Mục lục
3
Chuyên đề 1
giáo dục môi trường thông qua
dạy học hoá học ở trường phổ thông
Mục tiêu
Kiến thức
- Nắm được những kiến thức cơ bản về cơ sở hóa học môi trường, ô nhiễm
môi trường.
- Biết được vai trò của môi trường đối với con người và tác động của con
người với môi trường (MT).
- Có những hiểu biết về luật pháp và các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước về bảo vệ môi trường.
- Biết khai thác các nội dung kiến thức hoá học có trong sách giáo khoa phổ
thông để giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua các hình thức dạy
học.
Kĩ năng
- Hình thành và phát triển những kĩ năng cơ bản về môi trường.
- Vận dụng thiết kế được các bài dạy khai thác được nội dung giáo dục môi
trường (GDMT) trong sách giáo khoa (SGK) phổ thông.
- Tổ chức dạy học và tổ chức các hoạt động ngoại khoá về giáo dục môi
trường cho học sinh.
Phương pháp giảng dạy
- Báo cáo viên chủ yếu hướng dẫn những nội dung cơ bản của chuyên đề và
hướng dẫn học viên tự đọc, tự nghiên cứu tài liệu.
- Học viên tự liên hệ thực tế, vận dụng và thiết kế được các bài soạn cụ thể về
dạy học hoá học có khai thác các nội dung về giáo dục môi trường và thiết kế
được các hoạt động ngoại khoá về giáo dục môi trường.
Chương 1
Sự phát triển, Vai trò, nhiệm vụ
và phương hướng giáo dục môi trường
dụng và bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường.
Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1948 tại cuộc họp Liên hiệp quốc (LHQ)
về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở Pari, thuật ngữ “giáo dục môi
5
trường” được sử dụng. Tiếp sau đó ngày 5 - 6 - 1972, tại Hội nghị Liên hợp quốc họp ở
Stockhom (Thụy Điển) đã nhất trí nhận định: việc bảo vệ thiên nhiên và môi trường
là hai nhiệm vụ hàng đầu của toàn nhân loại (cùng với nhiệm vụ bảo vệ hòa
bình, chống chiến tranh).
Cũng vì thế, ngày 5
tháng 6 hàng năm đã trở thành Ngày môi trường thế giới.
Hội nghị tuyên bố: GDMT là rất cần thiết để làm cơ sở cho nhận thức và hành
vi có trách nhiệm của cá nhân và tổ chức trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường.
Điều 96 của Hội nghị yêu cầu sự phát triển của GDMT như một yếu tố quyết định
nhất để tấn công vào cuộc khủng hoảng môi trường trên toàn thế giới.
Sau hội nghị họp tại Stockhom, ở nhiều nước, GDMT đã được đưa vào các
trường học. Đến năm 1973, người ta thấy có khoảng 1000 chương trình được giảng
dạy trong 750 trường và viện thuộc 70 nước khác nhau. Tuy nhiên, mục đích, nội
dung của GDMT lúc đó chưa được xác định rõ ràng. Phải đợi đến các hội nghị
quốc tế sau, vấn đề này mới được giải quyết và hoàn thiện.
Tháng 10 năm 1975, tại Hội nghị Quốc tế về GDMT họp ở Bengrat (Nam Tư),
lần đầu tiên UNESCO (Tổ chức Văn hóa khoa học và Giáo dục của LHQ) đã khởi
thảo một chương trình GDMT quốc tế (IEEP).
Tiếp sau đó, nhiều hội thảo khu vực về GDMT được tổ chức. Hội thảo của khu
vực châu á - Thái Bình Dương được tổ chức vào tháng 10 năm 1976 tại Băng Cốc
(Thái Lan). Hội thảo đã đưa ra 15 kiến nghị thuộc bốn vấn đề: chương trình
GDMT, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, GDMT phi chính quy và vấn đề soạn thảo
các tài liệu, xây dựng các phương tiện phục vụ GDMT.
Đầu tháng 8 năm 1987, UNESCO và UNED (Chương trình Môi trường LHQ)
lại phối hợp tổ chức Hội nghị Quốc tế về GDMT tại Matxcơva, có đại diện của 100
- Tăng cường năng lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc truyền đạt
những nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên.
- Xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp Tiểu học và Trung
học.
Các mục tiêu trên được thực hiện ở mức chi tiết và cụ thể hơn trong thực tiễn
thông qua dự án VIE98/018.
Đặc biệt gần đây nhất, tháng 8 - 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định
số 153/2004/ QĐ-TTg về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền
vững ở Việt Nam gồm năm phần:
Phần 1: Phát triển bền vững - Con đường tất yếu của Việt Nam.
Phần 2: Những lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững.
Phần 3: Những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững.
Phần 4: Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và
kiểm soát ô nhiễm cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững.
7
Phần 5: Tổ chức thực hiện phát triển bền vững.
ở các trường Đại học, GDMT đã được coi như một nội dung quan trọng trong
các giáo trình Con người và môi trường; Dân số, tài nguyên, môi trường. ở các
khoa: Sinh học, Địa lí, Hóa học của các trường ĐHSP (Hà Nội, Huế, TPHCM…) đã
có các môn học về môi trường.
III. Vai trò, nhiệm vụ và phương pháp giáo dục môi trường ở trường Phổ
Thông Việt Nam
1. Vai trò và vị trí của nhà trường phổ thông trong công tác giáo dục và
bảo vệ môi trường
Với mạng lưới phân bố rộng khắp đến từng thôn, ấp ở mọi miền đất nước, nhà
trường phổ thông từ bậc Tiểu học đến Trung học có vai trò đặc biệt quan trọng
trong công tác giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường.
Nhà trường phổ thông có chức năng cơ bản là hình thành và phát triển toàn
diện nhân cách của học sinh, có nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức công tác giảng dạy,
học tập và các hoạt động giáo dục khác trong và ngoài nhà trường theo mục tiêu,
- Trang bị cho học sinh một số phương pháp và kĩ năng bảo vệ môi trường để
học sinh có thể thực hành các nhiệm vụ bảo vệ môi trường ở địa phương.
III. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục - đào
tạo về bảo vệ môi trường và giáo dục môi trường
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII của Đảng (1996) về định hướng
chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo nước ta trong thời kì công nghiệp hóa, hiện
đại hóa một lần nữa khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu và nhấn mạnh đến
yêu cầu phát triển giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân
lực hiện nay và tương lai của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Đưa nội dung giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường vào nhà trường là thể
hiện cụ thể yêu cầu gắn phát triển giáo dục và đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội nước ta trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Chỉ thị 36-CT/TW ngày 25/06/1998 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về
tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước đã nhấn mạnh giải pháp Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng
thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường. Đây là một
trong những giải pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước ta
trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 27-12-1993 đã thể chế hóa một bước các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường và giáo dục, đào tạo về
bảo vệ môi trường. Điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường quy định: “Nhà nước có
9
trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công
nghệ, phổ biến kiến thức và luật pháp về bảo vệ môi trường”. Luật Bảo vệ môi
trường là cơ sở và hành lang pháp lí quan trọng để tổ chức triển khai các hoạt động
giáo dục và đào tạo về môi trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và
trong các trường phổ thông nói riêng. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số
1363/QĐ-TTg ngày 17-10-2001 về việc phê duyệt đề án Đưa các nội dung bảo vệ
môi trường về hệ thống giáo dục quốc dân đã xác định rõ các mục tiêu, nội dung,
1.1. Khái niệm về môi trường và hoá học môi trường
a. Khái niệm về môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người và thiên nhiên (Điều 1, Luật Bảo vệ môi
trường, Việt Nam, 1993).
Theo UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ hệ
thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán,
niềm tin ), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên
nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn nhu cầu cho cuộc sống sinh hoạt của mình. Nhìn
chung môi trường sống của con người là tất cả các nhân tố môi trường tự nhiên và
môi trường xã hội:
- Môi trường tự nhiên: là các nhân tố thiên nhiên như vật lí, hoá học, sinh học;
nó tồn tại và vận động theo quy luật của tự nhiên, nhưng cũng ít nhiều chịu sự tác
động của con người như: năng lượng mặt trời, đại dương, sông núi, không khí,
động vật, thực vật
Môi trường tự nhiên cung cấp cho con người nguồn tài nguyên thiên nhiên
như: không khí, đất, nước và các khoáng sản để con người sinh tồn và phát triển.
