ đem lại hiệu quả đột
biến nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế
khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia XNK không dễ dàng
khống chế được.
XNK là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài nhằm phát triển sản xuất
kinh doanh đời sống. Song mua bán ở đây có những nét riêng phức tạp hơn trong
nước như giao dịch với người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn khó
kiểm soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn,đồng tiền thanh toán bằng
ngoại tệ mạnh, hàng hoá vận chuyển qua biên giới cửa khẩu, cửa khẩu các quốc
gia khác nhau phải tuân theo các tập quán quốc tế cũng như địa phương. Hoạt động XNK được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu từ
điều tra thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá XNK, thương nhân giao dịch,
các bước tiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng tổ chức thực hiện hợp
đồng cho đến khi hàng hoá chuyển đến cảng chuyển giao quyền sở hữu cho
người mua, hoàn thành các thanh toán. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này phải được
nghiên cứu đầy đủ,kỹ lưỡng đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau,tranh thủ nắm

- Nhập khẩu thúc đẩy nhanh quá trình sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất
nước
- Bổ xung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế , đảm bảo một sự
phát triển cân đối ổn định.khai thác đến mức tối đa tiềm năng và khả năng của
nền kinh tế vào vòng quay kinh tế.
- Nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất tạo việc làm ổn định cho người
lao động góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu góp phần nâng cao chất
lượng sản xuất hàng xuất khẩu ,tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá
ra thị trường quốc tế đặc biệt là nước nhập khẩu.
Có thể thấy rằng vai trò của nhập khẩu là hết sức quan trọng đặc biệt là đối
với các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) trong việc cải thiện đời sống
kinh tế,thay đổi một số lĩnh vực ,nhờ có nhập khẩu mà tiếp thu được những kinh
nghiệm quản lí ,công nghệ hiện đại …thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng.
Tuy nhiên, nhập khẩu phải vừa đảm bảo phù hợp với lợi ích của xã hội vừa
tạo ra lợi nhuận các doanh nghiệp ,chung và riêng phải hoà với nhau. Để đạt
được điều đó thì nhập khẩu phải đạt được yêu cầu sau:
* Tiết kiệm và hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn nhập khẩu :trong đIều
kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường việc kinh doanh mua bán giữa các nước đều tính theo thời giá quốc tế và thanh toán với nhau bằng ngoại tệ tự do . Do
vậy,tấtcả các hợp đồng nhập khẩu phải dựa trên vấn đề lợi ích và hiệu quả là vấn
đề rất cơ bản của quốc gia , cũng như mỗi doanh nghiệp đòi hỏi các cơ quan
quản lí cũng như mỗi doanh nghiệp phải :
+ Xác định mặt hàng nhập khẩu phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội ,khoa học kĩ thuật của đất nước và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân .
+ Giành ngoại tệ cho nhập khẩu vật tư để phụ sản xuất trong nước xét thấy
có lợi hơn nhập khẩu .

Công nghiệp hoá đất nước đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy
móc, thiết bị, kỹ thuật, vật tư và công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
. Liên doanh đầu tư với nước ngoài
. Vay nợ, viện trợ, tài trợ.
. Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ
. Xuất khẩu sức lao động
Trong các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ…cũng
phải trả bằng cách này hay cách khác. Để nhập khẩu, nguồn vốn quan trọng nhất
là từ xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định qui mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát triển
thuận lợi
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào
cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới thường
xuyên năng lực sản xuất trong nước. Nói cách khác, xuất khẩu là cơ sở tạo thêm
vốn và kỹ thuật, công nghệ tiên tiến thế giới từ bên ngoài + Thông qua xuất khẩu, hàng hoá sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị
trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức
lại sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường.
+ Xuất khẩu cồn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành.
- Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân.
Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra
nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống của
nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại

