1 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TS TRẦN THỊ MAI
LỊCH SỬ BANG GIAO
VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TP HỒ CHÍ MINH - 2007
CHƯƠNG II
: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM
Á THỜI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI 17
I. BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
Ở BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC 17
II. BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
TRONG THỜI KỲ VIỆT NAM BỊ PHONG
KIẾN PHƯƠNG BẮC ĐÔ HỘ 25
III. BANG GIAO VIỆT NAM – CHÂN LẠP 31
IV. BANG GIAO VIỆT NAM – LÀO 41
V. BANG GIAO VIỆT NAM – THÁI LAN 47
VI. BANG GIAO VIỆT NAM – MIẾN ĐIỆN 54
VII. BANG GIAO VIỆT NAM VỚI KHU VỰC CÁC
NƯỚC HẢI ĐẢO ĐÔNG NAM Á 56
VIII. MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ MỐI BANG GIAO
VN–ĐNA THỜI CỔ – TRUNG ĐẠI 62
CÂU HỎI ÔN TẬP 70
CHƯƠNG III
: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
THỜI CẬN ĐẠI 71
I. ĐÔNG NAM Á TRƯỚC SỰ XÂM NHẬP CỦA
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN PHƯƠNG TÂY 71
II. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA MỐI
QUAN HỆ VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
THỜI CẬN ĐẠI 76
III. BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
Ở THỜI CẬN ĐẠI 83
CÂU HỎI ÔN TẬP 109
CHƯƠNG IV
: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
Phương học” do tính chất quan trọng và nổi bật về vò trí đòa
lý mang tính chất chiến lược của nó. Tiếp đó, những khám
phá mới về những bước đi đầu tiên của loài người, tiến trình
lòch sử dựng nước và giữ nước sôi động cùng với sự xác lập
thường xuyên mối liên hệ của khu vực này với thế giới đã
đưa Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực có ý
nghóa quan trọng trong toàn bộ lòch sử thế giới. Cho đến nay,
mặc dù còn có những ý kiến khác nhau về tiến trình lòch sử
cũng như vò trí và vai trò của Đông Nam Á trong lòch sử văn
minh nhân loại, song không còn ai nghi ngờ gì nữa về sự hiện
diện và quá trình phát triển liên tục với những tính cách hết
sức riêng biệt của nó.
1- Nằm trải rộng trên một phần trái đất, từ khoảng 29
0
kinh đông đến 140
0
kinh đông và từ khoảng 28
0
vó bắc chạy
qua xích đạo đến 15
0
vó nam, Đông Nam Á ngày nay bao gồm
11 nước với 5 nước nằm sâu trong lục đòa (Việt Nam, Lào,
Campuchia, Mianma và Thái Lan) và 6 nước phân bố ngoài
hải đảo (Malaysia, Indonesia, Singapo, Brunei và Philípin,
Đông Timo). Tất cả các nước trong khu vực đều nằm trong
vành đai khí hậu nhiệt đới và bò chi phối bởi gió mùa quanh
năm. Chính yếu tố gió mùa và khí hậu biển đã tạo nên hai
mùa rất rõ rệt ở Đông Nam Á: Mùa mưa bắt đầu từ tháng tư
gần đây đã kết luận: Đông Nam Á là một trong những cái
nôi của loài người. Dấu vết hóa thạch vượn bậc cao được
tìm thấy ở Pondaung. (Mianma) có niên đại khoảng 40
triệu năm; hoá thạch người tối cổ được tìm thấy ở Java
cách đây khoảng 2 triệu năm; răng người vượn ở Bình Gia
(Lạng Sơn-Việt Nam) có niên đại cách đây khoảng 30 vạn
năm; nhiều xương cốt của loài người vượn, người tối cổ và
của người hiện đại được tìm thấy rải rác ở nhiều nơi ở
Đông Nam Á như Solo (Indonesia), Wajak, Hòa Bình, Bắc
Sơn có niên đại muuộn hơn một chút v.v cho thấy sự
phát triển mang tính liên tục của quá trình chuyển biến từ
vượn người thành người vượn, cũng như của người hiện đại
tại khu vực này.
Kỹ nghệ đá tương đương cũng đã được tìm thấy ở
nhiều nơi trong khu vực như núi Đọ (Việt Nam), Sungs Mas
(Sumatra), ở Tabon, Palawan và Espinôsa (Philippin), v.v
Cho đến khoảng trên dưới 4000 năm cách đây, Đông
Nam Á bắt đầu bước vào thời kỳ sử dụng công cụ kim loại.
Kết quả nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam và các nước ở
Đông Nam Á đều cho thấy vào thời đại Đông Sơn - tương
ứng với thời đại đồng thau và sắt sớm - cư dân Đông Nam
Á đã có một cuộc sống ổn đònh trên cơ sở nền nông nghiệp
trồng lúa nước, và trong nếp sống của từng vùng đã diễn ra
sự hội tụ đầu tiên của các yếu tố văn hóa đồng bằng - biển -
rừng núi với thế đan xen nhau phức tạp, rồi từ đó mà đònh
hình những truyền thống chung và riêng
(2)2
nhận một cách tự nguyện văn hóa Ấn và chòu ảnh hưởng
khá lớn của nền văn hóa này. Trong khi đó, đối với Việt
9 10
Nam ở phía Bắc, quá trình dựng nước đã diễn ra sớm hơn
nhiều so với các nước khác trong khu vực (vào hạ bán thiên
niên kỷ thứ nhất trước công nguyên). Quá trình này được
thúc đẩy bởi các yếu tố: sự phát triển cao của kỹ thuật
trồng lúa nước dựa trên sự phong phú của công cụ đồng và
sắt sớm. Sự hợp lực cùng nhau để chống thiên nhiên và
làm thủy lợi. Và sự đoàn kết toàn dân để chống lại các cuộc
xâm lược từ phương Bắc tràn xuống. Do phải đương đầu với
các cuộc xâm lăng từ phương Bắc và sự du nhập mang tính
cưỡng bức của văn hóa Hán, nên các dân tộc ở bán đảo
Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam, đã phần nào tiếp nhận
và chòu ảnh hưởng của văn hóa Hán.