- Môi trường xã hội: là các mối quan hệ giữa con người với con người. Đó là
các luật lệ, các phong tục tập quán Môi trường xã hội định hướng hoạt động của
con người theo những khuôn khổ nhất định đảm bảo cho cuộc sống sinh tồn và
ngày một văn minh.
Ngoài ra, cần phải phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo: bao gồm tất cả
các nhân tố do con người tạo nên hoặc cải biến nó như: các phương tiện, công cụ,
máy móc, thiết bị, nhà ở, công viên nhằm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống và
trong lao động sản xuất của mình.
12
b. Thành phần môi trường
Thành phần môi trường của Trái Đất: bao gồm thạch quyển, thuỷ quyển, khí
quyển, sinh quyển.
* Thạch quyển
2
cần thiết cho sự sống trên Trái Đất,
cung cấp nitơ cho quá trình cố định đạm ở thực vật hay sản xuất phân đạm, hoá
chất cho ngành công, nông nghiệp. Khí quyển còn tham gia vào quá trình tuần hoàn
nước.
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí như: núi lửa, cháy rừng, sấm chớp,
quá trình phân huỷ các xác chết động thực vật, khí thải các khu công nghiệp
13
* Sinh quyển
Sinh quyển là toàn bộ các dạng vật sống tồn tại ở bên trong, bên trên và phía
trên Trái Đất, trong đó có các cơ thể sống và các hệ sinh thái hoạt động. Đây là một
hệ thống động và rất phức tạp. Nơi sinh sống của sinh vật trong sinh quyển gồm
môi trường cạn (địa quyển), môi trường không khí hoặc môi trường thuỷ quyển.
Đại bộ phận các sinh vật không sinh sống ở những địa hình quá cao, càng lên cao
số loài càng giảm, ở độ cao 1km có rất ít các loài sinh vật, ở độ cao 10 - 15km chỉ
quan sát được một số loài vi khuẩn, bào tử nấm, nói chung sinh vật không thể phân
bố vượt ra khỏi tầng ozon. Khác với khí quyển, địa quyển và thuỷ quyển, sinh
quyển không có giới hạn rõ rệt vì nó nằm trong cả ba thành phần của môi trường kể
trên và không hoàn toàn liên tục, vì sự sống chỉ tồn tại và phát triển trong những
điều kiện nhất định.
1.2. Tài nguyên thiên thiên
a. Khái niệm
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành
và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong
cuộc sống.
b. Con người với tài nguyên và môi trường
Con người khai thác tài nguyên với mục đích để sản xuất hàng hoá phục vụ
nhu cầu của cuộc sống. Dân số ngày một tăng và chất lượng cuộc sống con người
luôn cải thiện, cho nên các công cụ và phương thức sản xuất luôn được cải tiến để
khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên được nhiều hơn. Vì thế dẫn đến
* Tài nguyên không tái tạo được
Tài nguyên không tái tạo được là tài nguyên tồn tại một cách hữu hạn, sẽ bị
mất đi hoặc bị biến đổi không còn giữ lại tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng.
Đó là các loại khoáng sản, nhiên liệu khoáng, các thông tin di truyền trong sinh vật
quý hiếm.
* Tài nguyên tái tạo được
Tài nguyên tái tạo được là tài nguyên được cung cấp hầu như liên tục và vô tận
của tự nhiên như năng lượng mặt trời, gió, nước và sinh khối.
1.3. Khái niệm về hệ sinh thái
Hệ sinh thái là đồng tổ hợp một quần xã sinh vật với môi trường vật lí xung
quanh nơi quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật, môi trường tương tác với nhau
để tạo thành chu trình vật chất và sự chuyển hoá của năng lượng. Nói cách khác, hệ
sinh thái bao gồm các loài sinh vật sống ở một vùng địa lí tác động qua lại với nhau
và với môi trường xung quanh, tạo nên các chuỗi, lưới thức ăn và các chu trình sinh
địa hoá.
