Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu - Pdf 32

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục lục
Đề mục Trang
Lời mở đầu.
3
Chơng I: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu.
4
I. Tổng quan về hoạt động xuất khẩu. 4
1. Nguồn gốc của TMQT. 4
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển của mỗi quốc
gia. 5
3. Chức năng và nhiệm vụ của hoạt động xuất khẩu. 7
4. Các loại hình xuất khẩu. 8
II. Nội dung của hoạt động xuất khẩu. 11
1. Nghiên cứu và lựa chọn thị trờng xuất khẩu. 11
2. Lập phơng án kinh doanh hàng xuất khẩu. 15
3. Kí kết hợp đồng xuất khẩu. 16
4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu. 17
5. Đánh giá hiệu qủa xuất khẩu. 21
III. Khái quát về lịch sử tơ tằm thế giới và đặc điểm
của ngành sản xuất tơ tằm xuất khẩu. 22
1. Lịch sử tơ tằm thế giới. 22
2. Các yếu tố đặc trng của hàng tơ tằm xuất khẩu. 26
3. Đặc điểm của ngành sản xuất tơ tẵm xuất khẩu. 27
4. Sự cần thiết phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm,
ơm tơ dệt lụa cho xuất khẩu tơ lụa của Việt Nam. 30
Chơng II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu ở công ty dâu tằm tơ I
Hà Nội.
31
I. Tổng quan về công ty dâu tằm tơ I. 31
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty. 31

53
Chơng III: Định hớng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
ở công ty dâu tằm tơ I - Hà Nội trong thời gian tới.
56
I. Định hớng phát triển hoạt động xuất khẩu của công ty trong thời gian tới.
56
1. Định hớng phát triển ngành tơ tằm Việt Nam trong thời gian tới. 56
2. Định hớng phát triển hoạt động xuất khẩu
của công ty trong thời gian tới. 58
II. Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ở công ty dâu tằm tơ I - Hà Nội. 59
1. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trờng
mở rộng thị trờng xuất khẩu.
59
2. Tiếp tục đầu t đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất hiện đại. 60
3. Nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty. 60
4. Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. 61
5. Hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý và tổ chức xây dựng chiến
lợc kinh doanh phát triển thị trờng. 64
6. Hoàn thiện nghiệp vụ xuất khẩu. 65
III. Một số kiến nghị với nhà nớc. 66
Kết luận.
68
Tài liệu tham khảo.
69
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời Mở Đầu
Ngày nay quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang là xu thế chung của nhân loại, không một
quốc gia nào có thể thực hiện một chính sách đóng cửa mà vẫn có thể phồn vinh đợc. Trong
bối cảnh đó TMQT là một lĩnh vực hoạt động đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế

I.Tổng quan về hoạt động xuất khẩu.
Nằm trên những vùng khác nhau của quả đất, mỗi một quốc gia có điều kiện tự nhiên đất
đai khí hậu khác nhau. Cho đến nay trên thế giới cha có một quốc gia nào có đủ tất cả các
nguồn lực để tự sản xuất tất cả các hàng hoá cho tiêu dùng trong nớc một cách có hiệu quả.
Chính vì thế từ xa tới nay, thơng mại quốc tế (TMQT) dù dới hình thức nào thì cũng luôn có
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Vậy TMQT là gì?
TMQT là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ (hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) giữa
các quốc gia, thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang
giá. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lấn nhau
về kinh tế giữa những ngời sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia trên thế giới. TMQT
cho phép một nớc tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lợng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng
với ranh giới của khả năng sản xuất trong nớc khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp không buôn
bán. TMQT là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nớc tham gia vào phân
công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nớc.TMQT bao gồm nhiều hoạt
động khác nhau trên giác độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thơng. Nội dung của
TMQT bao gồm:
Xuất và nhập khẩu hàng hoá, hữu hình và vô hình.
Gia công thuê cho nớc ngoài và thuê nớc ngoài gia công
Tái xuất khẩu và chuyển khẩu.
Xuất khẩu tại chỗ.
Thơng mại hàng hoá và dịch vụ với nớc ngoài không thể là quan hệ ban phát cho không,
không phải chỉ có nhập mà phải có xuất, phải cân đối đợc xuất nhập và tiến tới xuất siêu ngày
càng lớn. Vậy xuất khẩu là gì? Xuất khẩu là việc bán sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nớc
ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nờc, phát triển sản xuất
kinh doanh khai thác u thế tiềm năng đất nớc và nâng cao đời sống nhân dân. Khác với hoạt
động mua bán sản phẩm diễn ra trên thị trờng nội địa, hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn
nhiều, bởi đây là hoạt động buôn bán trao đổi qua biên giới quốc gia, thị trờng vô cùng rộng
lớn khó kiểm soát, thanh toán bằng ngoại tệ đồng thời phải tuân thủ theo những tập quán
thông lệ quốc gia cũng nh luật pháp của từng địa phơng.
Hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực trong mọi điều kiện từ xuất nhập

