Lời nói đầu
Mặt hàng giày dép là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nớc ta trong giai
đoạn 2001 - 2010. Ngành đã có đóng góp to lớn trong kim ngạch xuất khẩu,
hiện đứng thứ ba sau dầu thô và dệt may, có triển vọng rất tolớn và sẽ phát triển
rất mạhh tự hoàn thiện thành một ngành công nghiệp sản xuất giày thực thụ.
Vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là làm thế nào Việt Nam có thể tự sản xuất
giày mà không lệ thuộc vào phía nớc ngoài từ nguyên - phụ liệu mẫu mã cho
đến đầu ra của sản phẩm. Vì vậy việc tìm ra giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy xuất
khẩu da giày là rất quan trọng.
Chơng I
Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu
I. Khái niệm và vai trò xuất khẩu trong nền kinh tế
1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và hoạt động kinh doanh để đem lại
lợi nhuận lớn, là phơng tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất khẩu để
tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng. Nhà
nớc ta luôn luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hớng theo xuất khẩu,
khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn
việc làm và tăng thu ngoại tệ.
2. Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế.
a) Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu.
Công nghiệp hoá đất nớc đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy
móc, thiết bị, kỹ thuật, vật t và công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể đợc hình thành từ các nguồn nh :
- Liên doanh đầu t nớc ngoài với nớc ta.
- Vay nợ, viện trợ, tài trợ.
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ.
- Xuất khẩu sức lao động
Trong các nguồn vốn nh đầu t nớc ngoài, vay nợ và viện trợ cũng phải
trả bằng cách này hay cách khác. Để nhập khẩu, nguồn vốn quan trọng nhất là
từ xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá
thành.
c) Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân
dân.
Trớc hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra
nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống của
nhân dân.
d) Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nớc ta.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại và làm cho nền kinh tế nớc
ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thờng hoạt động xuất khẩu
ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại nên có thúc đẩy các quan hệ này
phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy các quan
hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy
quan hệ tín dụng, đầu t, vận tải Quốc tế Đến l ợt nó chính các quan hệ kinh tế
đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để
phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
II. Quy trình xuất khẩu.
Trớc khi tiến hành xuất khẩu hàng hoá chủ hàng phải chuẩn bị bộ hồ sơ
gồm :
Hợp đồng ngoại thơng (1bản sao), Packing list (3 bản chính), tờ khai hải
quan (3 bản chính), hợp đồng ủy thác, giấy phép (nếu có). Quy trình thông quan
xuất khẩu gồm các bớc sau :
Bớc 1 : Chủ hàng phải tiến hành đăng ký tờ khai hải quan. Công thức 1 sẽ
tiến hành kiểm tra bộ hồ sơ của chủ hàng, kiểm tra khai báo của chủ hàng và
cho đăng ký tờ khai đồng thời tiến hành nhập dữ liệu.
Bớc 2 : Bớc này do lãnh đạo chi cục đảm nhiệm, có quyền quyết định hình
thức và tỉ lệ kiểm tra, giải quyết những vớng mắc phát sinh và xác nhận thông
chúng còn tợng trng cho nền kinh tế thịnh vợng hay sa sút của một quốc gia, là
tiếng nói bản sắc của cộng đồng sử dụng.
