Tài liệu Tài liệu tập huấn chăn nuôi 2009 - Phần 4 - Pdf 10

PHẦN IV
MỘT SỐ TIẾN BỘ KỸ THUẬT TRONG CHĂN NUÔI
Ngày nay, giống vật nuôi khác xa với tổ tiên của chúng. Dó là kết quả của
một quá trìn thuần dưỡng và chăn nuôi lâu dài, với việc áp dụng các thành tựu
khoa học công nghệ trong chọn lọc, nhân giống, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý.
Trong giai đoạn 1945 - 1995, sản lượng sữa của bò HF đã tăng lên 3 lần nhờ sử
dụng tinh bò đực giống cao sản trong các chương trình TTNT và cải tiến quản lý.
Tương tự, việc nhân giống đã cho ra các giống lợn nạc lớn nhanh, đồng đều về
khối lượng, tỷ lệ nạc cao. Cũng nhờ chọn lọc và các công nghệ trong chăn nuôi,
sản lượng trứng gà đã tăng từ 134 quả/mái/năm (năm 1940) lên 254 quả/mái/năm
(năm 1994). Nếu như vào năm 1950, để nuôi gà thịt thương phẩm phải mất 84
ngày mới đạt khối lượng 1,8kg/con thì ngày nay chỉ mất 43 ngày và chỉ tiêu tốn
một nữa thức ăn. Điều đó thể hiện vai trò của khoa học công nghệ và lợi ích của
việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi. Chúng tôi giới thiệu một số
TBKT thuộc lĩnh vực chăn nuôi đang được chuyển giao sản xuất ở nước ta.
I. Trồng thâm canh các giống cỏ chất lượng cao
Trong thời gian qua chúng ta đã nhập một số giống cỏ chất lượng cao từ
Australia. Đó là các giống Sweet Jumbo, Superdan (cả ai giống này thuộc loại
thân đứng, cỏ hỗn hợp (hoà thảo và họ đậu) Các giống cỏ này có hàm lượng
đạm cao từ 14 – 18%, có thể lên đến 20%
(hàm lượng đạm cỏ voi 8-10%), tỷ lệ tiêu
hoá cao, gia súc nhai lại rất thích ăn và rất
thích hợp để nuôi trâu, bò, dê thâm canh.
Năng suất 200tấn/ha/năm (giống Sweet
Jumbo, Superdan); năng suất trên 250
tấn/ha/năm đối với cỏ hỗn hợp. Các giống cỏ
trên có thể được sử dụng dưới dạng tươi,
phơi khô hoặc ủ chua.
II. Sản xuất tảng khoáng liếm cho gia súc nhai lại
Tảng khoáng liếm là loại thức ăn bổ xung khoáng đa lượng và vi lượng từ
các nguồn nguyên liệu khoáng tự nhiên và khoáng hữu cơ sẵn có ở địa phương.

chủng. Kết quả này mở ra triển vụng cho việc nhân bản các loài động vật này để
bảo tồn quỹ gen.
Việc cấy truyền phôi bò đã trở thành quy trình. Tuy nhiên, việc triển khai
công nghệ này trong sản xuất cò gặp nhiều khó khăn do giá thành cao. Để khức
phục tình trạng này gần đây chúng ta đã thành công trong công việc tạo phôi bò
trong ống nghiệm từ tế bào trứng lấy từ lò mổ hoặc từ bò sống với sự trợ giúp
của máy siêu âm. Kết quả: số té bào trứng trung bình thu được từ mỗi buồng
trứng là 14,92 đối với bò giết thịt ở lò mổ và 3,98 đối với bò sống. Các tế bào
này được nuôi cấy in vitro và sau đó
được thụ tinh trong ống nghiệm, tỷ lệ
thành thục là: 65,61% và 71,28%; tỷ lệ
thụ tinh trong ống nghiệm là 51,29%
và 53,73% tươn ứng với hai nhóm bò.
Các trứng đã thụ tinh phát triển thành
phôi và được chuỷen cấy cho bò cái,
đạt tỷ lệ thụ thai: 27-30%
14
V. Công thức lai ba máu lợn ngoại cho tỷ lệ nạc cao
Sử dụng ba giống lợn ngoại thuần: Landrace, Yorkshire, Duroc để tạo ra
con lai thương phẩm có tỷ lệ nạc cao. Trước hết tạo nái lai từ công thức đực
Landrace x cái Yorkshire hoặc đực Yorkshire x cái Landrace, sau đó dùng đực
Duroc cho phối với nái lai F
1
. Lợn nái lai có năng suất sinh sản và sinh trưởng
tăng lên rõ rệt so với các giống thuần. Số lứa đẻ/nái/năm đạt 2,1 lứa; số con sơ
sinh còn sống; số con cai sữa/ổ; khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa/ổ đều
tăng từ 10 – 15%. Tăng trọng bình quân ở lợn thịt đạt 750g/con/ngày, tiêu tốn

nạc cao do có 50% máu lợn Duroc.
Công thức lai này có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều trang trại khác nhau.