Đơn vị : Triệu USD

Năm
T
ổng
KNXNK

KNXK

KNNK
1993 6.876,0

2.952,0

3.924,0

1994 9.880,1

4.054,0

5.825,8

1995 13.604,3

5.448,9

8.155,4

1996 18.399,5


15.027,0

16.162,0

2002 34.300,0

16.100,0

18.200,0

2003(DK) 36.600,0

17.300,0

19.300,0

Nguồn: Niên giám thống kê Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy rằng, kinh ngạch XNK của ta tăng liên
tục. Từ 6876 triệu USD năm 19993 lên 30.119,2 triệu USD năm 2000, tức là sau
7 năm kim nghạch XNK của ta đã tăng lên 2.243,2 triệu USD và 2 năm sau đó
vẫn liên tục tăng. Sự chuyển đổi nền kinh tế đã thúc đẩy ngoại thương Việt Nam
phát triển mạnh mẽ cả về nhập khẩu và xuất khẩu đồng thời tốc độ tăng trưởng
về ngoại thương nhanh qua các năm và tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng của sản
xuất. Tốc độ tăng trưởng bình quân qua các năm 1993 – 1996 là 38,64%, giai
đoạn 1996 – 1999 là 8,3% và năm 2000 là 29%. Có thể thấy rằng, trong các năm
1996 – 1999 tốc độ tăng trưởng giảm sút là do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
khu vực, nhưng bước sang năm 2000 tốc độ tăng trưởng trở lại bình thường đạt
mức

(triệu
$)
TT
(%)
Về xuất khẩu 11.541,4 100 14.482,7 100 15.027,0 100 16.100 100 17.300 100
1.HàngCNN và
KS .

3.609,5 31,3

5.382,1

37,2

4.600

30,6

4.750

29,5

4.800

27,7
2.Hàng CN
nhẹ.


33,5

5.000

31,1

5.300

30,6

Về nhập khẩu

11.742,1

100

15.636,5

100

16.162
1
100

18.200

100

19.300


10.612

65,7

11.950

65,7

12.600

65,3
3. Hàng tiêu
dùng.

991,7 8,5

986,3

6,2

850
6
6.3

850

4,6

900

Phát triển thị trường XNK theo quan điểm Marketing hiện đại có nghĩa là
không những mở rộng thêm những thị phần mới mà còn phải tăng thị phần của
sản phẩm đó trong các thị phần đã có sẵn. Gần một thập kỷ qua thị trường XNK
của Việt Nam đã có sự thay đổi sâu sắc. Nừu như trước đây chủ yếu buon bán
với Liên Xô và Đông Âu, chiếm khoảng 80% kinh ngạch XNK thì hiện nay
hàng hoávà dịch vụ của Việt Nam đã có mặt trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới. Việc chuyển hướng kịp thời đã tạo điều kiện để mở rộng qui mô
XNK lựa chọn bạn hàng phù hợp và gíup cho nền kinh tế tăng trưởng một cách
liên tục mặc dù có những biến động lớn ở Liên Xô và Đông Âu.
+ Cá nước Châu Á: Là thị trường buôn bán chủ yếu của Việt Nam, chiếm
63,65% tổng kim ngạch xuất khâu và 74- 75% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả
nước thập kỷ qua, trong đó các nước lân cận chiếm 45%, đặc biệt là Nhật Bản,
ASEAN, và Trung Quốc là những bạn hàng lớn của Việt Nam. Thei Bộ ngoại
giao thì các nước APEC tiêu thụ từ Việt Nam toàn bộdầu thô xuất khẩu, gần
70% gạo, 90% hạt điều, 90- 94% cao su, 80% hạt tiêu, 85% lạc nhân, 65% thuỷ
sản, 60- 70% cà phê, 60% dệt may, 55- 60% dầy dép, 95- 96% thiếc thỏi, gần
70% than đá. Về nhập khẩu, đại bộ phận hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam từ
thị trường này với kim ngạch từ 75- 77%. Nhìn chung, thị trường Châu á tương
đối ổn định và đầy triển vọng cho hàng hoá của ta vào thị trường này. + Thị trường Nhật Bản: Là thị trường chiếm 16% tổng kim ngạch xuất
khẩu, dự kiến kim ngạch xuất khẩu của ta vào Nhật Bản từ 21- 25% mỗi năm
trong thời gian tới. Các mặt hàng Việt Nam xuất sang Nhật Bản bao gồm nông
sản, thuỷ hải sản, may mặc… Bên cạnh đó còn có một số hàng công nghiệp như
máy móc thiết bị. Tuy nhiên, thị trường Nhật Bản có những nét đặc thù, hệ thống
quản lý chất lượng hàng nhập khẩu rất chặt chẽ, cách thức phân phối hàng theo
kênh riêng…vì thế khi xuất khẩu sang thị trường này cần tìm hiểu rõ để tránh rủi
ro.
+ Thị trường EU: Phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu, được xây dựng trên

