Thành phần tuổi
trong quần thể
Quần thể bao gồm nhiều cá thể do
vậy gồm nhiều nhóm tuổi, chúng có
quan hệ mật thiết với nhau về mặt sinh
học, tạo nên cấu trúc tuổi của quần thể.
Tuổi là khái niệm để chỉ thời gian sống
và đã sống của cá thể, tuổi được tính theo
các đơn vị thời gian khác nhau, tuỳ thuộc
vào đời sống cá thể dài hay ngắn (giờ,
ngày, tuần, tháng năm hoặc số lần lột
xác).
Tỷ lệ giữa các nhóm tuổi của từng thế hệ
có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu
sinh thái học và trong thực tế sản xuất.
Nếu xếp chồng số lượng các nhóm tuổi
theo các thế hệ từ non đến già ta có tháp
tuổi.
Cấu trúc tuổi của các quần thể khác nhau
của loài hay của các loài khác nhau có
thể phức tạp hay đơn giản, liên quan với
tuổi thọ trung bình của quần thể hay của
loài cao hay thấp. Chẳng hạn cấu trúc
tuổi của quần thể cá mòi cờ hoa
(Clupanodon thrissa) ở vùng cửa
sông Hồng gồm 5 nhóm tuổi (Vũ
ổn định vững chắc và mang đặc trưng
của loài.
Trong nghiên cứu sinh thái học người ta
chia đời sống của cá thể thành 3 giai
đoạn tuổi:
+ giai đoạn tuổi I: trước sinh sản
+ giai đoạn tuổi II: đang sinh sản
+ giai đoạn tuổi III: sau sinh sản.
Do đó trong quần thể hình thành 3
nhóm tuổi tương ứng. Mỗi nhóm có ý
nghĩa sinh thái khác nhau, tham gia vào
cơ chế điều chỉnh số lượng của quần thể.
- Nhóm trước sinh sản là những cá thể
chưa có khả năng sinh sản. Sự tăng
trưởng của cá thể xảy ra chủ yếu là tăng
kích thước và khối lượng. Cơ quan sinh
dục và sản phẩm sinh dục đang phát triển
để đạt đến trạng thái thành thục ở dạng
trưởng thành. Nhóm này là lực lượng bổ
sung cho nhóm sinh sản của quần thể.
- Nhóm đang sinh sản là lực lượng tái sản
xuất của quần thể. Tuỳ từng loài mà
nhóm này sinh sản 1 lần hay nhiều lần
trong đời. Sức sinh sản lớn hay nhỏ phụ
thuộc vào tiềm năng sinh học của mỗi
loài và thích nghi với mức tử vong cao
hay thấp.
- Nhóm sau sinh sản gồm những cá thể
không có khả năng sinh sản nữa và chúng
có thể sống đến cuối đời.
nhau và thậm chí còn thay đổi ngay trong
một loài, phụ thuộc vào điều kiện sống,
sự chăm sóc lứa tuổi còn non và tuổi già.
Ví dụ như ở nhiều loài động vật, nhất là
côn trùng, thời kỳ trước sinh sản rất dài,
thời kỳ sinh sản và sau sinh sản rất ngắn
như thiêu thân, ve sầu, chuồn chuồn ở
một số loài chuồn chuồn, thời kỳ trứng
và ấu trùng kéo dài 2 năm, sau khi lột xác
thành dạng trưởng thành chỉ sống 4 tuần
và đẻ trong 1 hoặc 2 ngày. Ở một số loài
chim và thú có thời gian sau sinh sản
dường như rất ngắn hoặc không có. Ví
dụ, nai đuôi đen sống ở đồng cỏ cứng có
khả năng sinh sản cho tới khi chết ở tuổi
thứ 10, có thể mô tả tháp tuổi sinh thái
như sau: 42% số cá thể của quần thể
thuộc nhóm trước sinh sản, 58% số cá thể
của quần thể đang sinh sản; trong đó
29% thuộc tuổi 1-3 và 29% thuộc tuổi 3-
10.
Ở thực vật, một số loài thông sống trên
200 năm, sinh sản trước 10 tuổi, trong
khi đó phần lớn thực vật hạt kín
cũng với tuổi thọ trên 200 năm,
nhưng tuổi trước sinh sản kéo dài tối
thiểu 20 năm. Nhìn chung, thời kỳ trước
sinh sản của thực vật hạt kín so với đời
sống có tỷ lệ 1:10. Những cây có thời kỳ
trước sinh sản ngắn thì tuổi thọ cũng