15
x x x

Landrace
Yorkshire
Duroc
Móng cái
25%L+ 25%M+50%Y
50%L + 50%M
12,5%L+12,5%M+25%Y+50%D
VII. Công nghệ chuồng lồng, chuồng sàn
Chuồng lồng, chuồng sàn công nghiệp cho phép chúng ta có thể điều
chỉnh điều kiẹn tiểu khí hậu, chế độ ăn uống và vệ sinh thú y phù hợp với yêu
cầu của từng cá thể lợn, theo từng giai đoạn phát triển và sản xuất của chúng.
Mặt khác, giúp chúng ta tiết kiệm được diện tích chăn nuôi, công chăm sóc và
thuận tiện hơn trong quản lý đàn lợn.
1. Ưu điểm:
- Cho phép điều khiển điều kiện
tiểu khí hậu, chế độ ăn.
- Tiết kiệm diện tích, công chăm
sóc.

kg/con mái, tiêu tốn thức ăn bình quân 3,08kg/kg tăng trọng.
- Dòng siêu nặng: khối lượng lúc 12 tuần tuổi đạt 4,40kg/con trống và
2,70 kg/con mái, tiêu tốn thức ăn bình quân 3,00 – 3,10kg/kg tăng trọng.
4. Mula (con lai giữa ngan và vịt): Khối lượng lúc 80 ngày tuổi đạt 3,7kg/con
trống và 3,5kg/con mái với tiêu tốn thức ăn bình quân 2,7 - 2,9kg/kg tăng trọng.
Tỷ lệ thịt xẻ đạt 74%,tỉ lệ mỡ thấp hơn so với cả ngan và vịt. IX. Các giống gà thịt lông mầu năng suất chất lượng cao, phù hợp với chăn
nuôi tập trung hoặc bán chăn thả, an toàn sinh học
1. Gà Lương Phượng: nhập từ Quảng tây (Trung Quốc); khối lượng lúc 10 tuần
tuổi đạt 1,8kg/con; tiêu tốn 2,6 - 2,7kg thức ăn/kg tăng trọng.
2. Gà Sasso: Có nguồn gốc từ Cộng hoà Pháp, nhập vào nước ta năm 2002. khối
lượng lúc 56 ngày tuổi đạt 2,0 kg/con; tiêu tốn 2,16 kg thức ăn/ kg tăng trọng.

17
3. Gà Kabir: Có nguồn gốc từ Israel, nhập vào nước ta năm 2000. Khối lượng
cơ thể lúc 9 tuần tuổi đạt 2,16kg/con, tiêu tốn 2,4kg thức ăn/kg tăng trọng.
4. Gà Isa color: Do hãng Hubbard ISA (Pháp) lai tạo và được nhập vào nước ta
năm 2002. khối lượng cơ thể lúc 9 tuần tuổi đạt 1,7kg với mức tiêu tốn 2,37 kg
thức ăn/kg tăng trọng.
5. Gà Sao: có nguồn gốc từ Madagasca, đang được thuần hoá và nuôi nhiều ở
Châu Âu. Gà Sao được nhập từ Hungari vào nước ta năm 2002. có 3 dòng là Sao
nhỏ, Sao trung bình, Sao lớn. Khối lượng cơ thể 12 tuần tuổi đạt tương ứng là
1,37; 1,38 và 1,88 kg/con; tiêu tốn thức ăn tương ứng là 2,81; 2,77 và 2,34 kg/kg
tăng trọng. tỷ lệ thân thịt cao, đạt từ 76-77 %
X. Ứng dụng công nghệ TTNT trong lai tạo và nhân giống gia cầm
1. Lợi ích:
- Khắc phục chênh lệch tầm vóc
- Kiểm soát được ghép đôi giao phối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status