Tuy nhiên, với nền văn hóa bản đòa đã đònh hình
sớm, với truyền thống dân chủ và tính cách cởi mở, khoáng
đạt trong cách ứng xử, cư dân Đông Nam Á đã tiếp thu văn
hóa Ấn, Hoa một cách chủ động và chọn lọc. Sự tiếp thu
này thể hiện trên hai phương diện:
- Phương diện tổ chức bộ máy nhà nước: Hầu hết
các nhà lãnh đạo ở đây đều muốn tìm đến việc ứng dụng
mô hình tổ chức nhà nước đã khá hoàn thiện từ Ấn Độ,
Trung Quốc, và cùng với mô hình đó là sự mô phỏng thiết
chế xã hội, chủ yếu là chế độ đẳng cấp. Tất nhiên, sự mô
phỏng này chỉ về mặt hình thức và tùy tình hình cụ thể của
mỗi nhà nước mà sự mô phỏng cũng ở mức độ đậm nhạt
khác nhau. Điểm cần nhấn mạnh ở đây là về mặt nội dung,
các nhà nước vẫn được xây dựng trên nền tảng chủ đạo đó
là tinh thần dân tộc, tính dân chủ và cởi mở của cư dân
không chỉ là niềm tự hào của các dân tộc Đông Nam Á, mà ở
những mức độ nhất đònh đã đóng góp vào kho tàng văn hóa
của nhân loại những giá trò văn hóa - tinh thần độc đáo.
11 12
Cũng trong giai đoạn này, mối quan hệ giữa các nhà
nước dân tộc cũng được thiết lập ngày càng chặt chẽ. Trong
quá trình khẳng đònh ý thức dân tộc của mình, giữa các
vương triều lẽ dó nhiên không tránh khỏi có những xung
đột, va chạm quyền lợi, thậm chí có khi biến thành xung
đột vũ trang. Song, về cơ bản nhân dân các nước Đông
Nam Á vẫn sát cánh bên nhau cùng xây dựng một Đông
Nam Á hòa bình và thònh vượng. Tinh thần đoàn kết, gắn
bó giữa nhân dân Việt với nhân dân Đông Nam Á nhằm
chống lại các cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên vào thế kỷ
XIII là một trong những bản anh hùng ca tiêu biểu cho mối
quan hệ mật thiết đó.
6- Sau một thời kỳ phát triển thònh đạt, từ cuối thế kỷ
XV, các vương triều phong kiến Đông Nam Á bước vào giai
đoạn suy thoái. Sự suy thoái này là kết quả tất yếu của sự
vận động theo đúng quy luật khách quan lòch sử: chế độ
phong kiến khi đã phát triển đến đỉnh cao của nó cũng là
lúc nó bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn đối kháng không
thể điều hòa nổi trong lòng chế độ đó. Tính chất bảo thủ,
trì trệ của quan hệ sản xuất phong kiến, sự tiêu hao sức lực
của nhà nước cho những cuộc chiến tranh nhằm xác đònh
lãnh thổ và quyền lực là những nguyên nhân bên trong của
sự suy thoái đó. Nhưng, nhân tố có ý nghóa quyết đònh dẫn
tới sự suy sụp của các quốc gia phong kiến trong khu vực lại
chính là sự xâm nhập của chủ nghóa tư bản phương Tây
diễn ra từ thế kỷ XVI và trong suốt các thế kỷ đó cho đến
quốc gia cũng như của cả khu vực. Lẽ dó nhiên, trong giai
3
Mở đầu bằng việc Nhân dân Việt Nam vùng dậy làm cuộc Cách
mạng Tháng Tám năm 1945, thiết lập nền dân chủ cộng hòa. Cách
mạng Tháng Tám cũng đã diễn ra ở Indonesia, và cho đến giữa thập
niên 80 tất cả các quốc gia Đông Nam Á đều đã giành được nền độc
lập trọn vẹn.
13 14
đoạn này cái nền chung của sự tương đồng vẫn tiếp tục tồn
tại, nhưng khoảng cách mới được tạo ra không phải nhỏ.
Tuy nhiên, tính chất căng thẳng, đối đầu giữa các
nước Đông Nam Á diễn ra không lâu. Tình trạng này đã
nhanh chóng kết thúc cùng với sự kết thúc của chiến tranh
lạnh và sự sụp đổ của “thế giới hai cực Yanta” vào cuối thập
niên 80. Xu thế đối thoại và hợp tác diễn ra trên phạm vi
toàn cầu đã góp phần làm thay đổi tư duy chính trò của các
nước trong khu vực và thúc đẩy họ xích lại gần nhau. Khép
lại quá khứ, hướng tới tương lai, kể từ những năm cuối của
thập niên 80, các quốc gia Đông Nam Á đều có chung một
mục tiêu: biến khu vực Đông Nam Á thành một khu vực
hòa bình ổn đònh và phát triển. Hơn bao giờ hết, Đông
Nam Á hiện tại đang ở vào thời kỳ sôi động nhộn nhòp
nhất của sự hợp tác và thiết lập các mối quan hệ song
phương, đa phương. Tinh thần “Thống nhất trong đa dạng”
lại càng được khẳng đònh mạnh mẽ khi tất cả các nước
Đông Nam Á đều tự nguyện đứng vào một tổ chức chung
của khu vực: Tổ chức ASEAN. Ý thức tự cường dân tộc, tự
cường khu vực được xem là yếu tố năng động nhất hiện nay
của “một gia đình các nước Đông Nam Á được ràng buộc với
sẽ càng được tăng cường. Đến giai đoạn cận đại, những cuộc
phát kiến đòa lý, sự phát triển của kinh tế hàng hóa và sự
xác lập của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghóa đã làm xích
gần các lục đòa, các khu vực vốn cách xa về đòa lý, biệt lập
trong mối quan hệ xã hội. Mối quan hệ giữa các quốc gia,
dân tộc, do đó, càng trở nên gắn bó mật thiết.
Về mặt thực tiễn: Truyền thống làm ruộng nước, lối
cư trú quần tụ trong các xóm làng và đặc biệt là nhu cầu
phải thường xuyên tập hợp lực lượng để chống đỡ các cuộc
15 16
xâm lược của kẻ thù bên ngoài, đã buộc các dân tộc Đông
Nam Á sớm cố kết cùng nhau trong một mối dây đoàn kết
tương thân, tương trợ để cùng tồn tại và phát triển.