15
Quần xã
sinh vật
Môi trường xung
quanh
Năng lượng
mặt trời
Hệ
sinh thái
+
+
=
1.4. Môi trường và phát triển, phát triển bền vững
a. Môi trường và phát triển
gọi bằng thuật ngữ sự phát triển bền vững.
Vậy khái niệm phát triển bền vững là gì?
Năm 1987, trong báo cáo Tương lai chung của chúng ta của Hội đồng Thế giới
về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định
nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây
trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất về Môi trường tổ chức ở Rio (1992) đã xác
định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí và
hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển gồm: kinh tế, xã hội, tài nguyên thiên nhiên
và môi trường.
2. Ô nhiễm môi trường - suy thoái môi trường
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các
thành phần và đặc tính vật lí, hoá học, sinh thái học của bất kì thành phần nào của
môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định. Sự
gia tăng các chất lạ vào môi trường làm thay đổi các yếu tố môi trường sẽ gây tổn
hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn hay sự phát triển của
người và sinh vật trong môi trường đó.
Tác nhân gây ô nhiễm là những chất, những hỗn hợp chất hoặc những nguyên
tố hoá học đã tác dụng vào môi trường, làm cho môi trường từ trong sạch trở nên
độc hại. Những tác nhân này thường được gọi khái quát là “chất ô nhiễm”. Chất ô
nhiễm có thể là chất rắn (rác, phế thải rắn ), chất lỏng (các dung dịch hoá chất,
chất thải của dệt nhuộm, chế biến thực phẩm ), chất khí (SO
2
từ núi lửa, CO
2
, NO
2
trong khói xe hơi, CO trong khói bếp, lò gạch ), các kim loại nặng như: chì, đồng,
thuỷ ngân (Pb, Cu, Hg ). Có thể, có lúc, có nơi có ít chất ô nhiễm, nhưng có lúc,
có nơi nhiều chất ô nhiễm. Ví dụ, môi trường đất phèn có thể do các cation Al
Biện pháp chống ô nhiễm môi trường:
- Tìm các biện pháp để giảm tới mức thấp nhất sự gây ô nhiễm môi
trường.
- Xử lí môi trường đã bị ô nhiễm.
Như vậy, thực chất vấn đề chống ô nhiễm môi trường là làm sao để con người
có không khí trong lành để thở, có nước sạch để uống và sử dụng trong các mục
đích sinh hoạt, có đủ lương thực và thực phẩm hợp vệ sinh cho cuộc sống hàng
ngày.
a. Các biện pháp phòng ngừa
Cách tốt nhất để giữ cho môi trường trong sạch là phòng ngừa. Trong sinh hoạt
hàng ngày cũng như trong quá trình sản xuất, từ lao động thủ công đơn giản đến sử
dụng công nghệ hiện đại, nếu mỗi thành viên của xã hội luôn luôn có ý thức giữ
cho môi trường trong sạch thì sẽ tránh được nhiều rủi ro và làm cho chất lượng môi
trường sống của con người không bị suy giảm. Việc phòng ngừa sự cố gây ô nhiễm
môi trường bao gồm các biện pháp trong nhiều lĩnh vực, từ đề xuất các văn bản
pháp luật trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, tuyên truyền giáo dục, nâng
cao hiểu biết của các thành viên trong cộng đồng, từ đó tìm kiếm các giải pháp kĩ
thuật và công nghệ mới hoàn chỉnh hơn. Dưới đây là một số biện pháp thuộc lĩnh
vực kĩ thuật và công nghệ.
* Quản lí chất thải
Quản lí chất thải là làm sao để các chất thải có thể gây ô nhiễm môi trường
không lan truyền ra môi trường: khí quyển, thuỷ quyển và địa quyển. Việc quản lí
chất thải phụ thuộc vào bản chất của quá trình sản xuất, đặc trưng của chất thải,
tính chất của các chất ô nhiễm nằm trong chất thải. Quản lí chất thải có vai trò quan
18
trọng và cấp thiết, nhất là đối với hai ngành: công nghiệp hoá chất và xử lí nhiên
liệu hạt nhân.