những hàng hoá có lợi thế tơng đối). Còn nhiều lý do khác nhau khiến TMQT ra đời và ngày
càng trở lên quan trọng, đặc biệt trong một thế giới hiện đại. Một trong những lý do đó có thể
là TMQT tối cần thiết cho việc chuyên môn hoá để có hiệu quả kinh tế cao trong các ngành
công nghiệp hiện đại. Chuyên môn hoá quy mô lớn làm chi phí sản xuất giảm và hiệu quả
kinh tế theo quy mô sẽ đợc thực hiện trong hàng hoá các nớc sản xuất. Sự khác nhau về sở
thích và mức cầu cũng là một nghuyên nhân khác để có TMQT. Ngay cả trong trờng hợp
hiệu quả tuyệt đối ở hai nơi giống hệt nhau, TMQT vẫn có thể diễn ra do sự khác nhau về sở
thích.
Trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế, con đờng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
theo kiểu cô lập với bên ngoài, tự cấp, tự túc hay thay thế nhập khẩu đã hoàn toàn không có
sức thuyết phục. Thực tế cho thấy con đờng dẫn đến phát triển nhanh, bền vững không phải
qua chuyên môn hoá ngày càng sâu rộng để sản xuất ra những sản phẩm sơ chế, mà thông
qua việc mở rộng và phát triển các ngành sản xuất chế biến sâu, có giá trị thặng d cao, hớng
về xuất khẩu là chính, đồng thời thay thế những sản phẩm trong nớc sản xuất có hiệu quả hơn
để khai thác tốt nhất lợi thế so sánh về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật,
công nghệ, thị trờng cho sự phát triển. Để thấy rõ điều này chúng ta hãy xem xét những vai
trò sau đây của TMQT nói chung và của xuất khẩu nói riêng.
2.Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Quốc gia cũng nh cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ mà có đợc đầy đủ mọi thứ
hàng hoá. Buôn bán quốc tế có ý nghĩa sống còn, mở rộng khả năng tiêu dùng của một nớc.
Xuất khẩu là một hoạt động TMQT có vai trò quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1: Xuất khẩu nhằm khai thác lợi thế, phát triển có hiệu quả kinh tế trong nớc.
Trong thế giới hiện đại không một quốc gia nào bằng chính sách đóng cửa của mình lại
phát triển có hiệu quả kinh tế trong nớc. Muốn phát triển nhanh mỗi nớc không thể đơn độc
dựa vào nguồn lực của mình mà phải biết tận dụng các thành tựu kinh tế khoa học kỹ thuật
của loài ngời để phát triển. Nền kinh tế mở cửa, trong đó xuất khẩu đóng vai trò then chốt
sẽ mở hớng phát triển mới tạo điều kiện khai thác lợi thế tiềm năng sẵn có trong nớc nhằm sử
dụng phân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất.

giới. Sản xuất phải gắn với thị trờng, có thị trờng là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sản xuất
hàng xuất khẩu, đến lợt nó sản xuất hàng xuất khẩu lại là nơi thu hút hàng triệu lao động vào
làm việc và tăng thu nhập. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân
dân.
2.4: Xuất khẩu góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất đó là thành quả của công
cuộc khoa học và công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong qúa trình công
nghiệp hoá phù hợp với xu hớng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với đất nớc ta.
Vì vậy xuất khẩu có vai trò quan trọng đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi, tức là sự phát
triển của ngành hàng xuất khẩu này sẽ kéo theo sự phát triển của một ngành khác có quan
hệ mật thiết.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trờng thế
giới về giá cả, chất lợng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất,
hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trờng.
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng
lực sản xuất trong nớc.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế- kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản
xuất trong nớc.
- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, hoàn thiện công việc quản trị
sản xuất và kinh doanh.
2.5: Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nớc ta.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại luôn có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau.
Xuất khẩu là một bộ phận rất quan trọng của kinh tế đối ngoại. Vì vậy khi hoạt động xuất
khẩu phát triển sẽ kéo theo các bộ phận khác của kinh tế đối ngoại phát triển nh dịch vụ, quan
hệ tín dụng, đầu t, hợp tác, liên doanh, mở rộng vận tải quốc tế... Mặt khác, chính các quan hệ

4.Các loại hình xuất khẩu.
Xuất khẩu có thể đợc tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào số lợng và
các loại hình trung gian thơng mại. Mỗi phơng thức có đặc điểm riêng, có kỹ thuật tiến hành
riêng. Thông thờng có các loại hình xuất khẩu chủ yếu sau:
4.1: Xuất khẩu trực tiếp.
Giống nh các hoạt động mua bán thông thờng trực tiếp ở trong nớc, phơng thức xuất
khẩu trực tiếp trong kinh doanh TMQT có thể đợc thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong đó ngời
mua và ngời bán trực tiếp gặp mặt ( hoặc thông qua th từ, điện tín...) để bàn bạc và thoả thuận
với nhau về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch, phơng thức thanh toán... mà không qua ng-
ời trung gian. Những nội dung này đợc thoả thuận một cách tự nguyện, việc mua không nhất
thiết gắn liền với việc bán.
Tuy nhiên, hoạt động mua bán theo phơng thức này khác với hoạt động nội thơng ở chỗ:
bên mua và bên bán là những ngời có trụ sở ở các quốc gia khác nhau, đồng tiền thanh toán
có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên, hàng hoá là đối tợng của giao dịch đợc di chuyển
qua khỏi biên giới của một nớc.
Hoạt động xuất khẩu trực tiếp thờng có những u điểm sau:
- Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất, ít xảy ra những hiểu lầm đáng
tiếc.
- Giảm đợc chi phí trung gian.
- Có điều kiện xâm nhập thị trờng, kịp thời tiếp thu ý kiến của khách hàng, khắc phục thiếu
sót
- Chủ động trong việc sản xuất tiêu thụ hàng hoá
Tuy nhiên hoạt động này cũng gặp phải một số hạn chế đó là:
- Đối với thị trờng mới còn nhiều bỡ ngỡ, dễ bị ép giá trong mua bán
- Khối lợng mặt hàng cần giao dịch phải lớn để bù đắp đợc chi phí: giấy tờ, đi lại, điều tra
tìm hiểu thị trờng.
4.2: Xuất khẩu gián tiếp.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nếu trong xuất khẩu trực tiếp ngời bán tìm đến ngời mua, ngời mua tìm đến ngời bán và