2- Việt Nam là một nước thuộc Đông Nam Á, mối bang
giao giữa Việt Nam và Đông Nam Á là một tất yếu khách
quan.
Nằm trọn ở phần Đông của bán đảo Đông Dương,
trong vành đai nóng với chiều dài hơn 15 vó tuyến (từ 8
0
30’
Bắc đến 23
0
22’ Bắc), diện tích khoảng 330.000km
2
với bờ
biển dài khoảng 3.300km và đường biên giới chung với các
nước Trung Quốc, Lào, Campuchia, dài khoảng hơn
3.800km, Việt Nam có một vò trí chiến lược hết sức quan
trọng trên trục giao thông Đông - Tây thông qua con đường
Hồ tiêu và con đường Tơ lụa trên cả đất liền và trên biển.
vực xích lại gần nhau, đồng thời liên kết tất cả các nước lại
trong một ASEAN thống nhất về quyền lợi và nghóa vụ để
tạo ra những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển chung.
Câu hỏi ôn tập
1. Bang giao Việt Nam-Đông Nam Á đã được hình thành
dựa trên những cơ sở nào?
2. Tại sao nói mối bang giao Việt Nam-Đông Nam Á là
một tất yếu khách quan?
TÀI LIỆU THAM KHẢO – Chương 1
1. Bộ Ngoại giao – Vụ Asean : “Hiệp hội các nước Đông Nam Á”
(Asean), Nhà xuất bản chính trò quốc gia, Hà Nội, 1995.
2. Bộ Ngoại giao – Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, Nhà xuất
bản Chính trò quốc gia, Hà Nội, 2002.
17 18
3. Bộ Ngoại giao – vụ hợp tác kinh tế đa phương – Việt Nam hội
hhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá vấn đề giải pháp, Nhà
xuất bản Chính trò quốc gia, Hà Nội, 2002.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế
– xã hội quốc gia: Các quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ
kinh tế với Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn, hà Nội, 2006.
5. Trần Thò Mai – Lòch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á,
Khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở – Bán công TP.HCM,
1997.
6. Trần Quang Lâm – Nguyễn Khắc Thân – Hội nhập kinh tế Việt
Nam – ASEAN những đặc trưng, kinh nghiệm và giải pháp, Nhà
xuất bản Thông kê, Hà Nội, 1999.
7. Lương Ninh – Hà Bích Liên : “Lòch sử các nước Đông Nam Á”
tập I – Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở - Bán công
TP.HCM, 1994.
Đến cuối thời đá mới, với những lưỡi cuốc, lưỡi rìu đá tứ
giác, bầu dục, có vai, có nấc, nền nông nghiệp trồng trọt đã
đạt được những thành tựu lớn. Vào giai đoạn này, cư dân
Đông Nam Á đã biết thuần hóa cây lúa hoang, mở ra một
nền nông nghiệp trồng lúa đặc sắc trên toàn miền. Niên đại
lúa trồng xưa nhất được biết ở Việt Nam và Đông Nam Á là
vào khoảng 6000 cho đến 5000 năm trước công nguyên. Nghề
trồng lúa phát triển dẫn tới việc đònh canh, đònh cư và nhu
cầu mở rộng mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội.
Nguyên lý tổ chức xã hội theo thò tộc huyết thống (Cây gia
19 20
phả) trở nên chật hẹp và đòi hỏi phải được thay thế bằng
nguyên lý mới: thò tộc láng giềng (Công xã nông thôn). Theo
đó, một hệ thống giá trò mới cũng dần đònh hình dựa trên lối
sống cộng đồng, tương thân, tương ái.
Cho đến khoảng trên dưới 4000 năm cách đây, trên
toàn miền Đông Nam Á, nếp cư trú xóm làng dựa trên cơ
sở đất công của làng xã, dựa trên việc quản lý các công
trình thủy lợi và tự vệ chống lại những cuộc tấn công từ
bên ngoài vào đã trở nên phổ biến.
Cuộc “Cách mạng luyện kim” tiếp nối và hoàn chỉnh
cuộc “Cách mạng đá mới” diễn ra vào khoảng cuối thiên
niên kỷ thứ III, đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên
và tiếp tục phát triển về sau là bước nhảy kỳ diệu trong
lòch sử Đông Nam Á. Sự xuất hiện của đồng, đồng thau và
sắt sớm thúc đẩy mạnh mẽ khả năng chinh phục rừng già,
đầm lầy để tạo nên những làng mạc trù phú. Kỹ thuật canh
tác nhờ đó cũng đạt được những bước tiến đáng kể. Và một
nền văn hóa tinh thần phong phú, sáng tạo cũng có điều
kiện nảy nở và phát triển rực rỡ.
lý, về kết cấu và phân bố dân cư, nhất là về mặt lòch sử,
giữa các dân tộc láng giềng với nhau đã sớm có mối liên hệ
mật thiết, gắn bó để cùng tồn tại và phát triển. Việc giao
(5)
Theo “Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong
kiến Trung Quốc xâm lược”, Tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1984, tr.19.
6
Theo “Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong
kiến Trung Quốc xâm lược”, Tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1984, tr.19.
21 22
lưu giữa Việt Nam và Đông Nam Á cũng như giữa Việt Nam
với các khu vực khác khi ấy chủ yếu diễn ra trên các lónh
vực kinh tế và văn hóa.
