CO GIẬT VÀ TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
Ở NGƯỜI LỚN
Co giật là một đợt rối loạn chức năng thần kinh gây nên bởi sư phóng điện
bất thường của tế bào thần kinh của não. Co giật toàn thân gày nên bởi sự hoạt hoá
kế cận cùng lúc của toàn bộ võ não, kết hợp với mất ý thức. Co giật cục bộ gây
nên bởi sự phóng điện bắt đầu từ một vùng khu trú của võ não. Ý thức có thể bị
ảnh hưởng hay không. Trạng thái động kinh được định nghĩa là co giật = 2 lần mà
ý thức không hồi phục hoàn toàn giữa các cơn hoặc co giật liên tục = 30 phút. Tỉ lệ
tử vong là 1 % đến 10 % và có thể gây ra các các di chứng thần kinh vĩnh viễn ở
những người sống sót. Như thế, cần có một chẩn đoán sơ bộ và tiến hành trị liệu
thích hợp với tất cả các co giật liên tục kéo dài hơn 10 phút.
Đặc điểm lâm sàng
Co giật toàn thân gồm có co giật cơn lớn (co-giật) và cơn vắng ý thức (cơn
nhỏ). Bệnh bị co giật cơn lớn biểu hiện bằng đột ngột gồng cứng thân thể người
ưỡn và tay chân duỗi ra, mất ý thức và trương lực tư thế. Bệnh nhân thường ngưng
thở, tím nặng và có thể tiêu tiểu ra quần. Khi giai đoạn gồng cứng chấm dứt (tăng
trương lực), bệnh nhân có các run giật đều 2 bên (giật) của thân và tứ chi thường
kéo dài 60 – 90 giây. Ý thức từ từ trở lai nhưng có thể kèm theo một giai đoạn lú
lẫn sau cơn kéo dài nít nhiều giờ.
Co giật thể vắng ý thức xảy ra ở trẻ em và có đặt điểm là mất ý thức đột
ngột mà không mất trương lực tư thế, đi kèm với nhìn chầm chầm và máy mi mắt.
Các cơn chỉ kéo dài vài giây, trong giai đoạn này bệnh nhân không đáp ứng với lời
nói hoặc các kích thích khác. Bệnh nhân sau đó trở lại hoạt động trước động kinh
mà không có lú lẫn sau cơn.
Động kinh cục bộ được chia thành cục bộ đơn thuần, trong đó ý thức vẫn
toàn vẹn, và cục bộ phức tạp, trong đó ý thức bị ảnh hưởng. Động kinh cục bộ đơn
thuần có thể có đi kèm với tiền triệu gắn với vùng của não bị ảnh hưởng, bao gồm
các chớp sáng hình ảnh bị méo mó, các ảo khứu giác và vị giác. Co giật cục bộ
phức tạp thường bắt nguồn từ thùy thái dương và có thể có kèm khó chịu ở thượng
vị, cử động tự ý, rối loạn trí nhớ, rối loạn tri giác và các rối loạn cảm xúc. Các
+ Bênh thoái hoá
+ Dị dạng bẩm sinh
* Chấn thương (gần đây hay trước kia)
* Nhiễm trùng (viêm màng não, viêm não, áp-xe)
* Các rối loạn chuyển hoá
+ Hạ và tăng đường huyết
+ Hạ và tăng natri máu
+ Các tình trạng tăng thẩm thấu
+ Tăng urê huyết
+ Suy gan
+ Hạ calci máu hạ magnesium máu (hiếm)
* Độc tố và thuốc
+ Cocaine và lidocaine
+ Chống trầm cảm
+ Theophylline
+ Cai rượu
+ Cai thuốc
* Sản giật (có thể xảy ra đến tuần thứ 8 sau khi sanh)
* Bệnh não do cao huyết áp.
* Tổn thương thiếu oxy, thiếu máu ngưng tim, thiếu oxy máu nặng).
