Sự tiến hóa
của sinh vật Sự tiến hóa bao gồm cả chọn lọc tự nhiên
của Darwin và đột biến gen ở mức độ
loài được rộng rãi các nhà khoa học thừa
nhận. Tuy nhiên, cho đến nay cũng chưa
có sự thống nhất về cơ chế của nó, đặc
biệt vai trò tương đối nào của 3 cơ chế
chủ yếu: chọn lọc, đột biến và tính ngẫu
nhiên; vai trò nào của sự chọn lọc ở các
mức tổ chức sinh học cao (đồng tiến hóa
và sự chọn lọc nhóm).
Từ thời Darwin, nói chung, các nhà sinh
học đã cho rằng, sự tiến hóa là một quá
trình chậm chạp, diễn ra từ từ, kể cả
những đột biến nhỏ và sự chọn lọc tự
nhiên liên tục nhằm đảm bảo tính ưu thế
trong cạnh tranh ở mức độ loài. Song,
vấn đề trong biên niên sử cổ phát
sinh chủng loại không tìm được các
dạng trung gian, buộc những nhà nghiên
cứu cổ phát sinh phải công nhận thuyết
"cân bằng gián đoạn". Theo lý thuyết
này, trong một thời kỳ dài các loài
không biến đổi về trạng thái nguồn gốc
của mình trong tiến hóa cân bằng. Theo
thời gian, cân bằng này bị đứt đoạn, khi
ở 2 bên sườn núi cao). Theo thời gian, sự
cách ly đó đủ đạt để có được sự cách ly
về di truyền nếu như chúng không có cơ
hội tiếp xúc với nhau (không có sự trao
đổi gen). Điều đó cho phép chúng tồn tại
như những loài riêng biệt trong các ổ
sinh thái khác nhau. Đôi khi, những sự
khác nhau đó có thể tăng lên do sự dịch
chuyển các dấu hiệu. Nếu vùng phân bố
của 2 loài gần nhau về nguồn gốc lại
chồng chéo lên nhau thì ở chúng xuất
hiện sự phân ly (Divergent) theo một hay
một số dấu hiệu về hình thái, sinh lý hay
tập tính trong vùng giao nhau đó, còn sự
đồng quy (Convergent) lại xuất hiện
trong các phần không chồng chéo, trên
đó mỗi loài sống riêng biệt. L.L. Brown
và E.O. Wilson (1956) đã giải thích
những hiện tượng đó và cho ví dụ
về dịch chuyển các dấu hiệu theo kiểu
tương tự như trên.
Nhiều tài liệu tích lũy được đều
khẳng định rằng, để hình thành loài
mới cũng không nhất thiết cần có sự cách
ly địa lý khắc nghiệt và cho rằng, sự hình
thành loài cùng vùng phân bố
(Sympatric) là hiện tượng phổ biến và
đóng vai trò quan trọng hơn so với quan
niệm kinh điển đã nêu ở trên. Ta có thể
thấy ngay trong một vùng địa lý, các
cho bướm một màu đen trong những
vùng công nghiệp phát triển ở nước Anh.
Nhờ vậy, trên các thân cây trong vùng,
bướm bị "bôi đen" sống sót tốt hơn
so với những bướm trắng do chim ăn
bướm khó phát hiện (Kettlewell, 1956).
- Chọn lọc nhân tạo: Đó là sự chọn lọc
gây ra do con người với mục đích làm
cho các loài thích nghi với nhu cầu của
mình. Thuần hóa các loài động, thực vật
không chỉ làm cho chúng biến đổi về mặt
di truyền mà còn tạo nên dạng hỗ sinh
đặc biệt giữa người và vật được
thuần hóa (Odum, 1983). Chọn lọc nhân
tạo đem lại lợi ích cho con người, nhưng
cũng làm hại cho thiên nhiên và sinh
giới do sự thất thoát gen ra môi
trường hoang dã, đem đến sự suy thoái
cho loài, giảm mức đa dạng sinh học của
các hệ sinh thái.
- Đồng tiến hóa: Đó là kiểu tiến hóa
của các quần xã sinh vật, nghĩa là
quá trình tiến hóa của các mối tương
tác giữa các sinh vật mà trong đó sự
trao đổi thông tin di truyền giữa các
nhóm rất hạn chế hoặc hoàn toàn không
có, bao gồm cả các tác động có chọn lọc
của 2 nhóm lớn với nhau, phụ thuộc vào
nhau một cách mật thiết về mặt sinh thái
như thực vật và động vật ăn cỏ, động vật
nhất thiết phải liên quan chặt chẽ với
nhau bằng các mối tương tác bắt buộc.
Về mặt lý thuyết, chọn lọc nhóm mang
tính đào thải hay duy trì ở tần số thấp
những tính trạng có thể bất lợi đối với sự
sống sót của các cá thể phải mang gen
riêng biệt trong quần thể loài, nhưng lại
có giá trị chọn lọc trong nội bộ quần thể
và quần xã. Chọn lọc nhóm bao gồm
những lợi ích mà cá thể nhận được khi nó
tham gia hoàn thiện tổ chức của quần xã,
nơi cần cho sự tồn tại lâu dài của chính
cá thể đó. D.S. Wilson (1980) đã nêu ra
khái niệm về chọn lọc nhóm. Theo
ông, các quần thể thường tiến hóa
bằng cách kích thích hay kìm hãm các
quần thể khác mà chúng có vai trò chi
phối sự thích nghi riêng biệt của mình.
Trong trường hợp như thế, ở những
khoảng thời gian tiến hóa khác nhau, sự
thích nghi của cá thể là sự phản ảnh các
tác động riêng biệt của mình lên quấn xã
và những phản ứng của quần xã lên sự có
mặt của quần thể đó. Nếu những phản
ứng ấy đủ mạnh thì chỉ những loài gây
tác động có lợi lên quần xã sẽ tồn tại lâu
dài. Wilson đưa ra nhũng bằng
chứng rằng, chọn lọc nhóm được làm
giảm nhẹ bởi sự chọn lọc giữa các
phần của quần thể có liên quan chặt