a) Về kinh tế:
Hiện chúng ta còn thiếu những số liệu ghi chép về
mối bang giao giữa Việt Nam với khu vực nói chung, và
Việt Nam với từng nước nói riêng ở buổi bình minh của lòch
sử này. Thế nhưng bù vào đó, kết quả của ngành khảo cổ
học đã cho thấy một mối giao lưu khá rộng khắp trên toàn
khu vực thể hiện qua sự phân bố đều khắp của các công cụ
sản xuất mang dáng dấp, chất liệu và kỹ thuật khá gần gũi
với nhau. Hàng loạt các hiện vật khảo cổ đã được tìm thấy
như các công cụ đá (từ đá cuội, rìu mài, rìu có nấc, có vai),
các hiện vật gốm, đồ đồøng, đặc biệt là trống đồng, thạp
đồng được phân bố ở khắp nơi với niên đại và kỹ thuật
chế tác không cách biệt nhau là mấy, chứng tỏ rằng tại khu
vực này vốn đã có quá trình gần gũi, trao đổi và học hỏi
động của thò trường buôn bán thường xuyên này, những
trung tâm buôn bán lớn đã hình thành ở các đòa điểm thích
hợp như: khu vực hội tụ các con sông, các cửa biển, lưu vực
của các sông lớn để đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa
ngày càng nhiều. Có thể kể đến một số trung tâm hình
7
Lấy sự hiện diện của Trống đồng loại I (Trống đồng Ngọc Lũ thuộc
văn hóa Đông Sơn) làm ví dụ, ta thấy, phạm vi phân bố đều khắp
của nó ở Đông Nam Á. Ở đây cần lưu ý đến tính chất hàng hóa của
nó. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều đã thừa nhận Việt Nam là
quê hương của trống đồng và sự phân bố rộng khắp của nó có liên
quan đến người Việt nói chung.
23 24
thành sớm lúc bấy giờ ở Việt Nam như: lưu vực sông Hồng,
lưu vực sông Cả, Cửa Thò Nại, Óc-eo, v.v
Các sản phẩm trao đổi chính lúc bấy giờ, có lẽ vẫn là
các sản vật của đòa phương như các lâm thổ sản, các loại
gia vò, trái cây, các sản phẩm được chế biến từ nguồn thủy,
hải sản và đặc biệt là các công cụ sản xuất được chế tạo từ
đồng, sắt, gốm, v.v
b) Về văn hóa:
Vào thời kỳ xa xưa: Thời đại Đông Sơn, cư dân Đông
Nam Á đã có một cuộc sống ổn đònh trên cơ sở làm nông
nghiệp trồng lúa và trong nếp sống của từng vùng đã diễn
ra quá trình hội tụ những yếu tố văn hóa đồng bằng, biển,
núi, rừng với thế đan xen phức tạp. Giữa các tộc người
khác nhau trong khu vực từ rất sớm hình thành lối cư trú
xen cài. Chính sự cộng cư cũng như quá trình hội tụ văn
hóa nói trên là cơ sở để đònh hình những truyền thống
dân ở đây trên lónh vực văn hóa. Đó là một nền văn hóa
riêng không lẫn được - nền văn hóa bản đòa, đònh hình và
phát triển dựa trên cơ sở những yếu tố riêng của mỗi tộc
người và sự liên kết chặt chẽ giữa các vùng trong khu vực
với nhau.
Ngay từ những thế kỷ trước và sau công nguyên, trên
cơ sở nền văn hóa bản đòa sớm đònh hình và phát triển đó,
các dân tộc ở Đông Nam Á đã tự khẳng đònh mình: Sự ra
đời của nhà nước Văn Lang của người Việt trên lưu vực sông
Hồng vào hạ bán thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên,
8
Theo Cao Xuân Phổ, Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, sđđ,
tr.62
25 26
rồi tiếp đó lần lượt các nhà nướùc được thiết lập ở cả trên lục
đòa và hải đảo vào các thế kỷ đầu công nguyên như: Phù
Nam, Champa, Langkakusa, Palembang, Malayu, Kalinju,
Srivijaya đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong ý thức
dân tộc của cư dân Đông Nam Á.
Vào thời điểm các nhà nước sơ kỳ đồng loạt ra đời
cũng là lúc Đông Nam Á đứng trước một bối cảnh lòch sử
mới: Sự thâm nhập hòa bình của văn hóa Ấn Độ và sự xâm
nhập bằng vũ lực của văn hóa Hán. Bối cảnh lòch sử này
đặt Đông Nam Á trước một nhiệm vụ mới: quá trình “Dựng
nước và giữ nước” sôi động trên toàn khu vực:
Các dân tộc ở phía Nam tiếp thu các yếu tố văn hóa
Ấn Độ, cụ thể là tiếp thu thiết chế chính trò và chế độ đẳng
cấp, để dần dần hoàn thiện tổ chức xã hội của mình (Dựng
nước).
cầm quyền ở Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực
Đông Nam Á.
Với tư tưởng “Bình thiên hạ”, các triều đại phong kiến
ở Trung Quốc luôn thèm khát vùng đất giàu có tài nguyên
và tiềm tàng khả năng phát triển mậu dòch biển này. Do
đó, họ ra sức bình đònh hầu biến Việt Nam thành quận,
huyện của họ để làm bàn đạp vươn xuống Đông Nam Á.
Chính sách cai trò của các thế lực phong kiến Trung Quốc là
một chính sách thâm độc kết hợp giữa khai thác kiệt quệ
tài nguyên với đồng hóa sâu sắc về văn hóa. Trong hơn một
nghìn năm đô hộ ở Việt Nam, phong kiến Trung Quốc chưa
bao giờ từ bỏ âm mưu đó. Đối với các nước Đông Nam Á,
27 28
chính sách của phong kiến Trung Quốc cũng là kết hợp
chiến tranh với ngoại giao để thiết lập ảnh hưởng của mình
tại đây. Song, trước sau các thế lực phong kiến Trung Quốc
chủ yếu chỉ thiết lập được ảnh hưởng chính trò lên khu vực
này mà thôi. Trong suốt thời kỳ này, lòch sử đã chứng kiến
các triều đại Trung Quốc liên tiếp cử các phái bộ ngoại giao
đến các nước láng giềng của Việt Nam để đặt ảnh hưởng và
gây chia rẽ nội bộ các nước này, cô lập họ với Việt Nam.
Ngược lại, các nước Đông Nam Á trên bước đường củng cố
thực lực của mình cũng không thể đứng ngoài mối quan hệ
quốc tế và khu vực, nên đã chọn chính sách đối ngoại thân
thiện với các nước lớn. Rất nhiều các phái đoàn ngoại giao
của các nước Đông Nam Á cũng được phái tới Trung Quốc
để triều cống hoặc xin giúp đỡ.
2. Về phía nhân dân:
Do phải tiến hành chống Bắc thuộc nên mối quan hệ
giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á có phần nào bò
Cửu Long sau này) mối quan hệ lại có một sự phát triển
vượt bậc.
