Chuẩn bị bệnh nhân làm điện tim, điện não
1.Kỹ thuật ghi điện tim:
1.1 Nguyên lý của điện tâm đồ, 12 chuyển đạo cơ bản.
a) Nguyên lý:
Cơ tim ví như một tế bào, lúc nghỉ các ion dương ở ngoài màng tế bào, còn các ion âm
bị giữ ở trong màng để thăng bằng lực hút tích điện: một tế bào như thế gọi là có cực
Khi cơ tim bị kích thích sẽ xuất hiện khử cực trong đó có các ion âm khuếch tán ở
ngoài màng, còn các ion dương khuếch tán vào trong màng, tiếp theo các hiện tượng
khử cực lại đến sự tái cực cho điện dương xuất hiện trở lại mặt ngoài và điện âm ở
trong tế bào như lúc đầu
Hai hiện tượng khử cực và tái cục đều xuất hiện ở thời kỳ tâm thu còn thời kỳ tâm
trương, tim ở trạng thái có cực như nói trên
Nếu dùng một điện kế để thu những hiện tượng trên, ta có một đường biểu diễn gọi là
điện tâm đồ. Ðường này gồm có:
- Một đường đẳng điện tương ứng với hiện tượng có cực
- Ðoạn PQ gồm thời gian khử cực nhĩ và truyền xung động từ nhĩ xuống thất. Sóng P
là sóng hoạt động của tâm nhĩ bắt đầu từ nút xoang
- Phức bộ QRS: khử cực của tâm thất
- Ðoạn ST: Thời kỳ khử cực hoàn toàn của thất
- Sóng T: Tái cực của tâm thất
b) 12 chuyển đạo cơ bản:
* Chuyển đạo lưỡng cực ở các chi (chuyển đạo lưỡng cực ngoại biên)
Chuyển đạo D1: 1 điện cực ở cổ tay phải, 1 ở cổ tay trái
Chuyển đạo D2: 1 điện cực ở cổ tay phải, 1 ở cổ chân trái
Chuyển dạo D3: 1 điện cực ở cổ tay trái, 1 ở cổ chân trái
- Ðể bệnh nhân nằm ngửa thoải mái trên giường
c) Tiến hành:
- Chuyển đạo ngoại biên D1, D2, D3
- Chuyển đạo trước tim VI V2, V3, V4, V5, V6
- Nối dây đất ở MÁY vào vị trí nào đó: vòi nước, chỗ rửa có phần kim loại tiếp xúc
với mặt đất
- Nối nguồn điện vào máy, bật máy thấy chắc chắn điện đã vào máy
- Bộc lộ phần cổ tay, cổ chân bệnh nhân, bôi chất dẫn điện vào các bản cực nối các bản
cực vào cổ tay cổ chân (mặt trong cố tay cổ chân). Lắp các dây chuyển đạo ngoại vi
vào các bản cực sao cho dây có màu đỏ nối với bản cực ở CỔ tay phải
Dây có màu vàng nối với bản cực ở cổ tay trái
Dây có màu đen nối với bản cực ở cổ chân phải
Dây có màu xanh nối với bản cực ở cổ chân trái
- Bộc lộ phần ngực bệnh nhân, bôi chất dẫn điện vào các vị trí da nơi gắn điện cực, sau
đó gắn với điện cực lên vị trí tương ứng
- Bảo bệnh nhân thở đều, có thể nhắm mắt lại
- Bật máy, định chuẩn điện thế, thời gian: làm test thời gian và biên độ. Yêu cầu của
test là phải vuông góc. Làm test nào thì ghi điện tim theo test đó (thời gian và điện thế)
Chú ý tốc độ chạy giấy có những tốc độ sau: l0mm/s, 25mm/s, 50mm/s, 100mm/s
Ðiện tâm đồ bình thường chạy tốc độ 25mm/s
Nếu chạy 10mm/s khoảng cách các phức bộ ngắn
Nếu chạy 50mm/s, 100mm/s: các phức bộ chậm và giãn ra
- Ghi các chuyển đạo: mỗi chuyển. đạo nên ghi khoảng cách từ 3 đến 5 ngày. Nhưng
nếu nhịp tim không đều có thể ghi dài hơn theo yêu cầu. Trong quá trình ghi, kim ghi
có thể lên xuống phải điều chỉnh kim sao cho vị trí kim ghi luôn ở giữa giấy
- Ghi xong các chuyển đạo, cho giấy chạy quá vài ô rồi tắt máy và xé đoạn giấy
- Tắt máy tháo các điện cực trên cơ thể bệnh nhân, lau chất dẫn điện trên người bệnh
nhân và trên các bản cực.
thở rối loạn bệnh nhân run vì rét hoặc sợ (ủ ấm, giải thích hoặc uống thuốc an thần
trước khi ghi). Có thể 1 trong các bản cực bị tuột (xem các bản cực)
2.Chuẩn bị bệnh nhân ghi điện não đồ
a)Ghi điện não đồ:
Ðiện não đồ là đường biểu diễn sự biến đổi điện thế theo thời gian phát ra từ não được
phát hiện ở da đầu
Người ta dùng một máy thu và phóng đại dòng điện do não phát ra đồng thời ghi nó
lên một tờ giấy cuốn trên một trục quay có tốc độ không đổi
Người ta sử dụng nhiều điện cực được đặt vào da đầu sau khi lau sạch và rẽ tóc một
cách cẩn thận.