4.3: Buôn bán đối lu.
Buôn bán đối lu (counter- trade) là một phơng thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó
xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua, lợng hàng giao đi
có giá trị tơng xứng với lợng hàng nhận về. ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm
thu về một khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một hàng hoá khác có giá trị tơng đơng.
Buôn bán đối lu đã ra đời lâu trong lịch sử quan hệ hàng hoá- tiền tệ, trong đó sớm nhất
là hàng đổi hàng, rồi đến trao đổi bù trừ. Ngày nay, ngoài hai hình thức truyền thống đó, đã
có nhiều loại hình mới ra đời từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Các loại hình buôn bán đối lu phải kể đến nh:
Nghiệp vụ hàng đổi hàng (barter): trong nghiệp vụ này hai bên trao đổi trực tiếp với nhau
những hàng hoá có giá trị tơng đơng, việc giao hàng diễn ra gần nh đồng thời.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nghiệp vụ bù trừ (compensation): đây là hình thức phát triển nhanh nhất của buôn bán đối
lu. Trong nghiệp vụ này hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sỏ giá trị hàng giao và
hàng nhận đến cuối kỳ hạn, hai bên mới đối chiếu sổ sách, so sánh giữa giá trị hàng giao
với giá trị hàng nhận. Nếu sau khi bù trừ tiền hàng nh thế, mà còn số d thì số tiền đó đợc
giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ về những khoản chi tiêu của bên chủ nợ tại
nớc bị nợ.
Nghiệp vụ mua đối lu (counter- purchase): trong nghiệp vụ này một bên giao thiết bị cho
khách hàng của mình và để đổi lại mua sản phẩm của công nghiệp chế biến, bán thành
phẩm, nguyên vật liệu...
Giao dịch bồi hoàn (offset): ngời ta đổi hàng hoá và/hoặc dịch vụ lấy những dịch vụ và u
huệ ( nh u huệ trong đầu t và giúp đỡ bán sản phẩm).
Nghiệp vụ mua lại sản phẩm (buy- backs): trong nghiệp vụ này một bên cung cấp thiết bị
toàn bộ và/hoặc sáng chế hoặc bí quyết kỹ thuật (know-how) cho bên khác, đồng thời cam
kết mua lại những sản phẩm do thiết bị hoặc sáng chế hoặc bí quyết kỹ thuật đó chế tạo ra.

4.4: Gia công quốc tế.
Gia công quốc tế là một phơng thức kinh doanh thơng mại trong đó một bên (gọi là bên

1. Nghiên cứu và lựa chọn thị trờng xuất khẩu.
Không chỉ riêng với hoạt động xuất khẩu mà với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào trớc
khi bớc vào nghiên cứu thực hiện các khâu nghiệp vụ ngời kinh doanh phải nắm bắt đợc các
thông tin về thị trờng. Nghiên cứu thị trờng xuất khẩu là vấn đề đầu tiên cần thiết đợc tiến
hành hết sức kỹ lỡng trong hoạt động xuất khẩu. Nghiên cứu thị trờng tốt tạo khả năng cho
các nhà kinh doanh nhận ra đợc quy luật vận động của từng loại hàng hoá cụ thể thông qua sự
biến đổi cung cầu và giá cả trên thị trờng giúp họ giải quyết đợc các vấn đề của thực tiễn kinh
doanh nh yêu cầu của thị trờng, khả năng tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của hàng hoá... từ đó
mà lựa chọn thị trờng xuất khẩu thích hợp nhất cho sản phẩm của mình.
1.1: Nghiên cứu thị trờng.
Nghiên cứu thị trờng theo nghĩa rộng đó là quá trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng
cho một sản phẩm cụ thể hay một nhóm sản phẩm, kể cả phơng pháp thực hiện mục tiêu đó.
Quá trình nghiên cứu thị trờng là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị trờng, so sánh,
phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận. Những kết luận này sẽ giúp cho nhà quản lý đa
ra các quyết định đúng đắn để lập kế hoạch kinh doanh. Công tác nghiên cứu thị trờng phải
góp phần chủ yếu trong phơng châm hành động chỉ bán cái thị trờng cần chứ không bán cái
có sẵn.
Có hai loại thông tin cần thu thập trong nghiên cứu thị trờng:
- Thông tin sơ cấp (primary information): là những thông tin thu thập mang tính chất trực
tiếp từ thị trờng đó.
Đối với loại thông tin này ngời ta thờng áp dụng phơng pháp nghiên cứu tại thị trờng
(Field study): đây là việc thu thập thông tin chủ yếu thông qua tiếp xúc với mọi ngời trên thị
trờng. Nói cách khác, đó là cách thu thập thông tin từ trực quan, qua các quan hệ giao tiếp với
thơng nhân và với ngời tiêu dùng. Biện pháp cụ thể: điều tra, phỏng vấn, quan sát, thực
nghiệm.
Nh vậy, xét về tính phức tạp và mức độ chi phí, nghiên cứu tại thị trờng là một hoạt động
tốn kém và không phải ai cũng đủ trình độ để làm đợc. Tuy vậy, phơng pháp nghiên cứu này
cho kết quả khá chính xác. Vì vậy, trớc hết cần sơ bộ xử lý các thông tin về các thị trờng đã
đề cập, chọn ra những thị trờng có nhiều triển vọng nhất. Sau đó căn cứ vào kết quả lựa chọn
để tiến hành nghiên cứu hiện trờng và lập kế hoạch khảo sát.