* Chămpa
Vương quốc cổ Chămpa được thành lập vào năm 192,
là kết quả của phong trào đấu tranh chống lại ách thống trò
của nhà Hán của nhân dân Chăm và Việt khi ấy. Nhà nước
đầu tiên được xây dựng vào năm này có tên là Lâm Ấp (là
tên của một con sông). Chủ nhân của Lâm Ấp là những
người Chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai đa đảo. Vương quốc này
đã tồn tại bền vững suốt mười lăm thế kỷ, nhưng sau đó
suy yếu dần và đã dần chuyển hóa thành một bộ phận của
nước Việt Nam. Quá trình chuyển hóa này là một quá trình
lâu dài, ở đó vừa có sự can thiệp vũ lực của các vương triều
29 30
phong kiến, vừa có sự tự nguyện của cả hai khối cư dân
Việt - Chăm vì nhu cầu sinh tồn và phát triển.
Lẽ dó nhiên, khi còn tồn tại với tư cách là những nhà
nước độc lập, giữa Chămpa và Đại Việt đã có những mối
bang giao trên nhiều lónh vực. Giữa hai nhà nước cũng không
tránh khỏi những va chạm về quyền lợi, thậm chí tiến hành
chiến tranh để thôn tính nhau. Song, đây là việc làm hoàn
toàn phù hợp với logic lòch sử, với quy luật cạnh tranh sinh
tồn, mạnh được yếu thua của thời Cổ - Trung đại.
Về phía nhân dân, do có chung những điều kiện sinh
sống, quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, đặc biệt
có chung kẻ thù nguy hiểm là phong kiến phương Bắc, nên
cư dân hai nước có một sự chia sẻ và hiểu biết lẫn nhau. Vì
thế, giữa họ luôn có sự tiếp nhận lẫn nhau, chung lưng, đấu
cật để tạo dựng cuộc sống. Đây là một yếu tố năng động và
là động lực chính thúc đẩy quá trình chuyển hóa trên.
Nam chính tông nắm đòa vò tôn chủ bắt các tiểu quốc khác
phải thần phục và cống nạp.
Một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa lớn
của Phù Nam lúc bấy giờ đã được thiết lập ở miền Tây
sông Hậu (Việt Nam ngày nay) có lẽ trùng với nhà nước
Naravaranagara (nước Chí Tôn) - một tiểu quốc có vò trí đặc
biệt quan trọng đối với Phù Nam. Đây vừa là cửa ngõ ở phía
Đông tiếp giáp với nước ngoài qua đường biển, vừa là trung
tâm thu nhận cũng như phát tán văn hóa của khu vực và cả
thế giới xung quanh. Cư dân Naravaranagara làm ruộng,
đánh cá và đặc biệt thông thạo việc buôn bán trên biển nên
có giao lưu rộng rãi với bên ngoài. Thông qua Naravaranagara
mà Phù Nam trở nên mạnh về kinh tế và cũng qua đó mà
tiếp nhận văn hóa từ bên ngoài vào, nhất là văn hoá Ấn Độ.
31 32
Vào thời kỳ thònh trò của mình, Phù Nam có mối quan
hệ rất chặt chẽ với các nước trong khu vực: Lâm Ấp, Chân
Lạp, Thái Lan, Mianma, Malaysia và các nước ngoài khu
vực: Ấn Độ, Trung Quốc Có thể kể ra đây một số lónh vực
chính:
- Về mặt văn hóa: Bên cạnh việc giao lưu với khu
vực, Phù Nam đã tiếp thu mạnh mẽ văn hóa Ấn Độ trong
đó có Bàlamôn giáo. Thần Civa cũng như cơ chế tổ chức
vương triều và thiết chế đẳng cấp của Ấn Độ được du nhập
và ảnh hưởng không nhỏ ở nước này. Đạo Phật cũng rất
được sùng bái ở Phù Nam. Chính là qua Phù Nam mà văn
hóa Ấn Độ đã truyền bá sâu hơn vào miền lục đòa, nhất là
đến Chân Lạp.
- Về mặt kinh tế: Thương cảng Óc-eo là một trung
tâm kinh tế, phồn thònh không chỉ của Phù Nam mà còn
khu vực. Có thể nói mối bang giao giữa Việt Nam với Đông
Nam Á chưa bao giờ gặt hái được nhiều thành công đến thế
kể từ trước đó.
III. BANG GIAO VIỆT NAM - CHÂN LẠP
1. Vài nét về vương quốc Chân Lạp (Campuchia)
Vào khoảng đầu công nguyên ở giai đoạn sơ kỳ đồ sắt,
trên cơ sở của kỹ thuật mới và sự tiếp xúc với văn hóa Ấn
Độ, có lẽ những quốc gia sơ kỳ của người Môn cổ và người
Khmer cổ đã được lập ra. Biên niên sử của Campuchia đã đề
cập đến một trong những quốc gia sơ kỳ đó có tên gọi là
Chenla. Các quốc gia này sau đó bò lệ thuộc vào một quốc gia
mạnh hơn, đó là Phù Nam (mà ta đã có dòp đề cập). Cho đến
33 34
thế kỷ thứ VI và VII, các quốc gia này mạnh dần lên và dần
thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Phù Nam.
Theo truyền thuyết, thủy tổ của người Khmer là một ẩn
só người gốc Ấn Độ tên là Kambu đã đến vùng đất này truyền
giáo. Sau đó, vò ẩn só kết hôn với nữ thần Mera, vì thế con
cháu của họ được gọi là Kambuja. Tên ghép của cặp vợ chồng
Kambu-Mera cũng được lấy làm tên tộc Kmer hay Khmer.
Trung tâm điểm của bộ lạc Khmer gốc có thể là Vạt
Phu (Champassac), gần nơi hội lưu của hai sông Sêmun và
Mêkông. Bộ lạc này có trình độ kinh tế - xã hội khá cao, họ
có sự tiếp xúc khá gần gũi và thường xuyên với các bộ tộc
Khmer ở phía Nam và qua đó mà họ tiếp thu ảnh hưởng
của văn hóa Ấn Độ.