Da giày là một trong những ngành đóng góp chủ yếu vào sự tăng trởng
GDP cũng nh tăng thu nhập chung của đất nớc ở thời kỳ trớc 2020. Công nghiệp
da giày phát triển sẽ có nguồn thu ngoại tệ sánh đợc với các mặt hàng coi nh
đầu vị trong xuất khẩu của nông nghiệp và công nghiệp tiêu dùng. Những
năm của thập niên 90, thế kỷ 20 mặt hàng da giày đợc xếp vào hạng thứ ba về
giá trị xuất khẩu sau các mặt hàng gạo, dầu khí nhng đến năm 1999 lại đợc
nâng lên hạng hai chỉ sau mặt hàng gạo và hiện nay đứng ở vị trí thứ ba sau dầu
thô và dệt may. Năm 2001, Bộ thơng mại thông báo tất cả các mặt hàng có thuế
nhập khẩu xấp xỉ 20% sẽ đợc giảm xuống theo Hiệp định chung về thuế quan u
đãi đã đợc ký kết. Nh vậy thuế nhập khẩu sẽ bị cắt giảm 20% hoặc ít hơn khi
Việt Nam tham gia hoàn toàn vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) sau
khi Chính phủ thông qua danh mục các mặt hàng cắt giảm thuế giai đoạn 2001
-2006. Bộ tài chính đã đa ra lộ trình cắt giảm thuế hàng giàydép có đế bằng cao
su theo Hiệp định u đãi thuế quan (CEPT/AFTA) nh sau: Năm 2001 : 50% ;
2002 : 40% ; 2003 : 35% ; 2004 : 30% ; 2005 : 20% ; 2006 : 5%. Với việc ký
kết Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đợc hởng quy chế tối huệ quốc (MFN) của
Mỹ, trong thời gian tới xuất khẩu hàng giày dép vào thị trờng Mỹ sẽ tăng trởng
rất nhanh.
Tuy nhiên theo nhận xét của các chuyên gia trong ngành, năm 2000 tình
hình sản xuất kinh doanh da giày trên thế giới đang gặp khó khăn. Nền kinh tế
Mỹ, Nhật EU suy giảm, lợng cầu hạ thấp, tiền tệ của thị trờng chính (đồng EU)
mất giá, bệnh bò điên và lở mồm long móng gây khủng hoảng nguyên liệu da
làm giá đầu vào tăng Ngành da giày Việt Nam cũng là nạn nhân của tình
trạng này. Nhng đáng quan tâm nhất là việc Trung Quốc gia nhập WTO. Lợi
thế của ngành da giày Việt Nam là nhân công rẻ, dồi dào, đợc hởng nhiều u đãi
thuế quan từ những thị trờng lớn nhng với Trung Quốc với việc các rào cản th-
ơng mại đợc loại bỏ dần dần, nhân công của họ dồi dào hơn ta và có một bề da
dày lịch sử, công nghệ hiện đại cùng nhiều u đãi của Chính phủ Trung Quốc về
nhập khẩu hoàn toàn).
Các chuyên gia thuộc Liên đoàn giày Châu Âu cho rằng trong tơng lai khó
mà tìm ra bất cứ một sản phẩm nào đợc sản xuất toàn bộ trong cùng một nớc.
Triển vọng của thị trờng toàn cầu sẽ đợc mở rộng, bởi ngành vận tải đợc cải
thiện và chi phí bảo dỡng của ngành này sẽ giảm thấp. Tuy nhiên dự báo trung
hạn còn gặp nhiều yếu tố thờng hay thayđổi bất ngờ, khó lờng. Do đó, cũng rất
khó mà hình dung đợc trong tơng lai những nớc nào sẽ có chi phí thấp để tiếp
tục duy trì sản xuất và xuất khẩu giày mạnh. Chi phí lao động chắc chắn có ý
nghĩa lớn đối với sản xuất giày nhng cha hẳn đã là đủ điều kiện để trở thành
một giải pháp duy nhất trong sự suy xét để phát triển nghề giày.
Chơng II
Tình hình kinh doanh xuất khẩu da giày của Việt Nam
I. Thực trạng và xuất khẩu da giày Việt Nam trớc 1990 và các
nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong xuất khẩu.
1. Thực trạng xuất khẩu da giày Việt Nam
1.1. Thực trạng xuất khẩu da giày Việt Nam trên thị trờng Đông Âu và
Liên Xô cũ.