Giai đoạn triển khai: đây là giai đoạn đầu tiên trong chu kỳ sống của sản phẩm. Trong
giai đoạn này về cơ bản cha có sản phẩm cạnh tranh, sản phẩm của doanh nghiệp cha đợc ng-
ời tiêu dùng biết đến, doanh nghiệp cần nỗ lực làm cho khách hàng biết đến sản phẩm của
mình.
Giai đoạn tăng trởng: đây là giai đoạn phát triển của sản phẩm, trong giai đoạn này sản
phẩm đợc ngời tiêu dùng biết đến và đợc thị trờng chấp nhận, cần đẩy nhanh quá trình đa sản
phẩm có tính độc đáo của mình vào thị trờng, qua đó tạo đợc môi trờng tốt, tăng phạm vi lựa
chọn sản phẩm.
Giai đoạn bão hoà: trong giai đoạn này doanh thu tiêu thụ vẫn tăng nhng tăng chậm và
có xu hớng giảm. Giai đoạn này có sự cạnh tranh kịch liệt giữa các đối thủ vào thị trờng và
một hình ảnh mà doanh nghiệp cần thấy rõ là sự tràn ngập hàng hoá trên thị trờng.
Giai đoạn suy thoái: đây là giai đoạn cuối cùng trong chu kỳ sống của sản phẩm. Trong
giai đoạn này thị trờng đã bão hoà về sản phẩm, doanh số bán ra của sản phẩm giảm đi rất
nhiều. Để tránh khả năng bị loại khỏi thị trờng đòi hỏi doanh nghiệp phải có những biện pháp
cải tiến, đổi mới mẫu mã kỹ thuật, hoặc thay thế bằng sản phẩm mới.
Từ sự phân tích nh trên ta nhận thấy, việc xuất khẩu những mặt hàng đang ở giai đoạn
triển khai và tăng trởng gặp thuận lợi lớn nhất. Tuy vậy, có khi mặt hàng đã ở giai đoạn suy
thoái nhng nhờ thực hiện các biện pháp xúc tiến tiêu thụ (nh quảng cáo, cải tiến hệ thống tổ
chức tiêu thụ, giảm giá...) ngời ta vẫn có thể đẩy mạnh đợc xuất khẩu.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tóm lại, có nắm vững mặt hàng ta đang dự định kinh doanh đang ở giai đoạn nào của
chu kỳ sống thì mới có thể xác định những biện pháp cần thiết để làm tăng doanh số bán
hàng và tăng lợi nhuận.
Cấu trúc của cung, nghĩa là xác định tình hình cạnh tranh trên thị trờng. Nếu sự cạnh
tranh đã gay gắt, điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp phải rút lui, nó có thể giữ vị trí thế
thủ chờ đợi giai đoạn chuyển sang tấn công
Nghiên cứu những sản phẩm khác cùng đáp ứng nhu cầu còn phải xác định xem sự cạnh
tranh ấy tồn tại đợc bằng cách nào, tỷ lệ hoa hồng thờng đợc chấp nhận là bao nhiêu, hậu quả
của cạnh tranh nh thế nào, nó sẽ diễn biến ra sao... và khả năng phản ứng của nó trớc một đối

+ Nghiên cứu một số yếu tố khác liên quan đến hoạt động kinh doanh trên thị trờng nh: quan
hệ chính trị, văn hoá: làm việc với ai phải hiểu văn hoá của ngời đó, đồng thời có cái nhìn
khách quan về nền văn háo của họ, không thể so bì với văn hoá của ta mà cho rằng nền văn
hoá của họ không tốt, kinh doanh TMQT cần luôn hiểu không có một nền văn hoá nào là
tốt hay xấu mà chỉ có sự khác biệt. Nghiên cứu chính sách, thể chế của quốc gia khác đặc
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
biệt là yếu tố về luật, thể chế tài chính. Nghiên cứu yếu tố tự nhiên của từng đoạn thị trờng:
vị trí địa lý, khí hậu...
1.2: Lựa chọn thị trờng xuất khẩu.
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thị trờng xuất khẩu giúp đơn vị kinh doanh lựa chọn thị
trờng, việc lựa chọn thị trờng phải căn cứ vào những tiêu chuẩn mà các thị trờng phải đáp ứng
đợc:
Tiêu chuẩn chung:
- Về chính trị: có những chính thể này thuận lợi hơn những chính thể khác đối với hoạt động
xuất khẩu, nghiên cứu cả những bất chắc chính trị và sự ổn định của chính thể.
- Về địa lý: khoảng cách địa lý, khí hậu, tháp dân số...
- Về kinh tế: những chỉ tiêu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP), GDP bình quân đầu ngời, tỷ
lệ tăng GDP...
- Về kỹ thuật: những khu vực phát triển và triển vọng phát triển.
Tiêu chuẩn về quy chế thơng mại và tiền tệ:
- Biện pháp bảo hộ mậu dịch: thuế quan, các giấy phép và hạn ngạch...
- Tình hình tiền tệ: tỷ lệ lạm phát, sự diễn biến của tỷ giá hối đoái
Tiêu chuẩn về thơng mại:
- Phần của sản xuất nội địa
- Sự hiện diện của hàng hoá Việt Nam trên các thị trờng
- Sự cạnh tranh quốc tế trên các thị trờng lựa chọn.
Những tiêu chuẩn này sau đó phải đợc cân nhắc, điều chỉnh tuỳ theo mức quan trọng của
chúng đối với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong nhiều trờng hợp kết quả hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc vào