Đối với ngành công nghiệp hoá chất, các chất thải rắn có chứa các yếu tố độc
hại thường được lưu giữ trong các bãi chứa đặc biệt, nền xi măng có xử lí bằng vật
liệu chống thấm, xung quanh có tường bao bọc, có mái che để chống mưa, gió, làm
thải khô với một số phụ gia rồi nấu chảy thành thuỷ tinh, sau đó cất giữ các khối
thuỷ tinh rắn này trong các hầm chứa đặc biệt. Hiện nay người ta cho rằng đây là
phương pháp bảo quản chất thải phóng xạ đảm bảo nhất và an toàn nhất.
* Thay thế các chất ô nhiễm bằng các chất không hoặc ít gây ô nhiễm
Một ví dụ khác về sự thay thế chất gây ô nhiễm, đó là các thuốc trừ sâu, trừ cỏ.
Từ trước đến nay các thuốc bảo vệ thực vật được dùng phổ biến là thuốc cơ clo, cơ
19
photpho và ở quy mô hạn chế hơn là các chất của thuỷ ngân, asen Tuy nhiên các
nhà khoa học đã tìm ra các biện pháp phòng ngừa để bảo đảm an toàn cho người,
cây trồng và động vật. Nhưng sự ô nhiễm các chất này đã đến quy mô trầm trọng:
hầu hết các sông, ngòi, hồ đã bị ô nhiễm, thậm chí những hàm lượng đáng kể của
những chất này đã được tìm thấy ở giữa Đại Tây Dương, ở cực Bắc, cực Nam của
Trái Đất. Vì vậy một số nước đã cấm sử dụng một số thuốc trừ sâu như: D.D.T;
6,6,6; 2,4,5-T và xu hướng ngày nay là thay thế các chất độc hoá học này bằng
các chế phẩm sinh học để bảo vệ thực vật.
* Tìm kiếm công nghệ không có chất thải
Biện pháp lí tưởng nhất trong việc chống ô nhiễm môi trường là thay thế các
công nghệ hiện hành bằng các công nghệ mới không sản sinh ra chất thải.
b. Xử lí các chất ô nhiễm
Trong thực tế hiện nay, khái niệm “xử lí các chất ô nhiễm” chỉ áp dụng cho các
đối tượng phổ biến nhất và các chất ô nhiễm nguy hiểm nhất ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khoẻ và đời sống con người, đe doạ và làm nảy sinh những thảm họa môi
trường và sinh thái. Do vậy, việc xử lí các chất ô nhiễm hiện nay tập trung theo các
hướng công nghệ sau:
- Chống ô nhiễm không khí bởi bụi, các khí thải và động cơ đốt trong, các chất
CFC, các oxit của nitơ, các khí cacbonoxit, khí của lưu huỳnh
- Chống ô nhiễm nguồn nước bởi các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, kim loại
nặng, photphat, nitrat, xianua, các chất tẩy rửa, thuốc bảo vệ thực vật
Bản chất của việc xử lí chống ô nhiễm môi trường là xử lí các chất gây ô
nhiễm ngay từ nguồn phát sinh trước khi đưa chúng vào môi trường, bằng cách
trọng thành phần không khí, làm cho không khí không sạch như: có mùi khó chịu,
giảm tầm nhìn xa (do bụi).
a. Các nguồn gây ô nhiễm không khí
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia thành các nguồn cơ
bản sau: nguồn ô nhiễm thiên nhiên, nguồn ô nhiễm nhân tạo.