chưa khuyến khích xuất khẩu, thủ tục còn nhiều rườm rà, bất cập, thông tin về
thị trường còn thiếu, không kịp thờivà chính xác.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động XNK.
Thị trường quốc tế chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau thường
là đa dạng và phong phú hơn nhiều so với thị trường nội địa. Chính vì vậy hoạt
động kinh doanh XNK cũng phải chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố mà các
nhân tố này có thể mang tính vĩ mô hoặc mang tính vi mô. Cụ thể hoạt động kinh
doanh XNK chịu ảnh hưởng của những nhân tố sau:
4.1 Nhân tố mang tính toàn cầu.
Đó là nhân tố thuộc về hệ thống thương mại quốc tế. Mặc dù xu hướng
chung trên thế giói là tự do mậu dịch và các nỗ lực chung để giảm bớt hàng rào
ngăn cản đối với kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh XNK luôn phải đối
diện với các hạn chế thương mại khác nhau. Phổ biến nhất là thuế quan, một loại
thyế do chính phủ nước ngoài đánh vào những sản phẩm nhập khẩu. Thuế quan
có thể được qui định để làm tăng thu nhập cho quốc gia hay để bảo hộ cho các
doanh nghiệp trong nước. Nhà xuất khẩu cũng có thể đối diện với một hạn ngạch ( quota ) là việc đề ra những giới hạn về số lượng những hàng hoá mà nước nhập
khẩu phải chấp nhận đối với những loại sản phẩm nào đó. Mục tiêu của hạn
ngạch là để bảo lưu ngoại hối và bảo vệ công nghệ cũng như công ăn việc làm
trong nước . Một sự cấm vận là hình thức cao nhất của hạn ngạch , trong đó việc
nhập khẩu các loại sản phẩm trong danh sách cấm vận bị cấm hoàn toàn.
Kinh doanh XNK cũng có thể bị hạn chế do việc kiểm soát ngoại hối là việc
điều tiết lượng ngoại tệ hiện có và tỷ giá hối đoái so với đồng tiền khác. Các nhà
kinh doanh XNK cũng có thể phải đối diện với một loạt các hàng rào phi thuế
quan như giấy phép nhập khẩu, những sự quản lý, điều tiết định hình như phân
biệt đối xử với các nhà đấu thầu nước ngoài, các tiêu chuẩn sản phẩm mang tính
phân biệt đối xử với hàng nước ngoài.
4.2 Chế độ chính sách luật pháp của Nhà nuớc và quốc tế.

vận chuyển hàng hoá từ nước này sang nước khác là công việc nặng nề tốn
nhiều chi phí của hoạt động XNK. Do đó, nếu hệ thống giao thông vận tải và
thông tin liên lạc của một nước thuận tiện sẽ giúp cho việc thực hiện hoạt động
XNK được tiến hành dễ dàng, nhanh chóng và ngược lại.
4.4 Hệ thống tài chính ngân hàng:
Hiện nay hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can
thiệp tới tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế dù lớn hay nhỏ, dù ở bất kỳ
thành phần kinh tế nào. Hoạt động xuất nhập khẩu sẽ không thể thực hiện được
nếu không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Dựa trên các quan hệ, uy tín
, nghiệp vụ thanh toán liên ngân hàng rất thuận lợi mà các doanh nghiệp tham
gia hoạt đông XNK sẽ được đảm bảo về mặt lợi ích.
4.5 Khả năng sản xuất, chế biến của nền kinh tế trong nước.
Kinh doanh thương mại nói chung và kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng
là mua bán hàng hoá chứ không phải để tiêu dùng cho chính mình . Các doanh nghiệp XNK hoạt động trên thị trường đầu vào nhằm chuẩn bị đầy đủ các yếu tố
đầu vào trong đó quan trọng nhất là hàng hoá. Nguồn hàng của doanh nghiệp
XNK là toàn bộ và cơ cấu hàng hoá thích hợp với nhu cầu của khách hàng đã và
đang có khả năng huy động trong kỳ kế hoạch
4.6 Doanh nghiệp và sức cạnh tranh trên thị trường
Doanh nghiệp không thể XNK được hàng hoá nếu doanh nghiệp không có
khả năng thu mua, chế biến và tiếp cận được với khách hàng nước . Doanh
nghiệp phải biết tận dụng thế mạnh để có một chỗ đứng vững chắc trên thị
trường.
II. CÁC HÌNH THỨC XNK.
Các nghiệp vụ xuất nhập khẩu hàng hoá là hoạt động thương mại liên quan
đến mua và bán hàng hoá với thị trường nước ngoài bao gồm cả tái xuất khẩu
(Reexport) và tái nhập khẩu (Reimport )
1. Tái xuất khẩu :