tính thuyết phục trên cơ sở phân tích những tình hình có liên quan.
- Đề ra mục tiêu. Những mục tiêu đề ra trong một phơng án kinh doanh bao giờ cũng là mục
tiêu cụ thể nh: sẽ bán đợc bao nhiêu hàng với giá cả bao nhiêu, sẽ thâm nhập vào những thị
trờng nào...
- Đề ra biện pháp thực hiện. Những biện pháp này có thể bao gồm nhiều biện pháp trong n-
ớc (nh đầu t vào sản xuất, cải tiến bao bì, ký hợp đồng kinh tế, tăng giá thu mua...) và cả
các biện pháp ở ngoài nớc (nh đẩy mạnh quảng cáo, lập chi nhánh ở nớc ngoài, mở rộng
mạng lới đại lý...)
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua một số chỉ tiêu chủ yếu:
chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ, chỉ tiêu thời gian hoàn vốn, chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi, chỉ tiêu
điểm hoà vốn.
Sau khi phơng án đã đợc đề ra, đơn vị kinh doanh phải cố gắng để thực hiện phơng án, tức là
tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với khách hàng đã chọn. Nhng để tiến tới ký kết hợp đồng
mua bán với nhau ngời xuất khẩu và nhập khẩu thờng phải qua một quá trình giao dịch, thơng
thảo về các điều kiện giao dịch. Quá trình đó có thể bao gồm những bớc chính nh: hỏi hàng,
chào hàng, đặt hàng.
- Hỏi hàng: hỏi hàng còn gọi là hỏi giá, tuy không ràng buộc trách nhiệm của ngời hỏi, nh-
ng nếu hỏi nhiều nơi, nhiều hãng quá có thể gây lên hiểu lầm về nhu cầu của mình. Vả lại,
hỏi nhiều sẽ kéo theo việc trả lời và các công việc hành chính văn th khác. Điều này cũng
dễ gây nên tốn thời gian và chi phí.
- Chào hàng: là lời đề nghị biểu thị muốn bán hàng do ngời bán đa ra. Trớc khi chào hàng
cần nắm đợc quan hệ cung cầu về hàng hoá đó trên thế giới, mức giá hiện hành trên thị tr-
ờng, nhu cầu của đối phơng và khả năng của ta. Trên cơ sở đó, ta xác định nên đa ra đơn
chào hàng cố định hay đơn chào hàng tự do.
Chào hàng cố định: là lời đề nghị ký hợp đồng của ngời bán chỉ gửi cho một đối tác,
trong thời hạn có hiệu lực của chào hàng thì không đợc gửi cho các đối tác khác. Nếu ngời
nhận chào hàng cố định chấp nhận mua coi nh chào hàng đợc ký.
Chào hàng tự do:là lời đề nghị chào bán một mặt hàng nào đó đợc gửi cho nhiều ngời và
không ràng buộc về mặt pháp lý. Nếu ngời nhận chào hàng tự do đồng ý mua nhng ngời bán
vẫn có thể không thực hiện lời chào hàng đó.

. Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng
. Tên và địa chỉ của các đơng sự
. Những định nghĩa dùng trong hợp đồng
. Cơ sở pháp lý để kí kết hợp đồng
. Các điều khoản và điều kiện của hợp đồng: điều khoản thơng phẩm, điều khoản tài
chính, điều khoản vận tải, điều khoản pháp lý...
4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thơng đợc ký kết, đơn vị kinh doanh xuất khẩu- với t
cách là một bên ký kết- phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là một công việc rất phức
tạp. Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo đảm đợc quyền lợi quốc
gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của đơn vị.
Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu bao gồm các bớc sau:
4.1:Kiểm tra L/C.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nếu trong điều khoản thanh toán của hợp đồng ngoại thơng quy định sử dụng phơng
thức tín dụng chứng từ thì bớc đầu tiên đơn vị kinh doanh xuất khẩu cần phải làm đó là đôn
đốc ngời nhập khẩu ở nớc ngoài mở L/C đúng hạn và nội dung nh hợp đồng quy định. Sau
khi nhận đợc L/C, ngời xuất khẩu phải kiểm tra so sánh với nội dung và điều kiện ghi trong
hợp đồng, nếu phù hợp ngời xuất khẩu mới tiến hành làm những công việc thực hiện hợp đồng
còn cha phù hợp phải yêu cầu bên nhập khẩu sửa đổi bổ sung bằng văn bản.
4.2: Xin giấy phép xuất khẩu.
Giấy phép xuất khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiến hành các khâu
trong quá trình xuất khẩu hàng hoá. Với xu hớng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, nhà nớc
tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh làm hàng xuất khẩu và xuất khẩu
những mặt hàng nhà nớc không hạn chế.
Nhà nớc quản lý xuất nhập khẩu bằng hạn ngạch và bằng luật pháp, hàng hoá là đối tợng
quản lý có 3 mức:
+ Những danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu:
Việc điều chỉnh danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu do Thủ tớng Chính