* Nguồn ô nhiễm thiên nhiên
Nguồn ô nhiễm thiên nhiên là nguồn do các hiện tượng thiên nhiên gây ra như
đất sa mạc, đất trồng bị mưa gió bào mòn và gió thổi thành bụi. Các núi lửa phun ra
bụi nham thạch cùng với nhiều hơi khí từ lòng đất thoát ra là nguồn ô nhiễm không
khí đáng kể. Cháy rừng cũng gây ra những đám khói lớn và bụi rộng. Nước biển
bốc hơi cùng với sóng biển tung bọt mang theo bụi muối biển lan truyền vào không
khí. Các quá trình thối rữa của xác động vật ở tự nhiên cũng đưa vào không khí các
21
chất khí ô nhiễm.
* Nguồn ô nhiễm nhân tạo
Nguồn ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng và phong phú. ô nhiễm không khí do các
hoạt động, giao thông vận tải, đun nấu của nhân dân, ô nhiễm do bụi, ô nhiễm tiếng
ồn. Các hoá chất gây ra những chất gây nguy hiểm đối với con người và khí quyển là
khí CO
2
, SO
2
, CO, N
2
O, CFC…
b. Các tác nhân gây ô nhiễm không khí
- Các loại oxit như NO
x
, CO, CO
2
)
Với hàm lượng 0,034% trong khí quyển là nguyên liệu cho quá trình quang
hợp của cây xanh. Thông thường, lượng CO
2
sản sinh một cách tự nhiên cân bằng
với lượng CO
2
sử dụng cho quang hợp. Những hoạt động của con người gồm đốt
nhiên liệu hoá thạch và đốt rừng đã dẫn đến sự mất cân bằng nói trên, gây ảnh
hưởng tới khí hậu toàn cầu. Khí CO
2
cùng với hơi nước và các khí 3 nguyên tử
khác trong khí quyển tạo nên hiệu ứng nhà kính làm bề mặt Trái Đất nóng lên.
Hoffman và Wells (1987), khi đề cập đến các khí nhà kính đã nhấn mạnh, kể từ khi
bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp đến nay, lượng CO
2
trong khí quyển tăng lên
25% và sẽ tăng hai lần vào giữa thế kỷ XXI. Khi đó nhiệt độ trung bình của bề mặt
Trái Đất sẽ tăng lên khoảng 3
o
C, băng ở hai cực sẽ tan ra và sẽ nhấn chìm nhiều
thành phố, làng mạc ở các vùng ven biển.
22
* Sunfua đioxit SO
2
Là chất ô nhiễm có nồng độ thấp trong khí quyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối
lưu. Sunfua đioxit tự nhiên có nguồn gốc từ hoạt động núi lửa và nhân tạo do đốt
nhiên liệu than, dầu mỏ, khí đốt, sinh khối thực vật, quặng sunfua Khí SO
2
rất
HbO
2
+ CO
ƒ
HbCO + O
2
* Các khí NO
x
Thường gặp là các khí N
2
O, NO, NO
2
, được sản sinh từ quá trình đốt nhiên liệu
hoá thạch ở nhiệt độ cao, quá trình oxi hoá nitơ trong khí quyển do hoạt động của
núi lửa, các hiện tượng sấm sét, các quá trình sản xuất các hợp chất chứa nitơ…
- Khí NO gây nguy hiểm vì nó tác dụng với hồng cầu trong máu, làm giảm khả
năng vận chuyển O
2
của máu (giống như khí CO).
- Khí NO
2
rất dễ hấp thụ bức xạ tử ngoại, dễ hoà tan vào nước và dễ tham gia
phản ứng quang hoá. NO
2
có tính kích thích niêm mạc, tạo thành axit qua đường hô
hấp, hòa tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá sau đó vào máu.
* Clorofluorocacbon (CFC)
Là những hoá chất do con người tổng hợp để sử dụng trong nhiều ngành công
nghiệp và thiết bị làm lạnh. CFCl hoặc CFCl
cao hơn (khoảng 500ppm) sẽ dẫn đến tử vong.
Đối với thực vật, H
2
S làm tổn thương lá cây, làm rụng lá và giảm sinh trưởng.
c. ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tới sức khoẻ con người
Phần lớn các chất ô nhiễm đều gây tác hại đối với sức khoẻ con người, ảnh
hưởng cấp tính gây ra tử vong. Ví dụ, như vụ ngộ độc khói sương ở Luân Đôn năm
1952 gây tử vong 5000 người, ảnh hưởng mãn tính, để lại tác hại lâu dài như các
bệnh viêm phế quản mãn tính, bệnh ung thư phổi. Những nơi tập trung giao thông
cao thì hàm lượng CO trong không khí tăng lên để lại nhiều bệnh nhân thần kinh.