Trớc 1990 ngành da giày Việt Nam chủ yếu thực hiện các hợp đồng hợp
tác gia công mũ giày cho Liên Xô và các nớc XHCN Đông Âu, tiến hành các
hoạt động sản xuất găng tay cao su xuất khẩu cho thị trờng Đông Âu với đồng
vốn ít ỏi. Do yêu cầu của sự hợp tác và phân công lao động giữa các nớc XHCN
cũ, năm 1987, Liên hiệp các xí nghiệp da giày thuộc Bộ công nghiệp nhẹ đợc
thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là gia công mũ giày da, giày vải, găng tay bảo
hộ lao động và hàng mềm xuất khẩu theo các hiệp định kinh tế với Liên Xô cũ
và các nớc Đông Âu. Từ đó, ngành da giày Việt Nam đã thực sự trở thành
ngành kinh tế -kỹ thuật độc lập nhng cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc
hậu. Sản phẩm làm ra với mẫu mã đơn giản, chất lợng không cao. Kim ngạch
xuất khẩu năm 1987 đạt 33,27tr Rup/USD, năm 1990 đạt 125 tr Rup/USD. Toàn
ngành có hơn 50 đơn vị gia công sản xuất da giày đợc hình thành trên toàn
quốc.
kỹ thuật, cha có trờng lớp đào tạo. Phần lớn cán bộ cha thể tự mình chủ động
độc lập điều hành sản xuất và kỹ thuật một cách khoa học đồng bộ, đúng tiến
độ và có chất lợng.
2. Các nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong xuất khẩu.
Vào đầu những năm 90 các doanh nghiệp da giày Việt Nam đều rơi vào
tình trạng khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Thứ nhất, sự lạc hậu về nhà xởng, trang thiết bị, đặc biệt là việc bố trí mặt
bằng, trang bị kỹ thuật, máy móc bất hợp lý và lãng phí, vệ sinh công nghiệp
kém, môi trờng công nghiệp lạc hậu là đặc điểm phổ biến của các doanh nghiệp
ở các nớc đã từng hoạt động theo mô hình quản lý kế hoạch hoá quan liêu bao
cấp mà Việt Nam là một trong những điển hình. Đây thực sự là một trở lực cho
việc đa cái mới vào hoạt động quản lý.
Thứ hai là hoạt động trong điều kiện thiếu thông tin và do vậy không
nhanh nhạy với thị trờng. Phần lớn các doanh nghiệp đều lúng túng trong việc
tổ chức hoạt động thông tin điều đó một phần quan trọng bắt nguônf từ mô hình
và cơ cấu tiêu dùng tổ chức doanh nghiệp cha có sự đổi mới cần thiết, phần
khác do sự hỗ trợ bên ngoài nh các cơ quan Nhà nớc cán bộ, sở quản lý ngành
chuyên ngành còn yếu.
Thứ ba là do phần lớn các doanh nghiệp có cán bộ dôi d lớn không mạnh
dạn đổi mới cơ cấu doanh nghiệp, còn theo mô hình tổ chức phòng ban cũ, do
vậy không tạo ra sự chuyển biến đồng bộ và tác phong mới trong hoạt động sản
xuất kinh doanh và sự đồng bộ trong việc giải quyết vấn đề chất lợng.
Ngoài ra nhận thức về quản lý chất lợng sản phẩm còn nhiều điều cha rõ,
nhận thức về tác động của cơ chế thị trờng còn phiến diện nặng về tác động tiêu
cực, từ đó tìm cách đối phó bằng các biện pháp không cơ bản, nh móc nối mua
bán không trung thực, không thấy đợc yếu tố cơ bản của sự cạnh tranh là uy tín,
chất lợng sản phẩm, chất lợng dịch vụ.
