Tiểu luận
Đề tài: Quỹ đầu tư chứng khoán và
thực trạng của các quỹ đầu tư tại Việt
Nam hiện nay Lời mở đầu.
Trước xu thế phát triển và hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như
hiện nay thì nhu cầu về vốn để đẩy mạnh phát triển kinh tế , tránh tụt hậu là
vấn đề cần thiết đối với mỗi nước . Để huy động vốn một cách tối đa , ngoài
sự góp mặt của ngân hàng còn có một số tổ chức phi ngân hàng khác điển hình
là quỹ đầu tư (QĐT) , một định chế tài chính trung gian tham gia hoạt động
kinh doanh trên thị trường đặc biệt là trên thị trường chứng khoán (TTCK) .
tham gia đông đảo vào quỹ đầu tư nhiều , họ còn phải dè dặt vốn ít ỏi của
mình , không thể tập trung vào một kiểu đầu tư còn xa lạ như vậy .
Thứ ba, TTCK Việt Nam mới ở giai đoạn sơ khai , chưa cho phép một
mức giao dịch năng động chứng khoán chỉ đầu tư do quỹ phát hành . Việc rút
vốn của các nhà đầu tư ra khỏi quỹ này nếu không được mua bán cổ phần trực
tiếp vói nhau thì phải thực hiện ở các sở giao dịch nước ngoài .
Nói tóm lại , các quỹ đầu tư do người nước ngoài thành lập vào hoạt động
đầu tư vào thị trường Việt Nam vùă giúp cho phát triển , vừa tạo ra bước khởi
động cho ngành quỹ , gíp Việt Nam học tập kinh nghiệm quản lí quỹ đầu tư.
Đặc điểm của 5 quỹ thành lập sớm nhất ở Việt Nam :
Đây đều là những quỹ tư nhân và hoạt động dưới hình thức quỹ đóng .
Cách thức hoàn vốn của các quỹ là khác nhau , có thể hoàn vốn vào một thời
điểm ấn định , hoặc cho phép chiết khấu sau mỗi thời hạn nhất định …Chính
sách hoàn vốn của các quỹ được tóm tắt như sau :
Mục đích của các quỹ thường là tăng trưởng vốn trong dài hạn .
Phương thức đầu tư đa dạng : Các quỹ không chỉ đầu tư bằng cách mua cổ
phiếu của các công ty mà có thể đưa vào Việt Nam dưới các khoản vay nợ .
Một số quỹ còn tập trung để có được cổ phiếu kiểm soát của các công ty .
Phương thức đầu tư của các quỹ :
Khi đầu tư vào Việt Nam , các quỹ đầu tư nước ngoài tận dụng được
những thuận lợi sau :
Thứ nhất , chính phủ Việt Nam đã có những chính sách ủng hộ quỹ đầu tư
; các Bộ , các ngành đã phối hợp để ban hành qui chế hoạt động cho sự hoạt
động của quỹ , đặc biệt là cỉa cách pháp luật , chính sãh ưu đãi đầu tư .
Thứ hai, các tổ chức ( ngân hàng , bảo hiểm , tổng công ty Nhà nước) và
các cá nhân có thu nhập cao có nhu cầu đầu tư ,
Thứ ba, trong thời gian qua , Việt Nam đẫ đẩy mạnh cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước , góp phần tạo môi trường cho QĐT đẩy mạnh đầu tư vào
các công ty cổ phần và giúp các doanh nghiệp này được niêm yết và giao dịch
tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán .
một doanh nghiệp trên tổng nguồn vốn của quỹ là quá thấp và cũng lí do trên
mà doanh nghiệp đầu tư vào nhiều doanh nghiệp khác nhau . Kết quả chi phí
quản lí khá cao , hầu hết các công ty đều chưa có lãi .