Ðường biểu diễn ghi được thường dài, có những sóng dương- và âm tùy theo sóng đó
ở trên hoặc dưới đường nằm ngang
Người ta quan sát tần số, biên độ, hình dáng, tính đều đặn, vị trí của các sóng để biết
được não hoạt động bình thường hoặc bệnh lý
b) Chỉ định:
Tổn thương ở não, ngoài ra còn để tiên lượng những chấn thương sọ não, sau phẫu
thuật thần kinh, viêm màng não, v.v.
c) Chuẩn bị bệnh nhân ghi điện não đồ:
- Trước ngày thăm dò: giải thích hướng dẫn và động viên bệnh nhân an tâm ngủ tốt,
bệnh nhân được gội đầu sạch sẽ
- Chuyển bệnh nhân đến phòng thăm dò
- Ðặt bệnh nhân nằm lên giường yên tĩnh, thoải mái, ấm áp.
Nhân viên y tế có thể yêu cầu người bệnh ngưng một số loại thuốc trước khi làm xét
nghiệm. Không nên tự ý ngưng hoặc đổi thuốc khi không có chỉ dẫn của thầy thuốc.
Người bệnh cần tránh các loại thực phẩm chứa caffeine trong vòng 8h trước khi làm
xét nghiệm này.
Đôi khi, người bệnh được yêu cầu ngủ ít đi trước khi làm xét nghiệm để có thể ngủ
trong suốt quá trình đo điện não đồ.
Nhũ nhi và trẻ em:
Việc chuẩn bị về thể chất và tâm lý cho bệnh nhân đối với xét nghiệm này hay bất kỳ
xét nghiệm nào khác phụ thuộc vào lứa tuổi của trẻ,thái độ, đã từng được xét nghiệm
trước đó và mức độ tin tưởng của trẻ. Để có những thông tin chuyên biệt về cách
chuẩn bị cho trẻ,hãy xem những bài chuyên đề sau(viết tương ứng với độ tuổi của trẻ):
- Các xét nghiệm ở trẻ nhũ nhi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ lúc sinh đến 1
tuổi)
- Các xét nghiệm ở trẻ tập đi hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 1 đến 3 tuổi)
- Các xét nghiệm ở trẻ mẫu giáo hay những chuẩn bị trước thủ thuật ( từ 3 đến 6 tuổi)
- Các xét nghiệm ở trẻ đang đi học hay những chuẩn bị trước thủ thuật (từ 6 đến 12
tuổi)
- Các xét nghiệm ở trẻ vị thành niên hay những chuẩn bị trước thủ thuật(từ 12 đến 18
tuổi).
f) Tại sao phải làm xét nghiệm?
EEG được dùng để giúp chẩn đoán xác định cũng như các dạng rối loạn co giật, để tìm
nguyên nhân của tình trạng lú lẫn, và để đánh giá các chấn thương vùng đầu, tổn
EEG cũng có thể được chỉ định trong các trường hợp sau:
- Dị dạng mạch máu (não)
- Chóng mặt theo tư thế lành tính
- Phình mạch máu não
- Hội chứng cai rượu (chứng mê sảng rượu cấp)
- Bệnh Creutzheldt-Jacob
- Mê sảng
- Tình trạng sa sút trí tuệ
- Tình trạng sa sút trí tuệ do chuyển hoá
- Sốt cao co giật (ở trẻ em)
- Cơn co-giật toàn thân
- Hôn mê gan
- Hội chứng gan thận
- Mất ngủ
- Viêm mê đạo (vùng tai)
- Bệnh Meniere
- U di căn não
- Bệnh xơ cứng rải rác
- U thần kinh đệm của mắt
- Động kinh cục bộ
- Động kinh cục bộ phức tạp
- Động kinh tiềm ẩn
- Bệnh Pick
- Sa sút tâm thần ở người già (bệnh Alzheimer)
- Hội chứng Shy-Drager
- Viêm màng não vô trùng do giang mai
- Động kinh do thuỳ thái dương
cực nằm trên da đầu.
+ Điện cực trung tính là điện cực mà tại đó người ta coi giá trị điện thế điện não = 0:
nằm ở 1 số vùng như cằm, má thông thường ở 2 dái tai.
Ưu nhược điểm:
+ Ưu điểm: chính xác + thu được các sóng khá sâu.
+ Nhược điểm: đôi khi các điện cực trung tính lại có sóng
VD: ở thái dương có ổ kích thích mạnh, khối u -> sóng rất mạnh lan toả nhiều nơi, đến
tai nên khi nối vào tai gây nhầm lẫn.
Đạo trình lưỡng cực:
Là ghi lại hiệu điện thế điện não nằm giữa 2 điện cực chủ động.
Ưu nhược điểm:
+ Ưu điểm: chính xác là của vùng ghi được, chẩn đoán định khu tốt.
+ Nhược điểm: có hiện tượng đồng pha và ngược pha.
Đồng pha -> làm giảm điện thế 1 cách bất thường.
Ngược pha -> tăng điện thế 1 cách bất thường.
(Nhận biết: một vùng mất hẳn, hoặc tăng/giảm 2-3 lần)
Xử trí: Xê dịch chân các điện cực. Nếu không được thì quay về phương pháp đơn cực.
Cách chọn chương trình:
Không bỏ sót vùng nào
Đo trên toàn bộ não chiều dọc và ngang
Dùng >= 8 kênh 16 kênh: sơ đồ như hình trên
(Bên Trái 6)
1: Fp1 F3