Vấn đề sở hữu và quan hệ sở hữu trong khu vực Nhà nớc cha đợc giải
quyết triệt để cũng làm hạn chế sự vơn lên, sáng tạo, dám nghĩ dàm làm của đội
ngũ cán bộ quản lý. Bên cạnh đó cơ chế quản lý ở tầm vĩ mô còn những hạn
dân mới trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật độc lập từ năm 1987 ngành da
giầy ngày nay đã trở thành một ngành có sức phát triển mạnh kim ngạch xuất
khẩu lớn cùng ngành dệt may đóng góp đáng kể vào sự tăng trởng kinh tế chung
của đất nớc. Tuy nhiên ngành sản xuất da giầy còn lệ thuộc nhiều vào các đối
tác nớc ngoài do chủ yếu làm gia công, hiệu quả kinh tế còn thấp (chỉ trừ mặt
hàng giày vải là tơng đối chủ động trong sản xuất.
Trong thời gian tới để trở thành một quốc gia mạnh về sản xuất da và
xuất khẩu giày dép chúng ta phải cần xúc tiến mở rộng thị trờng hơn nữa, có
biện pháp xâm nhập thị trờng khó tính hoà nhập vào mạng lới tiêu thụ của các
tập đoàn lớn trên thế giới. Đồng thời cần quan tâm nâng cao giá trị xuất khẩu
không chỉ ở số lợng mà cả hiệu quả kinh tế bằng cách phát triển sản phẩm độc
lập, tiến tới tự chủ trong cung cấp nguyên vật liệu, tự chủ cả về thị trờng, khoa
học, công nghệ, mẫu, mốt thời trang, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
Trớc tình hình đó, hởng ứng đổi mới, hoà nhập và mở cửa nền kinh tế của Đảng
và Chính phủ, các doanh nghiệp da giầy Việt Nam đã năng động nắm bắt những
thời cơ và vận hội mới, phát huy mọi tiềm lực với những nỗ lực cao nhất để tiếp
nhận sự chuyển dịch ngành da giầy thế gioứi thông qua việc hợp tác, gia công,
liên doanh liên kết đầu t 100% vốn nớc ngoài với các đối tác nớc ngoài mà chủ
yếu là Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan.
II. hoạt động xuất khẩu da giầy Việt Nam sau 1990
1. Thực trạng xuất khẩu
Sau khi Liên Xô cũ và Đông Âu tan rã toàn bộ chơng trình hợp tác gia
công mũ giày với các nớc này chấm dứt ngành da giầy Việt Nam bớc vào thời
kỳ phát triển mới, thời kỳ tiếp nhận sự chuyển dịch sản xuất các sản phẩm dày
dép để xuất khẩu từ các nớc nhập khẩu trong khu vực nh Đài Loan, Hàn Quốc,
Hồng Kông nhằm khai thác lợi thế mà Việt Nam có đợc trong sản xuất và xuất
khẩu giày dép. Đó là : Việt Nam có lực lợng lao động dồi dà, trẻ khoẻ, tiếp thu
nhanh, tiền công lao động còn thấp Việt Nam cha bị các nớc nhập khẩu giày
dép khống chế bằng hạn ngạch và đợc chế độ u đãi thuế quan (GSP) nếu đáp
ứng đủ tiêu chuẩn, xuất xứ C/O.
chấm dứt hợp đồng sản xuất nên sản lợng chỉ đạt 80% kế hoạch đợc giao. Trong
khi đó, các đơn vị sản xuất da thuộc vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Nguồn
nguyên liệu không ổn định, chất lợng thấp, thiết bị lạc hậu nên sản phẩm da
thuộc chất lợng thấp, giá thành cao, cha lọt vào kênh tiêu thụ. Vì rất nhiều yếu
tố, cả chủ quan và khách quan tác động nên các chỉ tiêu kinh tế đề ra cha thực
hiện đợc nh mong muốn. Tuy giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 671 tỷ đồng
(bằng 92% kế hoạch 1998 và bằng kế hoạch 1997) ; tổng doanh thu đạt hơn
1.128 tỷ đồng (bằng 102,5% kế hoạch1998) ; giá trị xuất khẩu toàn Tổng Công
ty thực hiện đờc 188 triệu USD đạt 97,1% kế hoạch năm và bằng 97,7% so với