trường, biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng do đó có thể
thay đổi sảm phẩm và các điều kiện bán hàng rong điều kiện cần thiết
4. Xuất khẩu và nhập khẩu gián tiếp.
Là hình thức khi doanh nghiệp thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt ngay
tại nước xuất khẩu nhập khẩu để tiến hành XNK.
Hình thức xuất khẩu gián tiếp khá phổ biến ở những doanh nghiệp mới
tham gia vào thị trường quốc tế .
Hình thức này có ưu điểm cơ bản là:
- Ít phải đầu tư.
- Doanh nghiệp khong phải triển khai một lực lượng bán hàng ở nước ngoài
cũng như các hoạt động giao tiếp và khuyếch trương ở nước ngoài. - Hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra ở thị trường nước ngoài.
Tuy nhiên, hình thức này cũng có hạn chế là giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
do phải chia sẻ với các tổ chức tiêu thụ và do không có liên hệ trực tiếp với thị trường
nước ngoài nên việc nắm bắt các thông tin về thị trường nước ngoài bị hạn chế,
không thích ứng nhanh được với các biến động của thị trường.
5. Tạm nhập, tái xuất.
Như đưa hàng đi triển lãm, đưa đi sửa chữa rồi lại mang về
6. Tạm xuất, tái nhập.
Như đưa hàng vào dự triển lãm, hội chợ, quảng cáo sau đó đưa về
7. Chuyển khẩu.
Là hàng mua của nước này bán cho nước khác, không làm thủ tục XNK.
Như vậy, trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà chỉ thực
hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho, lưu bãi, bảo quản…Bởi vậy mức
độ rủi ro trong hoạt động nói chung là thấp và lợi nhuận cũng không cao.
8.Dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu.
Như gửi đại lý hay thuê người sửa chữa
9. Xuất khẩu tại chỗ.

quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nước ngoài tiềm năng
của doanh nghiệp đó.
1.2 Vai trò của thị trường đối với hoạt động XNK.
Thị trường là môi trường hoạt động của mọi doanh nghiệp. Để thuận lợi cho
các hoạt động kinh doanh thì tự bản thân doanh nghiệp phải biết củng cố và phát
triển cho môi trường hoạt động của mình, bao gồm cả thị trường đầu vào và thị
trường đầu ra. Hoà theo xu thế quốc tế hoá, ngày nay nhiều doanh nghiệp mở
rộng việc đưa sản phẩm ra tiêu thụ ở thị trường nước ngoài bằng cách xuất khẩu, dây là cách dễ thực hiện và thường được sử dụng cả đối với những doanh nghiệp
mới tham ra vào thị trường quốc tế cũng như những doanh nghiệp đã có những
kinh nghiệm. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, thị trường ngày càng
trở nên mang tính toàn cầu. Chính vì vậy, thị trường có vai trò rất lớn đối với
hoạt động XNK
+ Thị trường là nơi tiêu thụ hàng hoá XNK : mọi hàng hoá sẽ được đem ra
trao đổi mua bán trên thị truờng, đáp ứng nhu cầu cân bằng giữa cung và cầu.
+ Thị trường là sự tồn tại của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp hay Công ty
nào tham gia vào hoạt động kinh doanh XNK đều coi trọng thị trường vì nó là
khâu then chốt quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
+ Thị trường là nơi cung cấp thông tin cho người sản xuất, người tiêu dùng
và cả người kinh doanh thương mại. Thị trường chỉ rõ nhữmg biến động về nhu
cầu xã hội, số lượng giá cả, cơ cấu và xu hướng thay đổi của nhu cầu các loại
hàng hoá dịch vụ. Đó là những thông tin cực kỳ quan trọng đối với người sản
xuất hàng hoá, giúp họ điều chỉnh sản xuất cho quan hệ cung cầu, thay đổi qui
cách mẫu mã cho phù hợp nhu cầu, thị hiếu, sản xuất hàng hoá theo mốt mà
người tiêu dùng đòi hỏi…
Sự hình thành, phát triển của thị trường gắn liền với sự hình thành, phát triển
của sản xuất, lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ.Thị trường có vai trò to lớn
thúc đẩy sự phát triển, mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá.