Thông tin sơ lược về các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động ở Việt nam
Quỹ Beta
Quỹ này được quản lý ở Việt nam bởi nhân viên kế toán người Anh và
một luật sư người Mỹ .Kể từ khi ra đời vào năm 1993, quỹ đã có một số thay
đổivề các nhà quản lý cao cấp .Quỹ có một số nhà quản trị là những chuyên
gia tư vấn hàng đầu của Việt Nam về đầu tư và luật pháp . Mục tiêu hiện tại
của quỹ là chỉ đầu tư vào các công ty do người người nước ngoài quản lý .Beta
Fund không xem xét việc đầu tư vào các công ty đang trong quá trình khởi
nghiệp và các công ty trong nước . Dường như quỹ này sẽ không tăng cường
đầu tư vào các công ty liên doanh có vốn nước ngoài nữa , vì diễn biến vừa
qua là không tích cực . Giám đốc quỹ Beta cho rằng các động cơ của một đối
tác công nghiệp nước ngoài không phù hợp với động cơ của một tổ chức do
Nhà nước Việt Nam sở hữu . Giải pháp đầu tư Beta tiến hành trong thời gian
qua là chớp thời cơ . Một khi một khoản đầu tư được coi là hấp dẫn thì dường
như sẽ xuất hiện một giải pháp thẩm định khá chi tiết theo mô hinh Anh – Mỹ
. Theo những dấu hiệu gần đây nhất , Beta Fund đang có một sự thay đổi quan
trọng trong định hướng đâu tư để thích ứng với những cơ hội của thị trường do
những sự thay đổi tích cực gần đây về luật và môi trường kinh doanh mang lại
.
Quỹ Việt Nam Frontier
Quỹ này do Finasa , một ngân hàng thương mại có trụ sở tại Băng Cốc
quản lí . Sau đợt giảm quy mô hoạt động ở Việt Nam gần đây của quỹ , quyền
quản lí được giao cho hai giám đốc cấp thấp đảm nhiệm . Các chuyên gia quản
lí cao cấp của quỹ đã chuyển về Băng Cốc và các quyết định quan trọng sẽ
được đưa ra từ Băng Cốc . Tương tự như quỹ Beta , quỹ này chỉ đầu tư vào
các công ty do người nước ngoài quản lí . Các công ty liên doanh cũng không
nằm ngoài danh sách đầu tư của quỹ này . Với việc giảm bớt các nhân viên ở
Nhiều quỹ đã không đạt được những thành công như mong muốn là bởi
vì:
Thứ nhất , hành lang pháp luật của Việt Nam đang được xúc tiến và cải tổ
nhưng thực tế nhiều năm qua cho thấy , nó luôn không theo kịp nhịp đập của
thị trường . Điều đó càng rõ nét đối với một thị trường có tính chất hoàn toàn
mới mẻ như TTCK . Cách đây 8 năm , đại bộ phận người dân Việt Nam hầu
như còn chưa biết đến hai từ “Chứng khoán” . Thuần tuý đầu tư rài chính , các
quỹ đầu tư nêu trên phải làm một công việc đầy khó khăn : “ Cung tạo cầu “.
Đó thực sự là một sự chấp nhận thử thách và tham vọng đón trước thời cơ . Họ
có tầm nhìn xa nhưng lại không nhận được sự hậu thuẫn đầy đủ từ phía Nhà
nước . Thiếu điều kiện thiết yếu đó cộng thêm một cái nhìn dè chừng khi họ ở
vị thế của những đối tác nước ngoài đã khiến các quỹ đầu tư này không thể
tiếp cân được những cơ hội đầu tư thuận lợi . Giới hạn của Luật đầu tư nước
ngoài và gần đây là luật doanh nghiệp chỉ cho phép các đối tác nước ngoài
được nắm giữu tối da 30% cổ phiếu của một công ty . Khi vào Việt Nam , mục
tiêu của các quỹ đầu tư là kinh doanh chênh lệch giá . Điều đó không thể thực
hiện được khi tính lỏng của TTCK Việt Nam vào những năm 94,95,96 là bằng
không . Họ cũng nhận thức rõ thực tế và chủ trương nắm giữ cổ phiếu của
công ty triển vọng , tham gia quản lí các công ty này nhằm làm giá trị của
chúng ngày càng có giá trị cao hơn . Tuy nhiên bị giới hạn ở mức tối đa 30%
cổ phần , tác động của họ với đối tác đầu hoàn toàn không đủ mạnh . Hơn nữa
, tại thời điểm đó , hầu hết các điều luật về chứng khoán, tài chính , ngân hàng
có liên quan cũng đều không đồng bộ . Tất cả những điều đó làm cho sáu quỹ
đầu tư đều phải hoạt động trong một hành lang pháp lí hẹp .
Thứ hai, môi trường và nền văn hoá của giới kinh doanh trong nước cũng
là một nguyên nhân dẫn đến sự không thành công của các QĐT ở Việt Nam
thời gian qua . Nguyên tắc đầu tư là đầu tư gián tiếp thông qua nắm giữ cổ
phiếu . Nó chỉ thực sự an toàn khi đầu tư vào những công ty đã qua thử thách .
