Tài liệu LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN PHÉP BIỆN CHỨNG - Pdf 10

Tiểu luận: Quá trình phát triển của phép biện chứng trong lịch sử

LỜI NÓI ĐẦU
Biện chứng và siêu hình là 2 phương pháp tư duy trái ngược nhau trong triết học.
Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái đứng im, không vận
động, tách rời cô lập và tách biệt nhau. Cách xem xét cho chúng ta thấy được sự tồn tại của
sự vật hiện tượng ở trạng thái đứng im tương đối, nhưng xét tuyệt đối hóa phương pháp này
sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự phát triển, không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện
tượng. Trong khi đó phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét những sự vật hiện
tượng và những phản ánh của chúng vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của
chúng, trong sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”.
Trong lịch sử triết học có nhưng thời gian, tư duy siêu hình chiếm ưu thế so với tư
duy biện chứng. Nhưng xét trong toàn bộ lịch sử triết học, thì phép biện chứng luôn chiếm
một vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội. phép biện chứng là một khoa học triết
học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao là phép biện chứng duy vật Mác-xít của triết
học Mac-Lenin. Chủ nghĩa Mac-Lenin luôn đánh giá cao phép biện chứng, nhất là phép biện
chứng duy vật, coi đó là một công cụ tư duy sắc bén để đấu tranh với thuyết không thể biết,
tư duy siêu hình, củng cố niềm tin vào sức mạnh và khả năng của con người trong nhận thức
và cải tạo thế giới.
Việc nghiên cứu lịch sử phát triển của phép biện chứng sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn
bản chất của phép biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại. Xuất
phát từ mục đích đó, chúng tôi chọn đề tài: Lịch sử phát triển của phép biện chứng trong triết
học” để làm đề tài nghiên cứu. Dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên triết học Trần
Thị Thùy Trang nhưng do kiến thức triết học còn hạn hẹp và chưa có kinh nghiệm áp dụng
vào thực tê. Do đó trong bài tiểu luận có những nội dung còn thiếu sót cần được bổ sung và
sửa đổi rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn để rút kinh nghiệm cho những
bài sau được tốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
1
Tiểu luận: Quá trình phát triển của phép biện chứng trong lịch sử



đến số "Hành" tối thiểu là 5. Các học giả từ xưa đã biết "Thổ khắc Thủy" là sai, nhưng
không thể nào sửa lại hay điều chỉnh được, vì giống như hình ảnh của thuyết con cờ
"Domino", nếu một cái ngã thì sẽ kéo theo toàn bộ, và kết quả là cả thuyết Ngũ hành sẽ
không còn có giá trị gì nữa! Riêng các học giả Tây phương khá nổi tiếng am hiểu về Dịch
như C. K. Jung, Blofeld (3), v.v, khi nghiên cứu về Dịch lý, cũng chỉ chú trọng đến
"BátQuái" và 64 quẻ Dịch, mà không muốn nhắc đến thuyết Ngũ hành, kể cả bàn về Tiên
Thiên và Hậu Thiên Bát Quái.
Cũng nhân đây xin đưa ra một chứng minh cụ thể sai lầm về lý luận trong Hậu Thiên
Bát Quái. Các nhà thông thái cho rằng sở dĩ Thiên và Trạch thuộc hành Kim ở hướngTây, vì
hướngTây (của Trung hoa ) có nhiều núi nên cho rất nhiều quặng mỏ kim loại; trong khi đó
ngược lại hướng Ðông là biển, nơi các con sông đều chảy về (Chúng Thuỷ Triều Ðông) làm
tốt cho cây cỏ thảo vật, nên thuộc hai quái Lôi và Phong hành Mộc. Giải thích trên nếu có
được là vì các nhà thông thái thời bấy giờ coi Trung hoa là Trung tâm điểm của trái đất.
Chúng ta có thể thấy ngay lập luận trên không hợp lý chút nào, vì nếu như sống ở những
vùng như California, thì núi lại nằm ở hướng Ðông và biển thì lại ở hướng Tây!
Thông thường trong đa số các bộ môn về khoa học, nếu muốn tìm hiểu cho rõ nguyên
nhân nào, và tại sao đưa đến sự sai lầm thực tế trong ứng dụng, thì không gì chắc chắn hơn
là trở lại nghiên cứu từ căn bản nguồn gốc của lý thuyết. Vì vậy, trước khi đi sâu thêm vào
chi tiết sai lầm đáng kể khác của thuyết Ngũ hành, tưởng cũng nên trở lại một chút với lý
thuyết căn bản về Dịch lý.
1. Phép biện chứng duy tâm khách quan
Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học cổ điển Đức cuối thế kỉ XVIII, nửa
đầu thế kỉ XIX. Thời kì này, khoa học đã đạt được nhiều thành tựu ở nhiều lĩnh vực. Đó
cũng chính là cở sở để đi tới khái quát mới về nội dung phép biện chứng.
Đại diện tiêu biểu cho phép biện chứng duy tâm là Hêghen. Ông là người đầu tiên
xây dựng hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm. Tính chất duy tâm của Hêghen thể hiện ở
chỗ: “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước, “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành thế giới tự nhiên và
xã hội, cuối cùng lại trở về với chính mình trong tinh thần tuyệt đối. Họ coi tinh thần là thứ
3