Việc phân biệt chiến lược tập trung và chiến lược phân tán thì số lượng các
thị trường chỉ có ý nghĩa tương đối bởi lẽ khả năng kinh doanh của một doanh
nghiệp sẽ thay đổi tuỳ theo tiềm lực và khả năng của doanh nghiệp đó, sự khác
biệt giữa các thị trường xuất khẩu, qui mô của chủng loại sản phẩm và các nỗ lực
thị trường mà doanh nghiệp phải bỏ ra cho các thị trường khác nhau. Bản thân khái niệm thị trường cũng không nhất thiết gắn với ranh giới quốc
gia. Một thị trường bao gồm nhiều quốc gia hoặc ngược lại có quốc gia lại phải
được xem xétlà nhiều thị trươngf tuỳ thuộc vào mức độ khác nhau về kinh tế, xã
hội, văn hoá và tập quán tiêu dùng nhiều hay ít. Do đó đẻ đánh giá được mức độ
tập trung hay phân tán của chiến lược lựa chọn thị trường thì thay cho chỉ tiêu số
lượng thị trường có thể sử dụng chỉ tiêu phần ngân sách của doanh nghiệp được
phân phối cho các thị trường khác nhau.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường.
Có nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến quyết định về lựa chọn chiến
lược mở rộng thị trường của doanh nghiệp vì thế khó có thể lựa chọ dứt khoát
một trong hai chiến lược nói trên vì sự ảnh hưởng của các nhân tố theo những
hướng khác nhau dễ dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Tuy nhiên, nếu
doanh nghiệp có được những phân tích cơ sơ để đánh giá hững cơ hội mở rộng
thị trường thì chúng ta sẽ tạo ra được một bức tranh toàn cảnh giúp doanh nghiệp
thấy rõ hiện trạng kinh doanh của doanh nghiệp thích hợp với chiến lược tập trung
hay phân tán.
Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược mở rộng thị trường XNK
sau.
3.1 Nhân tố sản phẩm.
Bản chất của sản phẩm (dung lượng, tíh thường xuyên và tính đa dạng),
mức độ chuyên môn hoá, tiêu chuẩn hoá sản phẩm, nội dung hàng hoá tính mua
đi bán lại và vòng đời sản phẩm là những nhân tố ảnh hưởng đến việc luựa chọn
chiến lựoc mở rộng thị trường. Các đặc tính dung lượng cao, tần số xuất hiện

doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế. Trong trường hợp không có sự khác biệt cơ bản trong điều kiện thị trường
thì chiến lược phân tán lại hấp dẫn hơn. Điều đó cũng có thể xảy ra khi có nhiều
cản trở trong việc thâm nhập thị trường và nếu sự tín nhiệm của khách hàng ở thị
trường đó với doanh nghiệp không cao.
3.3 Nhân tố chi phí Marketing.
Chi phí Marketing và bản chất của những chi phí đó có thể là những nhân tố
quan trọng nhất cho việc lựa chọn thị trường. Chi pí Marketing là kết quả của
bản chất sản phẩm và tính chất thị trưòng nói chung phụ thuộc vào hình thức
hoạt ở thị trường nước ngoài và đòi hỏi ở thị trường đó. Các chi phí Marketing
được đo lường trong mối quan hệ với lượng bán và được biểu diễn qua hàm số
lượng bán theo những chi phí cho thị trường.
IV. MỘT VÀI ĐẶC THÙ TRONG HOẠT ĐỘNG XNK CỦA NGÀNH KHOÁNG SẢN
VIỆT NAM
Trong những năm qua, hoạt động XNK của nước ta rất đa dạng và nhiều
chủng loại, tuy nhiên vẫn tập trung chủ yếu vào hàng nông, lâm, thuỷ sản và
nguyên, nhiên vật liệu.Đối với ngành khoáng sản, việc xuất nhập khảu của nước
ta có một số đặc điểm sau:
+ Nếu xét trong tổng thể cả ngành công nghiệp nặng và khoáng sản thì hàng
năm xuất khẩu được khoảng 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, riêng năm
2000 đạt ở mức cao nhất là 37,2% sau đó có xu hướng giảm dần. Điều này đo
lượng khoáng sản của nước ta ngày càng ít đi đặc biệt là quặng kẽm, quặng
Fluospar, dự kiến đến năm 2003 xuất khẩu chỉ còn ở mức 27,7%.
+ Hàng khoáng sản của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu dưới dạng thô,
không qua chế biến. Điều này rất đúng với tình hình của Việt Nam.Nước ta vốn
là một nước nông nghiệp, chưa có những trang thiết bị hiện đại để khai thác
khoáng sản cũng như chế biến mặt hàng này, vì thếd mà chất lượng không
cao,luôn bị cạnh tranh gay gắt cả về giá cả lẫn chất lượng và không gây được uy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status