Nhưng khi vào Việt Nam , các quỹ này tìm được rất ít cơ hội góp một số vốn
có ý nghĩa vào các công ty có sẵn ( các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá) .
Tại Việt Nam , trong khi lượng tiền gửi tiết kiệm đang gia tăng nhanh
chóng thì các cơ hội đầu tư cho nhà đầu tư trong nước vẫn còn hạn chế . Việc
hình thành và đi vào hoạt động của các loại công ty quản lí quỹ đầu tư chứng
khoán sẽ cung cấp một kênh hoàn toàn mới trong dân cư để họ có thể tiếp cận
với những dịch vụ quản lí đầu tư chuyên nghiệp . Vì vậy “ mục đích của VFM
là khôgn phải chỉ phục vụ những khách hàng hiện tại của chính VFM mà còn
mở rộng qui mô phục vụ cho tất cả nhà đầu tư tiềm năng khác trong phạm vi
cả nước” ông Đặng Văn Thành , chủ tich hội đồng quản trị Sacombank cho
biết .
Việc ra đời công ty quản lí quỹ đầu tiên tại Việt Nam là một dấu mốc quan
trọng trong việc phát triển thị trường tài chính tại Việt Nam . Hiện nay nhu cầu
thành lập các tổ chức tài chính trung gian trong nước rất lớn . Các tồ chức này
ra đời không chỉ là chất xúc tác cho thị trường phát triển sôi động bằng cách
khuyến khich các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá và các công ty cổ phần
niêm yết cổ phiếu trên TTCK mà còn là một phương cách đánh giá qui mô
một TTCK khi những nguồn vốn nhàn rỗi trong nước chuyển hoá thành vốn . CHƯƠNG 3
Định hướng hình thành và phát triển quỹ đầu tư ở Việt Nam
3.1 Một số định hướng để hình thành và phát triển quỹ đầu tư ở Việt
Nam
Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới cùng với
thực trạng tồn tại ảnh hưởng tới sự hình thành của quỹ đầu tư chứng khoán ,
em xin đề xuất một số định hướng phát triển quỹ đầu tư mà theo em là phù
hợp với điều kiện và môi trường kinh tế Việt Nam .
Phát triển ngành quỹ đầu tư từng bước , từ qui mô lớn phù hợp với qui mô
và tiến trình phát triển của TTCK Việt Nam .
Việc phát triển các định chế trên theo qui mô từ nhỏ đến lớn là bước đi
phù hợp vì bản thân qui mô của thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường
vân dụng kinh nghiệm của cá nước để đẩy nhanh tốc dộ phát triển của TTCK ,
góp phần vào việc huy động vốn dài hạn , thực hiện công nghiệp hoa hiện đại
hoá , sớm hoà nhập vào tiến trình phát triển ngang bằng với các nước trong
khu vực .
Chúng ta có thể nghiên cứu áp dụng mô hình dạng công ty trong một thời
gian ngắn sau khoảng từ 3-5 năm , sau khi đã hình thành và phát triển một số
quỹ đầu tư dạng hợp đồng . Tất nhiên vấn đề cơ bản đối với việc áp dụng mô
hình này tại Việt Nam là hạ tầng pháp lí đầy đủ và đồng bộ cho các tổ chức
tham gia và hoạt động của quỹ .
3.2 Các giải pháp và kiến nghị cho sự hình thành và phát triển của
quỹ đầu tư ở Việt Nam
3.2.1 Các giải pháp
3.2.1.1 Chỉnh sửa hệ thống văn bản pháp lí
Các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp tới hoạt động của quỹ đầu tư
chứng khoán là nghị định 48/ CP- NĐ/ 1998 và kèm theo quyết định số 05/
1999 / QĐ - UBCKNN ngày 13 /10/1998 và qui chế tổ chức hoạt động quỹ
đầu tư và công ty quản lí quỹ của uỷ ban chứng khoán Nhà nước . Các văn
bnả này đã ban hành cách đây 5 năm khi bản thân thị trường chứng khoán
chưa được hình thành . Vai trò của các văn bản trên đã góp phần quan trọng
đáng kể cho sự hình thành và phát triển của TTCK đầu tiên tại Việt Nam . Vì
được xây dựng trên cơ sở lí thuyết nên một số qui định chưa được phù hợp với
thực tế hoạt động cũng là điều không tránh khỏi . Vì vậy sau thời gian 3 năm
thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động , cần có sự điều chỉnh văn bản
pháp lí cho phù hợp để không những tạo sự phát triển ổn định và bền vững cho
thị trường chứng khoán mà còn là cơ sở để các quỹ đầu tư phát triển hơn .