sơ, sau 3 ngày phải trả lời với những hồ sơ xin phép cần bổ sung, cần sửa đổi hoặc những
hồ sơ không cấp giấy phép
+ Đối với những hồ sơ hợp lệ cấp giấy phép sau 7 ngày.
4.3: Chuẩn bị hàng xuất khẩu.
Thực hiện cam kết trong hợp đồng xuất khẩu, chủ hàng xuất khẩu phải tiến hành chuẩn
bị hàng xuất khẩu. Căn cứ để chuẩn bị hàng xuất khẩu là hợp đồng đã ký với nớc ngoài
và/hoặc L/C (nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C).
Công việc chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm 3 khâu chủ yếu: thu gom tập trung làm
thành lô hàng xuất khẩu, đóng gói bao bì và kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu.
Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu:
Việc mua bán ngoại thơng thờng tiến hành trên cơ sở số lợng lớn. Trong khi đó sản xuất
hàng xuất khẩu ở nớc ta, về cơ bản, là một nền sản xuất manh mún, phân tán; nguồn hàng để
xuất khẩu chủ yếu là hàng sơ cấp (nguyên vật liệu qua sơ chế, hàng bán thành phẩm), hàng
thủ công mĩ nghệ, hàng nông lâm, thổ, thuỷ sản. Vì vậy trong rất nhiều trờng hợp muốn làm
thành lô hàng xuât khẩu chủ hàng xuất khẩu phải tiến hành thu gom tập trung từ các cơ sở sản
xuất nhỏ, từ trong nhân dân, từ các cơ sở thơng mại... (gọi tắt là các chân hàng). Cơ sở để thực
hiện thu gom hàng xuất khẩu là hợp đồng kinh tế giữa doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu với
các chân hàng. Những loại hợp đồng kinh tế thờng đợc sử dụng để huy động hàng xuất khẩu
có thể là: hợp đồng mua bán hàng xuất khẩu, hợp đồng gia công, hợp đồng đổi hàng, hợp
đồng uỷ thác thu mua hàng xuất khẩu, hợp đồng liên doanh liên kết xuất khẩu...
Bao bì đóng gói hàng xuất khẩu:
Trong buôn bán quốc tế, tuy không ít mặt hàng để trần hoặc để rời, nhng đại bộ phận
hàng hoá đòi hỏi phải đợc đóng gói và bao bì trong qúa trình vận chuyển và bảo quản. Tổ
chức đóng gói, bao bì là khâu quan trọng của việc chuẩn bị hàng hoá bởi những tác dụng to
lớn sau:
+ Bao bì đóng gói bảo đảm đợc phẩm chất hàng hoá trong quá trình vận chuyển, tránh đợc
rủi ro mất mát.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho bốc xếp, di chuyển, vận chuyển và giao nhận hàng hoá.
+ Tạo điều kiện cho việc nhận biết phân loại hàng hoá.
+ Gây ấn tợng và làm cho ngời mua thích thú hàng hoá.

công ty hàng hải có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn hơn.
Trong buôn bán quốc tế, phơng thức chuyên chở hàng hoá bằng đờng biển là phơng thức
vận tải đợc sử dụng nhiều nhất, chiếm đến 80% khối lợng vận chuyển trong chuyên chở quốc
tế. Bên cạnh đó, ngời ta còn sử dụng một số phơng thức khác nh: vận tải đờng bộ, vận tải đ-
ờng sắt, vận tải đờng sông, vận tải hàng không. Ngoài ra còn còn có hình thức vận tải đờng
ống, vận tải đa phơng thức.
4.6: Mua bảo hiểm.
Hàng hoá chuyên chở trên biển thờng gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế bảo hiểm hàng
hoá đờng biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thơng.
Hợp đồng bảo hiểm có hai loại: hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng bảo hiểm chuyến.
Hợp đồng bảo hiểm bao: đơn vị mua bảo hiểm ký hợp đồng từ đầu năm, còn đến khi
giao hang xuống tàu xong, chủ hàng chỉ gửi đến công ty bảo hiểm (Bảo Việt) một thông báo
bằng văn bản gọi là giấy báo bắt đầu vận chuyển. Hình thức hợp đồng bảo hiểm này thờng
áp dụng đối với các tổ chức buôn bán ngoại thơng hoặc doanh nghiệp buôn bán hàng xuất
khẩu thờng xuyên nhiều lần trong một năm.
Hợp đồng bảo hiểm chuyến: khi mua bảo hiểm chuyến chủ hàng gửi đến công ty bảo
hiểm một văn bản gọi là giấy yêu cầu bảo hiểm. Trên cơ sở giấy yêu cầu này, chủ hàng và
công ty bảo hiểm đàm phán ký hợp đồng bảo hiểm. Hình thức này thờng áp dụng với các đợt
mua bán riêng lẻ.
Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần nắm vững các điều kiện bảo hiểm, có 3 điều kiện bảo
hiểm chính: bảo hiểm mọi rủi ro (điều kiện A), bảo hiểm có bồi thờng tổn thất riêng (điều
kiện B), bảo hiểm miễn bồi thờng tổn thất riêng (điều kiện C). Ngoài ra, còn có một số điều
kiện bảo hiểm đặc biệt khác nh bảo hiểm chiến tranh, đình công, bạo động.
4.7: Làm thủ tục hải quan.
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hay nhập khẩu đều phải làm
thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là công cụ để quản lý hành vi buôn bán theo pháp luật của
nhà nớc, để ngăn chặn xuất nhập khẩu lậu qua biên giới, để kiểm tra giấy tờ sai sót giả mạo,
để thống kê số lợng về hàng xuất nhập khẩu. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm 3 bớc chủ