Bảng 1: Tác động của một số tác nhân chính gây ô nhiễm không khí
Tác nhân ô
nhiễm
Nguồn Tác động
Chất
dạng hạt
Công nghiệp,
giao thông
Gia tăng bệnh hô hấp, tiếp xúc lâu có thể
mắc bệnh kinh niên như viêm phổi mãn
tính
Sunfua oxit Nhà máy nhiệt
điện
và một số ngành
công nghiệp khác
Kích thích đường hô hấp, các tác động
như chất dạng hạt
24
Nitơ oxit Giao thông, c
ông nghiệp
.
- Mưa axit là hệ quả của sự hoà tan khí SO
2
vào nước mưa, khi rơi xuống ao,
hồ, sông ngòi gây tác hại đến sinh vật trong nước.
- Các công trình xây dựng, các tượng đá, các di tích lịch sử và văn hoá, các vật
liệu xây dựng đều bị huỷ hoại bởi môi trường không khí đã ô nhiễm: ăn mòn, nứt
nẻ, mất màu, bong sơn
- Môi trường không khí bị ô nhiễm dẫn đến gia tăng khả năng hấp thụ bức xạ
môi trường của khí quyển và hiệu ứng nhà kính do lượng khí thải CO
2
xảy ra ngày
càng nhiều mà hậu quả chung là nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng lên. Đó là
vấn đề “ấm lên toàn cầu” được các nhà môi trường học đề cập nhiều trong thời gian
gần đây.
- Một vấn đề khác của ô nhiễm khí quyển là sự “mỏng đi của tầng ozon”. Việc
sử dụng nhiều các chất CFC trong những năm gần đây đã để lại sự tích luỹ chúng
trong tầng bình lưu khí quyển. Các chất CFC làm huỷ hoại tầng ozon (O
3
) là tấm lá
chắn tia cực tím cho Trái Đất, đem lại nhiều tác hại xấu cho sinh vật và con người.
e. Ô nhiễm không khí ở nước ta
Mặc dù đô thị hoá, công nghiệp hoá và giao thông vận tải của nước ta chưa
25
phát triển nhưng ô nhiễm không khí đã xảy ra. ở Hà Nội, tại Khu vực Nhà máy Dệt
8 - 3, Nhà máy Cơ khí Mai Động, khu công nghiệp Thượng Đình, khu công nghiệp
Văn Điển, nhà máy rượu không khí đều đã bị ô nhiễm nặng. ở Hải Phòng, ô
nhiễm nặng ở khu nhà máy xi măng, nhà máy thuỷ tinh và sắt tráng men ở Việt
Trì, ô nhiễm nặng ở xung quanh nhà máy supephôtphat Lâm Thao, nhà máy giấy,
nhà máy dệt. ở Ninh Bình và Phả Lại ô nhiễm nặng do nhà máy nhiệt điện, các nhà
ỉa chảy nặng, nôn mửa, cơ thể
mất nhiều nước, bị chuột rút và
suy sụp cơ thể
Kiết lị Shigella dysenteriae Vi khuẩn
Lây nhiễm ruột gây bệnh ỉa
chảy với nước nhầy
Viêm ruột
Clostridium
perfringers
và các vi khuẩn khác
Vi khuẩn
Làm cháy ruột non, gây khó
chịu, ăn không ngon hay bị
chuột rút và ỉa chảy
Thương hàn
Thương
hàn
Salmonella typhi Vi khuẩn Đau đầu, mất năng lượng
Viêm gan
Siêu vi trùng
viêm gan A
Siêu
vi trùng
Đốt cháy gan, vàng da, ăn
không ngon, đau đầu
Bại liệt Siêu vi trùng bại liệt
Siêu
vi trùng
Đau cuống họng, ỉa chảy, đau
cột sống và chân tay