Các qui định cần sửa đổi bổ sung hoặc đưa vào trong nghị định 48 /1998/
CP- NĐ :
Định nghĩa quỹ đầu tư chứng khoán .
trong sáng , tạo cơ sở niềm tin cho công chúng . Điều đó đòi hỏi phải có kế
hoạch , chương trình đào tạo có hệ thống và kĩ lưỡng để xây dựng đội ngũ các
nhà quản lí chuyên nghiệp cho QĐT .
3.2.1.3 Nhà nước cần khuyến khích và hỗ trợ tích cực
cho việc hình thành và phát triển QĐT -Trợ giúp trong việc tạo hàng hoá cho sự hoạt động của quỹ đầu tư .
Một trong những mục tiêu hàng đầu của quỹ đầu tư là thực hiện
đa dạng hoá đầu tư vào chứng khoán . Trong điều kiện hiện nay , số
lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường còn nhiều hạn chế , để tạo
điều kiện cho quỹ đầu tư bước đầu đi vào hoạt động có hiệu quả , Nhà
nước cần trợ giúp hàng hoá chứng khoán cho sự hoạt động của quỹ đầu
tư . Sự trợ giúp được thực hiện bằng cách khi tiến hành cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước , Nhà nước nên dành ưu tiên mua cổ phiếu bán
ra bên ngoài . Hiện nay, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước thường
dành một tỉ lệ 15%-20% số cổ phiếu phát hành để bán ra bên ngoài .
Thực tế cho thấy rằng những doanh nghiệp cổ phần hoà làm ăn tốt thì
các nhà đầu tư riêng lẻ là công chúng khó có thể mua được cổ phiếu của
các doanh nghiệp này . Vì thế việc dành ưu tiên mua cho các quỹ đầu tư
vừa tạo điều kiện cho các quỹ đầu tư hoạt động lại vừa thực hiện phổ
biến rộng rãi cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hoá cho công
chúng qua việc họ mua chứng chỉ quỹ đầu tư của quỹ .
-Thực hiện chính sach ưu đãi về thuế đối với hoạt dộng đầu tư
chứng khoán của quỹ đầu tư .
Quỹ đầu tư là một hình thức đầu tư còn còn rất mới mẻ , chắc
chắn rằng khi thành lập và những năm đầu mới đi vào hoạt động sẽ gặp
nhiều khó khăn . Do vậy việc thực hiện ưu đãi về thuế đối với hoạt động
đầu tư chứng khoán của quỹ là việc hỗ trợ hết sức quan trọng và cần
thiết của Nhà nước đối với sự hoạt động và phát triển của quỹ đầu tư
và thị trường chứng khoán nói riêng cần được chính phủ phê
duyệt . Trong đó , xác định rõ vai trò quan trọng của Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước , đồng thời xác định văn bản pháp lí
thống nhất cao nhất đó là luật chứng khoán .
- Mở cửa hơn nữa TTCK cho các nhà đầu tư có tổ
chức , đặc biệt khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài , các
quỹ đầu tư trong nước tham gia . Đặc biệt là cần đơn giản hoá
về thủ tục và nâng cao tỉ lệ được phép tham gia của nước ngoài
.
- Nâng cao ưu đãi cho các tổ chức tham gia thị trường
, loại bỏ thuế chênh lệch lãi vốn cho các tổ chức giao dịch
chứng khoán .
- Nghiên cứu , đề xuất biện pháp niêm yết bắt buộc
đối với các công ty cổ phần hoá có vốn điều lệ trên 10 tỷ và có
trên 100 cổ đông bên ngoài và các chứng khoán nợ giá trị lớn
hơn 250 tỷ .
- Phát hành các chứng khoán nợ dài hạn hơn , hấp dẫn
hơn niêm yết các chứng khoán nợ có thời hạn lớn hơn 12 tháng
và các trái phiếu công trình .
KẾT LUẬN
Trong những năm vừa qua , nền kinh tế nước ta phát triển tương dối ổn
định . Năm 2003 , GDP đạt 7,04% , tỷ lệ đói nghèo giảm từ 20% xuống còn
10% ,điều đó chứng tỏ sự đúng đắn trong đường lối chiến lược mà Đảng đề ra
. Và để đáp ứng nhu cầu về vốn cho những năm tiếp theo , một trong những