chứng từ thanh toán.
Nếu hàng đợc chở bằng container thì giao theo hai phơng thức: hàng đủ một container và
hàng cha đủ một container. Hàng chiếm đủ một container (Full container load- FCL), thì
chủ hàng đăng ký thuê container, chịu chi phí chuyển container rỗng từ bãi về cơ sở của
mình, đóng hàng vào container và giao đến ga container để giao cho ngời vận tải. Hàng ch-
a đủ một container (Lessthan container load- LCL), thì chủ hàng phải làm đăng ký hàng
chuyên chở xuất trình cho vận tải. Sau khi đợc chấp nhận chở hàng, chủ hàng đa hàng đến
ga container và giao cho ngời vận tải. Cơ quan vận tải chịu trách nhiệm đóng hàng vào
container và bốc lên tàu.
4.9: Làm thủ tục thanh toán.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có thề nói thanh toán là khâu trọng tâm và là kết quả cuối cùng của tất cả các giao dịch
kinh doanh TMQT. Có 2 phơng thức thanh toán chủ yếu sau:
Thanh toán bằng th tín dụng
Thanh toán tiền hàng bằng L/C là một phơng thức thanh toán bảo đảm hợp lý, thuận tiện
an toàn, hạn chế rủi ro cho cả bên mua và bên bán. Khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, ngời
xuất khẩu phải yêu cầu ngời nhập khẩu mở L/C đúng hạn và nội dung nh hợp đồng quy định.
Sau khi nhận đợc thông báo đã mở L/C của ngời nhập khẩu, ngời xuất khẩu phải đối chiếu
L/C với nội dung hợp đồng mua bán xem co phù hợp không, nếu phù hợp thì tiến hành giao
hàng, còn nếu thấy còn có chỗ cha hợp lý thì yêu cầu bên nhập khẩu phải sửa đổi, bổ xung.
Đến thời hạn giao hàng, cùng với việc giao hàng ngời xuất khẩu phải lập bộ chứng từ hoàn
hảo, phù hợp với nội dung trong L/C để yêu cầu bên nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho
mình.
Thanh toán bằng phơng thức nhờ thu
Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định thanh toán tiền hàng bằng phơng thức nhờ thu, thì
ngay sau khi giao hàng, bên xuất khẩu phải hoàn thành việc lập chứng từ và phải xuất trình
cho ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng thu tiền hộ. Chứng từ thanh toán cần đợc lập hợp lệ,
chính xác và đợc nhanh chóng giao cho ngân hàng nhằm nhanh chóng thu hồi vốn.
5. Đánh giá hiệu quả xuất khẩu.

Trong buôn bán quốc tế, với mọi trờng hợp đều không thể dùng các thủ thuật gian dối.
Muốn nâng cao lợi nhuận phải cố gắng từng bớc, cải tiến hoạt động thơng mại, phải nẵm
vững và tiến hành theo quy trình, không thể nóng vội đốt cháy giai đoạn. Nếu không tôn
trọng nguyên tắc trên dễ dẫn đến thua thiệt trong kinh doanh. Dù là có kinh nghiệm sành sỏi
lão luyện hay ngời mới vào nghề, đều phải tuân thủ các bớc đi. Đó là việc quan trọng nhất
của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu.
III. Khái quát về lịch sử tơ tằm thế giới và đặc điểm của hàng tơ
tằm xuất khẩu.
1. Lịch sử tơ tằm thế giới.
1.1: Những chặng đờng lịch sử tơ tằm thế giới.
Theo Khổng Tử, vào năm 2640 trớc công nguyên, nàng công chúa Tây Linh Chi của
Trung Quốc là ngời đầu tiên kéo đợc sợi tơ từ con kén, mà cũng theo truyền thuyết, đã tình cờ
rơi vào cốc nớc trà của nàng. Kể từ khoảnh khắc lịch sử ấy, ngời Trung Quốc phát hiện ra
vòng đời của con tằm và mãi cho đến 3000 năm sau đó họ vẫn giứ độc quyền về tơ tằm.
Vào thế kỷ thứ 3 trớc công nguyên, vải lụa tơ tằm của Trung Quốc đã bắt đầu đợc đa đến
khắp vùng Châu á, đợc vận chuyển bằng đờng bộ sang phơng Tây và bằng đờng biển sang
Nhật Bản theo các lộ trình dài đợc gọi là con đờng tơ lụa. Chính tại Châu á, ngời La Mã đã
khám phá ra loại vải lụa tuyệt vời này, nhng họ lại không biết gì về nguồn gốc của chúng cả.
Vào năm 552 sau công nguyên, Hoàng đế Justinien cử hai giáo sĩ sang công cán ở Châu
á và khi trở về Byzance họ đã mang theo những trứng tằm đợc cất giấu trong những cây gậy
trúc (đây là một điển hình xa xa nhất của việc tình báo kinh tế!). Kể từ đó nghề dâu tằm đã
lan rộng đến vùng Tiểu á và Hy Lạp.
Vào thế kỷ 7, ngời ả Rập chinh phục đợc Ba T, trong tiến trình đó họ đã cớp đi nhiều lô
hàng vải lụa và truyền bá nghề dâu tằm tơ lụa theo từng chặng đờng chiến thắng của họ tại
Châu Phi, Sicily và Tây Ban Nha.
Vào thế kỷ 10, Andalusia là trung tâm sản xuất tơ tằm lớn nhất của Châu Âu.
Tiếp đến là những cuộc Thập tự chinh, sự hình thành đế quốc Mông Cổ và những cuộc
hành trình của Marco Polo đến Trung Quốc đã làm phát triển những trao đổi thơng mại giữa
Đông và Tây và việc tiêu dùng hàng tơ tằm ngày càng tăng lên, nhờ đó ý đã bắt đầu ngành tơ
tằm ngay từ thế kỷ 12.