Người chính thức xác lập ra vương quốc Khmer miền
Bắc hay vương quốc Campuchia sơ kỳ là Bhavavarman I. Tên
nước lúc đầu cũng được đặt theo tên ông: nước Bhava
(Bhavapura), nhưng người Trung Quốc thì vẫn gọi là Chân
hòa hiếu với các nước lớn như Trung Quốc, Đại Việt, Java
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Chân Lạp được
chính thức thiết lập dưới triều Lý, thời vua Lý Thái Tổ.
Thư tòch cổ của Việt Nam còn ghi rõ: lần đi sứ đầu tiên của
sứ bộ Chân Lạp đến nước ta là vào năm 1012 – 1013, họ
mang theo rất nhiều sản vật để triều cống nhà Lý. Tiếp
theo đó, chỉ tính riêng dưới triều Lý đã có cả thảy 13 lần sứ
bộ Chân Lạp đến Đại Việt. Mối giao hảo giữa hai nước đặc
biệt thuận thảo, tốt đẹp. Chẳng hạn như:
- Vào năm 1118, sứ giả Chân Lạp đến Thăng Long,
gặp lúc triều đình mở tiệc mừng xuân khánh thành 7 ngọn
35 36
Bảo tháp, vua Lý sai hữu ty bày nghi trượng ở Điện Linh
Quang rồi dẫn sứ giả cùng xem.
(9)
- Cũng vào thời này, một số dân Chân Lạp vì sợ nội
loạn đến xin cư trú ở Đại Việt, vua Lý ưng thuận.
Ở nửa đầu nhà Lý, quan hệ ngoại thương giữa hai nước
cũng khá phát triển. Thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh)
được mở rộng và thu hút khách thương từ nhiều nước tới đây.
Vì thế người Chân Lạp cũng thường tới trao đổi các sản
phẩm của họ và đổi lấy các thổ sản, đồ dùng thông thường
như: chiếu thô, nồi đồng, mâm đồng, lược gỗ, kim khâu…
Trên lónh vực văn hóa: Thời Lý, các vua của ta đều
chuộng đạo Phật nên giao lưu văn hóa giữa hai nước thông
qua đạo Phật khá thònh hành. Các nhà sư vẫn thường được
cử đi cùng các sứ giả trong đoàn ngoại giao. Thậm chí, vào
năm 1086, trong phái bộ ngoại giao của Chân Lạp sang
triều cống còn có cả hai người theo đạo Bàlamôn đi cùng.
Tuy nhiên, không phải quan hệ giữa các vương triều
trong thời gian đó, Chân Lạp chiếm đóng và đô hộ
Chămpa, ngoại trừ giai đoạn 1177-1181, Chăm Pa chiếm
đóng và đô hộ được một phần Chân Lạp. Đã có thời kỳ
Chămpa bò biến thành một tỉnh của Chân Lạp (1203-1220).
Ở cuối thời Lý và sang thời Trần, Chân Lạp bước vào
giai đoạn suy tàn, tình hình Chân Lạp ngày càng xấu đi và bò
nước láng giềng Thái Lan thường xuyên gây áp lực và chiếm
đất. Bang giao Việt Nam-Chân Lạp tạm thời gián đoạn.
Một nguyên nhân khác cũng không kém phần quan
trọng làm đứt đoạn quan hệ giữa hai nước là cuộc xâm lược
của quân đội Mông-Nguyên xuống phương Nam. Đại Việt là
tiêu điểm của cuộc đụng đầu này, đã dồn hết mọi khả năng
và lực lượng cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Cuộc
37 38
kháng chiến anh dũng của Đại Việt đã đẩy lùi 3 lần tấn công
của quân đội Mông Cổ và do vậy chẳng những Đại Việt giữ
vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình mà còn góp
phần bảo vệ vững chắc nền hòa bình của khu vực.
b) Bang giao từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ
XIX
Từ thế kỷ XVI trở đi, mối quan hệ giữa hai nước được
thiết lập trở lại và ngày càng phát triển hơn trước. Đây cũng
là thời kỳ người Việt bắt đầu di chuyển ngày càng đông vào
phía nam (Đàng trong) để tìm đất sống. Trong quá trình tiến
về phương Nam mưu cầu cuộc sống, người Việt càng có dòp
tiếp xúc và gần gũi với lớp cư dân Khmer tại đây. Đều là nạn
nhân của chế độ phong kiến, những lớp cư dân Việt - Khmer
đầu tiên đã dễ dàng tiếp nhận lẫn nhau. Họ cùng chung lưng
đấu cật để vượt qua thử thách của thiên nhiên và những bất
công xã hội để tạo nên các làng mạc trù phú và ruộng vườn
hơn nữa về phía đông và được đặt tại ông trên bờ
Tônglêsáp. Để giữ vững ngai vàng và tranh thủ sự giúp đỡ
của Chúa Nguyễn về quân sự trong cuộc chiến chống lại
phong kiến Xiêm, Chey Chettha II đã tạo nhiều điều kiện
thuận lợi cho dân Việt tiến sâu vào khai phá đất đai vùng
đồng bằng sông Cửu Long - nơi từ trước vẫn thuộc quyền
quản lý của Chân Lạp và được gọi dưới tên Chân Lạp miền
nước (Thủy Chân Lạp).
Năm 1628, Chey Chettha II qua đời. Chân Lạp càng
suy yếu nghiêm trọng. Các thế lực cầm quyền ở Chân Lạp
lúc thì dựa vào phong kiến Xiêm, lúc lại cầu cứu Chúa
Nguyễn để bảo vệ quyền lợi. Do vậy các Chúa Nguyễn càng
có điều kiện củng cố ảnh hưởng của mình với Chân Lạp.
39 40
Tuy vậy, vai trò chủ yếu của Chúa Nguyễn chỉ xuất hiện
trong những trường hợp cần thiết để hỗ trợ cho Chân Lạp,
đồng thời ngăn cản bớt tham vọng của phong kiến Xiêm
đối với Chân Lạp và khu vực. Một số sự kiện tiêu biểu cho
vai trò này có thể kể đến như:
- Vào năm 1674, nội chiến giữa Nặc Ông Đài và Nặc
Ông Nộn diễn ra. Chúa Nguyễn cử Cai cơ Nguyễõn
Dương Lâm sang giúp Ông Nộn lên ngôi và đặt Ông
Đài làm phó Vương.
