Đặc điểm thích nghi của
Bò sát (Reptilia) Trong thiên nhiên bò sát có nhiều kẻ
thù, vì vậy chúng phải có những biện
pháp bảo vệ khác nhau. Với nhiều
màu sắc, hình dạng và phương thức
ngụy trang khác nhau.
- Nhìn chung bò sát thường chạy trốn
và tìm nơi ẩn nấp trước kẻ thù. Thằn
lằn, rắn, đang rình mồi, nghe tiếng
động thì bỏ mồi lủi nhanh vào bụi rậm
hoặc các khe hốc thiên nhiên. Rùa
đầm, rắn nước khi gặp nguy hiểm, lội
xuống nước dấu kín vào trong bùn.
- Nhiều loài rắn, thằn lằn có màu
sắc nguỵ trang giống màu sắc của
môi trường. Những loài sống ở đất
bùn thân có màu chì để lẫn vào màu
bùn (rắn liu điu, rắn giun ). Những
loài sống trên cây thân có màu vỏ cây
(tắc kè, cắc kè, cắc kè bay ). Những
loài sống trong đám lá cây thì thân có
màu xanh (rắn lục). Nhiều loài bò sát
có khả năng thay đổi màu sắc cơ thể
cho thích hợp với màu của môi
trường, điển hình là tắc kè hoa và cắc
kè. Thân của cắc kè (Calotes
versicolor) có màu nâu, lục hoặc vàng
- Một số loài bò sát có hiện tượng
giả chết: Nhiều loài rắn cây khi gặp
nguy hiểm, buông mình rơi xuống đất,
giả chết để đánh lừa kẻ thù. Rùa hộp
khi gặp nguy hiểm rút đầu, co chân,
đuôi vào trong hộp.
- Nhiều loài bò sát có phản ứng tự
vệ đối địch, chống lại kẻ thù một
cách chủ động:
+ Màu sắc dọa nạt: Một số loài thằn
lằn và rắn có thể phơi những phần cơ
thể sặc sỡ và hình thù kỳ dị để dọa nạt
kẻ thù. Chúng có thể há to miệng nếu
miệng có màu đỏ hay xanh; hoặc
phình rộng mảng da hai bên cổ để lộ
phần trước thân rực rỡ giữa đám vảy.
Cắc kè (Calotes versicolor) khi giận
dữ có thể bạnh cổ rất lớn, màu đỏ sau
da cổ lộ ra rất ghê rợn. Nhông
(Leiolepis) bình thường màu vàng, có
đốm đen nhìn rất hiền lành. Khi gặp
nguy hiểm, nó xẹp bụng xuống cát
làm nổi những vạch đen lơ và da cam
sặc sỡ ở hai bên thân. Nhông châu Úc
khi đe doạ kẻ thù phồng má há miệng
rất to, lộ khoang miệng màu đỏ rực và
chiếc lưỡi màu xanh.
+ Hành động thay đổi hình dạng:
Nhiều loài rắn hay thằn lằn có thể
phồng hay xẹp thân để đe doạ đối
Một số loài thằn lằn, rắn như trăn đỏ
đuôi đen (Trapidophis) ở châu Mỹ khi
bị bắt và bị đau từ miệng trăn phóng
ra một tia máu.
+ Một số loài bò sát có khả năng tiết
ra những chất có mùi hôi để xua đuổi
kẻ thù. Những tuyến bài tiết các chất
này ở phía sau lỗ huyệt thường được
gọi là tuyến hậu môn. Tuyến hậu môn
ở cá thể cái thường to hơn cá thể đực.
Rắn ráo, rắn sọc tiết ra chất bài tiết rất
khó chịu, mùi giữ lại hàng giờ không
tan. Một số loài rùa có tuyến hậu môn
và tuyến yếm dùng để xua đuổi kẻ
thù. Một số loài rắn nước và rùa khi
gặp nguy hiểm thì thải phân có mùi
rất khó chịu làm cho kẻ thù phải xa
lánh.
+ Vài loài bò sát khi gặp nguy hiểm
phát ra các âm thanh để cảnh cáo kẻ
thù (rắn hổ mang chúa, cá sấu, thằn
lằn ) do cơ quan âm thanh phát ra
(thường không phát triển). Một số loài
lại dùng các bộ phận khác phát ra âm
thanh. Rắn đuôi kêu phần đuôi có một
đoạn hóa sừng chồng lên nhau khi rắn
bò phần đuôi này khi va chạm với các
vật thể chung quanh sẽ phát ra tiếng
kêu. Trăn mốc, rắn lục có phần đuôi
biến đổi có thể gõ xuống đất hoặc