với những cải tiến kỹ thuật và sự phát triển mặt hàng tơ tằm pha trộn với các loại sợi khác.
Bớc ngoặt chủ yếu tiếp theo là chiến tranh thế giới thứ hai, vì nguồn cung cấp tơ từ Nhật
đã bị cắt đứt và những loại sợi tổng hợp mới đã xâm chiếm nhiều thị trờng của tơ tằm, chẳng
hạn nh mặt hàng bít tất và dù. Sự gián đoạn của các hoạt động tơ tằm tại Châu Âu và Hoa Kỳ
đã gióng lên hồi chuông báo tử cho ngành dâu tằm tại Châu Âu.
Sau chiến tranh, Nhật đã khôi phục việc sản xuất tơ tằm với những cải tiến rộng lớn
trong việc ơm tơ, kiểm ngiệm tơ và phân loại tơ của họ. Nhật đã duy trì là nớc sản xuất tơ tằm
lớn nhất và đã thật sự là nớc xuất khẩu tơ chủ yếu cho đến thập niên 1970. Sau đó Trung
Quốc, nhờ những nỗ lực đáng kể trong công tác tổ chức và kế hoạch, đã dần dần chiếm lại vị
trí lịch sử của mình là một nớc sản xuất và xuất khẩu tơ lớn nhất thế giới. Vào năm 1985, sản
lợng tơ nõn của thế giới là khoảng 56.000 tấn (bằng sản lợng của năm 1938) trong đó hơn một
nửa đợc sản xuất tại Trung Quốc.Và cho đến nay, Trung Quốc vẫn chiếm ngôi đầu bảng trong
sản xuất và xuất khẩu tơ.
Những nớc sản xuất tơ lớn khác phải kể đến nh Nhật Bản, ấn Độ, Liên Xô cũ, Cộng hoà
Triều Tiên và Braxin. Ngoài ra, tơ còn đợc sản xuất với số lợng nhỏ tại các nớc khác và còn
nhiều nớc đang phát triển đã và vẫn đang nghiên cứu những đề án dâu tằm mới.
1.2: Tình hình sản xuất và tiêu thụ tơ tằm trên thế giới và ở Việt Nam.
Tình hình sản xuất tơ tằm trên thế giới và ở Việt Nam:
Trải qua nhiều thế kỷ diện tích cây dâu và sản lợng tơ tằm thế giới không ngừng tăng
lên. Trớc chiến tranh thế giới thứ hai, sản lợng tơ tằm trên thế giới đạt cao nhất vào năm 1938
là 46.548 tấn. Lúc đó Nhật là nớc phát triển mạnh nghề trồng dâu nuôi tằm, chiếm 76% sản l-
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ợng tơ thế giới. Nhng sau đó sản lợng tơ của Nhật giảm dần, đến năm 1989 chỉ chiếm khoảng
9% sản lợng tơ thế giới. Một trong những nguyên nhân là do nghề này cần sử dụng nhiều lao
động, trong khi ngành công nghiệp của Nhật Bản phát triền và thu hút khá nhiều lao động.
Những năm gần đây, Trung Quốc vơn lên đứng đầu thế giới về sản lợng tơ tằm, từ chỗ
dâu tằm chỉ chiếm 8% sản lợng tơ thế giới đã vơn lên vị trí đứng đầu thế giới về sản lợng tơ
tằm 1989. Hiện nay, Trung Quốc có 22 trong số 25 tỉnh sản xuất tơ tằm và đã thu hút trên 20
triệu hộ gia đình tham gia, trên 1 triệu công nhân làm việc trong ngành công nghiệp tơ lụa.

khẩu.
Năm 1992, diện tích dâu cả nớc là 35.000 hecta và sản lợng kén 12.000 tấn, chế biến đợc
800 tấn tơ các loại, kim ngạch xuất khẩu đạt 16 triệu USD.
Đến 31/12/1995, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ký quyết định 408/QĐ-
BNN- TCCB thành lập Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam (VISERI) trên cơ sở Liên hiệp các
xí nghiệp dâu tằm tơ trớc đây, chính thức mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử phát triển
nghành dâu tằm tơ Việt Nam.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Năm 2000, sản lợng tơ đạt 125.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 25.000 USD. Năm
2003, cả nớc có 30 cơ sở sản xuất ơm tơ thuộc Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam, 8 cơ sở ơm
tơ thuộc địa phơng và các cơ sở t nhân khác.
Tình hình tiêu thụ tơ tằm trên thế giới và ở Việt Nam:
Theo tổ chức thơng mại thế giới thì thị trờng tơ lụa thế giới cha bao giờ đáp ứng đủ nhu
cầu do ngời tiêu dùng ngày càng tăng, trong khi đó quá trình công nghiệp hoá của các nớc sản
xuất tơ tằm làm cho sản lợng tơ ngày một giảm sút.
Cho đến nay, Trung Quốc vẫn là nớc cung cấp tơ lụa lớn nhất cho thế giới. Hàng năm,
Trung Quốc xuất khẩu hơn 4 tỷ USD các sản phẩm tơ lụa, chiếm 80% doanh số các sản phẩm
tơ lụa toàn thế giới. Năm 2000 vừa qua, giá trị xuất khẩu tơ tằm và các sản phẩm hoàn tất của
Trung Quốc đạt 2,7 tỷ USD. Trong những năm qua, Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu tơ nõn,
tuy nhiên trong những năm gần đây Trung Quốc đã chuyển hớng tơ tăm sang chế biến. Tỷ lệ
xuất khẩu tơ nõn giảm từ 49% (1980) xuống còn 25% (1985). Tỷ lệ xuất khẩu quần áo lụa tơ
tằm và các sản phẩm hoàn tất từ tơ tằm tăng từ 17% (1980) lên 40% (2000).
Thái Lan, ấn Độ, Bangladesh, Cam-pu-chia.... là những nớc vừa sản xuất đồng thời vừa
phải nhập khẩu để tiêu dùng trong nớc. Các nớc này chỉ tự túc đợc khoảng 20% nhu cầu còn
80% là nhập khẩu.
Còn những nớc chủ yếu nhập khẩu tơ lụa phải kể đến nh: các nớc Tây Âu, một số nớc
Bắc Âu, Nhật Bản, Mỹ, các nớc Trung Đông... Đây là những nớc có đời sống kinh tế cao,
hàng năm có nhu cầu tiêu thụ khá lớn. Chỉ riêng Nhật Bản phải nhập khẩu 20.000 tấn tơ/năm.
Năm 2000, nhóm nớc nhập khẩu tơ lụa có nhu cầu nhập khoảng 50.000 tấn tơ. Sau năm 2000,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status