Xét nghiệm cận lâm sàng tùy thuộc vào từng trường hợp đặc biệt. Bệnh
nhân đã được biết có co giật trước đó thì chỉ cần xác định nồng độ thuốc chống
động kinh và nồng độ glucose. Bệnh nhân bị cơn co giật đầu tiên thì phải được
khảo sát nhiều hơn nữa, bao gồm glucose huyết thanh, điện giải, calcium,
magnesium, chức năng thận creatinine kinase để đánh giá ly giải cơ vân, xét
nghiệm chẩn đoán thai, tầm soát độc chất học và phân tích dịch não tủy.
Việc khảo sát hình ảnh học sau co giật còn tranh cải và nên áp dụng cho
từng trường hợp. Bệnh nhân co giật do sốt hoặc co giật điển hình như thường lệ
không cần được khảo sát hình ảnh học. Bệnh nhân bị co giật lần đầu tiêm cần
được chụp CT cắt lớp hoặc hình ảnh cộng hưởng từ đầu để nhận dạng một tổn
co giật tiếp tục, có thể cho mộl liều thứ hai 5-10 mg TM. Phenytoin đạt nồng độ trị
liệu trong 1 đến 2 giờ. Có thể cho qua đường uống, nhưng chỉ đạt được nồng độ trị
liệu từ 2 đến 24 giờ.
4. Fosphenyloin là một tiền chất của phenytoin được dùng như liều tải tiêm
TM 15-20 mg của tương đương phenytoin/kg,với vận tốc truyền 100 đến 150
tương đương Phcnytoin/phút.
5. Phenobarbital được xem là thuốc thứ nhì đối với co giật kháng với
benzodiazepines và phenytoin. Liều tải 20 mg/kg truyền TM với vận tốc 50-75
mg/phút. Có thể cho một liều thứ nhì 5-10 mg/kg nếu co giật tiếp tục. Ức chế hô
hấp và huyếl áp thấp thường thấy, đặc biệt khi dùng chung với benzodiazepines.
6. Co giật kháng trị với các can thiệp đề cập ở trên được điều trị bằng
truyền TM midazolam, propofol, thiopental hoặc pentobarbital để gây mê toàn
thân, với theo dõi điện não đồ liên tục.
7. Các thuốc ức chế thần kinh-cơ, như succinylcholinc, pancuronium hoặc
vecuronium, Có thể làm dễ dàng việc xử trí. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc
này đòi hỏi phải thco dõi điện não liên tục để đánh giá hiệu quả của trị liệu chống
động kinh.
8. Magnesium sulfate được dùng để điều trị động kinh trong sản giật, khởi
đầu với liều tải 4g đến 6g, tiếp theo là truyền tĩnh mạch 1-2g/giờ. Trị liệu cho đến
khi ra thai
Bệnh nhân có rối loạn co giật nền, nhập viện vì co giật có thể được cho xuất
viện khi trạng thái tâm thần của họ trở lại như mức ban đầu và nồng độ thuốc
chống động kinh trong huyếl thanh đã được kiểm tra. Nếu nồng độ duới ngưỡng trị
liệu cần cho một liều tải trước khi xuất viện. Nếu dùng liều tải bằng đường uống,
bệnh nhân cần đựơc cảnh báo rằng nồng độ trị liệu có thể sẽ không đạt được trước
24 giờ. Liệu bệnh nhân bị co giật lần đầu có cần dùng thuốc chống co giật khi ra
viện không, thì tùy thuộc vào từng trường hợp và cần thảo luận với bệnh nhân và
thầy thuốc chịu trách nhiệm theo dõi chăm sóc họ. Tất cả bệnh nhân đều được
khuyến cáo là không được bơi lội mà không có người theo dõi, điều khiển máy
móc, làm việc trên cao, và lái xe. Bệnh nhân bị trạng thái động kinh, bệnh nhân có