NỘI DUNG CHÍNH CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Theo C.Mác: Biện chứng khách quan là cái có trước, còn biện chứng chủ quan (tư
duy biện chứng) là cái có sau và là phản ánh của biện chứng khách quan, đây là sự khác
nhau giữa phép biện chứng duy vật của ông với phép biện chứng duy tâm của Hêghen.
C.Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt phép biện chứng duy tâm của Hêghen
"đứng trên hai chân của mình" tức là đứng trên nền tảng duy vật. Theo Lênin thì phép biện
chứng là "học thuyết về sự phát triển đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất, học thuyết về tính
tương đối của sự vật".
Ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là: 1. Mối liên hệ cùng tồn tại
và phát triển; 2. Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau tuy có sự khác nhau nhưng vẫn có sự giống
nhau; 3. Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát triển. Các mối liên hệ được khái
quát thành các cặp phạm trù như( phần tử - hệ thống, nguyên nhân - kết quả, lượng - chất)
và các quy luật (quy luật lượng - chất, quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập,
quy luật phủ định của phủ định).
Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác đã công khai tính giai cấp của để bảo vệ lợi
ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Trong khi đó các nền triết học
trước Mác che dấu lợi ích của nó, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, của một nhóm người
thiểu số trong xã hội. Triết học C.Mác là một hệ thống sáng tạo, là một hệ thống mở, không
ngừng được bổ sung, được làm phong phú thêm bởi chính thực tiễn và phát triển. Cùng với
chính sự phát triển thực tiễn, học thuyết của C.Mác là kim chỉ nam cho hành động.
Những nội dung chính của phép biện chứng được C.Mác và Ph.Ănghen luận chứng
trong tác phẩm: "Biện chứng của tự nhiên" (1873 - 1883), "Chống Đuy -rinh" (1876 -1878),
"Lút-vich Phoiơ Bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức" và một số tác phẩm do
V.I.Lênin viết như: "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán" (1908 -1909),
"Bút ký triết học".
5
Tiểu luận: Quá trình phát triển của phép biện chứng trong lịch sử

Tóm lại, phép biện chứng duy vật Mác - xít là kết quả của sự chín mùi về mặt lịch sử của
nhận thức khoa học và của thực tiễn xã hội. Sự ra đời của nó đáp ứng nhu cầu về mặt lý luận của

vật hiện tượng dang hiện hữu trong thế giới tự nhiên đều tồn tại trong tinh thần tư tưởng của
con người. Tuy còn thiếu tính triệt để và cách mạng khoa học, cũng bắt đầu từ “ý niệm” và
kết thúc bằng “ý niệm”. Nhưng nó phần nào đánh dấu sự phát triển của các nhà triết học,
giúp cong người hiểu được thể giới mình dang tồn tại tuy chưa hoàn chỉnh và mang tính chủ
quan hơn khách quan.
7
Tiểu luận: Quá trình phát triển của phép biện chứng trong lịch sử

Để khắc phục những hạn chế của Hêghen thì C.Mác và PH Ăngghen đã sáng tạo nên
phép biện chứng duy vật. Đó là giai đoạn phát triển cao nhất cuả phép biện chứng trong lịch
sử triết hoc. Nhờ sự kế thừa có chọn lọc mà Mác – Ăngghen đã phát huy triết học của
Hêghen lên một tầm cao với sự phát triển của nhận thức. Nên Lênin đã khẳng định: “ Trong
số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng tức là học thuyết về tính
tương đối của nhận thức, của con người. Nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển
không ngừng.” Nhờ học thuyết này mà con người hiểu được vạn vật xung quanh kể cả vật
chất cũng tồn tại song song và phát triển không ngừng. Bên cạnh đó, con người ngày càng
tiến bộ và cánh mạng khoa học cũng không ngừng phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu
vật chất lẫn tinh thần của con người. Học thuyết này mang tính khách quan, giúp con người
tự phát huy nhận thức, cảm nhận được sự vận dộng và phát triển của thế giới, giúp mở mang
con người không bó chặt, giúp họ hiểu sâu hiểu rộng và hiểu đúng bản chất của sự tồn tại và
phát triển trong thế giời tự nhiên là tuân theo những quy luật tất yếu. Nhằm giúp các nhà
triết học hoàn chỉnh được phép biện chứng duy vật.
Trong “tư bản” Mác áp dụng Lôgic biện chứng và lý luận nhận thức của chủ nghĩa
duy vật vào một vài khoa học duy nhất: “ mà chủ nghĩa duy vật thì đã lấy ở Hêghen tất cả
cái gì có giá trị và phát triển thêm lên ” Nhờ trí tuệ uyên bác của Mác mà phép biện chứng
duy vật đã được tạo ra với tất cả sự đối lập với phương pháp Hêghen nó vẫn thừa nhận và
nhấn mạnh sự giống nhau của mình với phương pháp đó. Như trên đã nói cho đến nay sự
quan tâm đối với di sản triết học của Hêghen vẫn không ngừng tăng lên. Chúng ta phải coi
đây là hiện tượng tích cực vì về thực chất sự quan tâm ngày một tăng lên này là sự quan tâm
không những đối vời triết học đã tổng kết về mặt lí luận lịch sử biện chứng đã có từ trước đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status