- Năm 1699, Nặc Ông Nộn nghe theo lời xúi bẩy của
phong kiến Xiêm, bỏ triều cống và đem quân chống
lại Chúa Nguyễn. Tổng suất Nguyễn Hữu Cảnh phải
ra tay đánh dẹp.
- Năm 1705, nội loạn diễn ra ở Chân Lạp, Chúa
Nguyễn phải giúp lập lại trật tự.
- Năm 1753, lại giúp người Chăm Islam ở Chân Lạp
khối cư dân trở nên tự nhiên, cần thiết. Họ không chỉ trao
đổi sản phẩm cho nhau mà còn học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau
ngay trong quá trình sản xuất.
*Về văn hóa – xã hội:
Nếu như trước đây người Khmer đã sớm biết chuyển
hóa văn hóa biển Phù Nam để làm giàu thêm nền văn hóa
của mình, thì ở giai đoạn này việc học hỏi, giao thoa về văn
hóa càng có điều kiện để thúc đẩy hơn nữa. Khi tiến về
phương Nam người Việt mang theo mình văn hóa Thăng
Long đã tích hợp từ ngàn năm trước, nhưng đồng thời cũng
không ngừng tiếp thu thêm các giá trò văn hóa từ các nền
văn hóa Chăm, Khmer. Sự tiếp thu này thể hiện phong
41 42
phú, đa dạng từ nghệ thuật xây dựng, điêu khắc, ca múa
nhạc cung đình và dân gian cho đến sự giao hoan trong tín
ngưỡng, phong tục, tập quán. Ngược lại, qua quá trình
chung sống thuận hòa, người Khmer cũng có thêm những
kinh nghiệm mới trong việc xây dựng tổ chức chính quyền,
trong kinh nghiệm làm ruộng nước và nhiều vấn đề khác
nữa… Kể từ thế kỷ XVIII, mối quan hệ giữa hai khối cư dân
ngày thêm bền chặt, cơ sở của tình đoàn kết đó không chỉ
bắt nguồn từ cuộc sống, sản xuất gần gũi mà còn từ việc họ
đều có chung một kẻ thù giai cấp, đó là phong kiến họ
Nguyễn. Ở giai đoạn thế kỷ XVIII, phải kể đến những mối
liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nghóa quân Tây Sơn với
nhân dân Chân Lạp. Mối liên minh này được Thực Lục
10
phản ánh “Trong cuộc khởi nghóa, Tây Sơn đã được các Ốc
nha (quan viên) Chân Lạp ủng hộ. Năm 1872, khi Nguyễn
Cho đến trước thế kỷ XIII, miền hạ Lào vẫn bò chiếm
đóng và thuộc quyền cai quản của các vương triều Chân Lạp
. trong khi đó ở miền Bắc (Thượng Lào), các thò tộc, bộ lạc
Lào bắt đầu bước vào giai đoạn hình thành các tổ chức xã
hội sơ khai, các Mường cổ.
Đến giữa thế kỷ XIV, xã hội người Lào tương đối phát
triển. Ở miền Hạ Lào, vương quốc Chân Lạp ngày càng suy
yếu và thu hẹp lãnh thổ. Thêm vào đó, những điều kiện
thuận lợi của tình hình quốc tế và khu vực đã tác động
mạnh đến Lào, dẫn đến sự ra đời của nhà nước thống nhất,
độc lập của người Lào: Nhà nước Lạn Xang dưới triều Vua
Pha Ngừm.
2. Mối bang giao Việt – Lào hình thành rất sớm và
phát triển liên tục trong lòch sử
a. Cơ sở của mối bang giao:
11
Lê Quý Đôn, Văn Đài Loại ngữ, Hà Nội, 1962, tr.155, 156, T.II
43 44
- Cả hai nước đều có chung điều kiện đòa lý mang tính
khu vực.
- Có chung đường biên giới dài, nhân dân hai nước
sớm qua lại giao lưu như một thực thể khách quan.
- Có chung một kẻ thù nguy hiểm là phong kiến
phương Bắc xâm lược. Cả Lào và Việt Nam đều là cửa ngõ
của Đông Nam Á ở phía Đông, nên hai nước sớm hình
thành khối liên minh đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù
chung. Những cơ sở này đã sớm hình thành nên mối quan
hệ gắn bó “như môi với răng” giữa hai nước. Trong lòch sử,
.
Trước đó, các vua Trần cũng đều nhận rõ tầm quan trọng
trong việc thiết lập khối liên minh với Lào, nên các vua
Nhân Tôn, Anh Tôn, Minh Tôn và các tướng Phạm Ngũ
Lão, Đoàn Nhữ Hài … đích thân tham gia việc này. Việc
làm của nhà Trần đã đặt cơ sở đầu tiên cho việc thiết lập
hệ thống phòng thủ ở phía Tây Bắc và phía Tây nước ta,
nhằm đối phó với phong kiến Trung Quốc.
Khi nhà Trần suy yếu, nhà Hồ lên, các quý tộc nhà
Trần đã chạy sang đất Lào để lánh nạn và chờ cơ hội phục
hồi lại ngai vàng. Nhân dân Lào đã che chở và bảo bọc họ.
Từ thế kỷ XIV, khi vương quốc Lạn Xang độc lập ra
đời, trên cơ sở bang giao đã có từ trước giữa nhân dân hai
nước, mối bang giao giữa hai nhà nước cũng nhanh chóng
được thiết lập. Các sứ giả của hai nước thường xuyên qua
lại giao hảo. Mối giao hảo thân thiện ngày càng trở nên
gắn bó hơn khi cuộc xâm lượïc của nhà Minh xuống vùng
này đang gần kề. Hai nước đã cùng nhau sát cánh đương
đầu với cuộc xâm lược đó.
12
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần
45 46
Đầu thế kỷ thứ XV, khi cuộc khởi nghóa Lam Sơn
bùng nổ, Lê Lợi đã cử các tướng thông thạo tiếng Lào sang
liên hệ với vua Lào để mua voi, lương thực, vũ khí của Lào.
Vua Lào cùng nghóa quân kết nghóa giao hòa và giúp đỡ
nghóa quân rất nhiều. Trên thực tế quân dân Lào – Việt đã
cùng chiến đấu dũng cảm chống lại quân Minh. Tuy ở
những năm 20 của thế kỷ này, quan hệ giữa hai bên có xấu
và yêu cầu chống ngoại xâm hơn là trên cơ sở một nền tảng
thống nhất về kinh tế – xã hội. Tính chất phân tán, biệt
lập của nền kinh tế – xã hội và đòa lý khiến giao lưu, trao
đổi, giao thông khó khăn, thường hình thành các thế lực
cát cứ đòa phương. Do vậy, từ cuối thế kỷ XVIII, Lào bò chia
làm ba tiểu quốc: Viêng Chăn, Luông Pha Băng và Chăm
Pa Xắc. Để duy trì quyền lợi của mình, các tiểu vương đã
cấu kết với các thế lực bên ngoài: Việt Nam, Thái Lan và
Campuchia. Chính quyền Viêng Chăn đã nhận được sự giúp
đỡ của các Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn sau này.
Khi phong trào Tây Sơn nổ ra và giành thắng lợi, vua
Quang Trung là người nhìn xa trông rộng đã thấy rõ tầm
quan trọng của mối đoàn kết Việt – Lào, nên đã cho sứ giả
đến Trấn Ninh, Trònh Cao, Quy Hợp và Viêng Chăn (là nơi
tập đoàn Lê Duy Chỉ cấu kết với Lào nhằm phá hoại phong
trào Tây Sơn). Vua Viêng Chăn (Châu Mẫn Thạ Xỗm) bò
Xiêm bức bách đã bắt sứ giả giao cho Xiêm, còn trống, cờ,
ấn tín thì đem nộp cho Nguyễn Ánh. Được tin này Quang
Trung đã cử vợ chồng Đốc Trấn Nghệ An Trần Quang Diệu
mang 3 vạn quân đi dẹp phía Tây. Đây là việc làm nhằm tự
vệ, nhưng đã góp phần chặn đứng được sự bành trướng của
Xiêm sang Lào. Vì vậy cuộc hành quân này đã được nhân
dân Lào ủng hộ và giúp đỡ.
Sau khi Quang Trung mất, Lào bò áp lực của Xiêm –
Nguyễn đã liên minh với họ để phản công Tây Sơn. Đây chỉ
47 48
là sự liên minh giữa các lực lượng phản động nhằm chống
lại lực lượng tiến bộ.
Đầu thế kỷ XIX, Lào vẫn tiếp tục bò chia cắt và nằm
dưới sự thống trò của Xiêm. Các Mường Lào thường có xu
lên. Đó là nơi thuận tiện cho việc trao đổi hàng hóa giữa
miền xuôi và miền ngược, giữa người Việt và người Lào.
14
Về văn hóa cũng có sự giao lưu khá đậm nét ở các
vùng biên giới kể trên. Lào là nơi có kho tàng truyện cổ
tích dân gian phong phú, những câu truyện này cũng có thể
tìm thấy những dò bản khác nhau ở vài nơi trên đất Việt
hoặc ngược lại ở các thời kỳ quan hệ giữa hai nước tốt đẹp,
vẫn thường xảy ra việc trao đổi văn hóa với nhau. Một số
quý tộc Lào vẫn được đưa sang Việt Nam để du học.
V. BANG GIAO VIỆT NAM - THÁI LAN
1. Thái Lan là một nước có lòch sử rất trẻ ở vùng
Đông Nam Á, thế nhưng trên lãnh thổ người Thái lại có
dấu vết rất cổ xưa của con người.
Cư dân trên khu vực Sê-Mun (Khò rạt), có lẽ chủ yếu
là người Khmer. Còn ở đồng bằng Mê-Nam là đòa bàn cư
trú của người Môn.
Ở thời kỳ phát triển của Phù Nam, vùng hạ lưu sông
Mê-Nam và một số điểm quần cư khác của người Môn đã bò
lệ thuộc vào Phù Nam. Thư tòch cổ Trung Quốc còn nhắc
đến một trong số những nước phụ thuộc ấy có tên gọi là
Xích Thổ (Đất Đỏ). Kết quả khảo cổ học cho biết cư dân
14
Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, q. 4, tr. 223.
49 50
vùng hạ lưu sông Mê-Nam đã đạt đến một trình độ khá cao
trong khu vực về nghề chế tạo gốm, đồ đồng thau … Họ có
trao đổi khá thường xuyên với cư dân vùng đồng bằng sông
2. Quan hệ Việt Nam – Thái Lan được sử sách ghi
chép sớm nhất vào thế kỷ XII và các thế kỷ sau đó. Có lẽ
là vào thời kỳ phát triển của Sukhothay và sau đó là
Auythaya. Quan hệ lúc này chủ yếu diễn ra trên lónh vực
thương mại: thuyền buôn của người Xiêm thường đến Vân
Đồn buôn bán. Bên cạnh thuyền buôn của khách Xiêm còn
có cả thuyền buôn của nước Xiêm do triều đình cử đi.
15
Cuối thế kỷ XIV, quan hệ Việt - Xiêm càng thêm thân
hữu, chính sách của Sukhothay lúc này là tăng cường quan
hệ với Đại Việt và Trung Quốc. Ý đồ của Xiêm muốn liên
kết với các quốc gia hùng mạnh và bí quyết ngoại giao của
Xiêm trong giai đoạn này là dựa vào mối quan hệ thân
thiện nhiều mặt với Trung Quốc, để tạo thực lực và uy tín,
từ đó đưa Sukhothay thành một quốc gia thònh vượng và
lớn mạnh, đồng thời cũng thông qua đó để mở rộng lãnh
thổ ra bên ngoài.
Với Đại Việt, năm 1335, một phái bộ Xiêm đã đến tận
Cửa Rào (Nghệ An) để đón vua Trần Hiến Tông nhân dòp
nhà vua đi thò sát biên giới phía Tây.
Từ thế kỷ XVI trở đi, mối quan hệ giữa Đại Việt –
Xiêm ngày càng tiến triển phong phú và không kém phức
tạp. Tình hình này đã được ghi chép trong Đại Nam Thực
Lục của quốc sử quán triều Nguyễn. Đây cũng là thời kỳ họ
15
Sách Toàn thư cũng đã cho biết: Vào cuối thế kỷ XII, vua Xiêm đã
sai sứ giả sang giao hiếu