Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 1
Luận văn Xử lý phospho trong nước thải xi
mạ bằng phương pháp hóa học
môi trường – là hết sức cần thiết và cần được giải quyết triệt để.
Trong quá trình gia công mạ kim loại, lượng nước thải ra tuy không
nhiều nhưng chứa hàm lượng các kim loại nặng rất cao và là độc chất đối với
sinh vật, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người. Nhiều công trình nghiên cứu
cho thấy, với nồng độ đủ lớn, sinh vật có thể bị chết và thoái hóa, với nồng độ
nhỏ có thể gây độc mãn tính hoặc tích tụ sinh học, ảnh hưởng đến sự sống của
sinh vật về lâu dài. Do đó, nước thải từ các quá trình xi mạ kim loại, nếu không
được xử lý, qua thời gian tích tụ và bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp,
chúng sẽ tồn đọng trong cơ thể con người và gây các bệnh nghiêm trọng như
viêm loét da, viêm đường hô hấp, eczima, ung thư ….
Đề tài “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa
học” chỉ nghiên cứu xử lý nước thải xi mạ trong một nội dung hẹp đó là xử lý
phospho có trong nước thải ở công đoạn phosphat hóa bề mặt kim loại trong gia
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 3
công kim loại mạ, nhằm tìm ra những giải pháp kỹ thuật hợp lý để loại bỏ
phospho có trong nước thải xi mạ trước khi thải vào nguồn nước thải chung của
gia công kim loại.
hưởng đến quá trình kết tủa, thu thập các thông số tối ưu nhằm phục vụ
cho việc thiết kế về sau.
Đánh giá hiệu quả của phương pháp xử lý.
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập tài liệu: Tìm hiểu các tài liệu sách báo
trong và ngoài nước về xử lý phospho trong nước thải bằng phương pháp
hóa học, công nghệ xi mạ, phosphat hóa bề mặt cũng như ảnh hưởng của
phospho và nước thải xi mạ đến môi trường.
Phương pháp tổng hợp tài liệu.
Phương pháp thực nghiệm: Lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu xử lý.
Phương pháp tính toán.
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 5
Phương pháp xử lý thông qua những chỉ tiêu bằng phương pháp
phân tích.
Mạ kim loại là một quá trình công nghệ hay được sử dụng, vì thực tế
hầu như tất cả các vật dụng bằng kim loại đều phải được hoàn thiện, đồng thời
đó cũng là trách nhiệm của nhà sản xuất.
Trong công nghệ xi mạ có nhiều hình thức xi mạ khác nhau: mạ điện,
mạ hóa học, mạ nhúng nóng.
2.1.1.1. Mạ điện
Đây là một phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành xi mạ
kim loại.
Mạ điện là quá trình điện hóa catôt: Bề mặt kim loại cần xử lý được
dùng làm catôt trong một bình điện phân (đòi hỏi dùng dòng điện bên ngoài –
trong trường hợp này là nguồn điện một chiều) để thực hiện quá trình điện hóa.
Phản ứng catôt xảy ra và thực hiện việc xử lý cần thiết đó là mạ lên trên bề mặt
cần xử lý.
Dung dịch mạ là dung dịch mà trong đó quá trình mạ điện xảy ra. Nó
chứa các ion của kim loại sẽ được mạ lên bề mặt kim loại cần xử lý – các ion
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 7
kim loại này tham gia phản ứng catôt và bị khử điện hóa thành kim loại điện kết
tủa lên trên bề mặt cần xử lý.
Ví dụ: Trong trường hợp mạ kẽm, ion kẽm hóa trị 2 bị khử trên bề mặt
kim loại nền (thép chẳng hạn):
Zn
2+
+ 2e
-
Zn
Rõ ràng trong một bình điện hóa như vậy cũng cần phải có phản ứng
anôt tương ứng. Trong mạ điện, đó thường là sự hòa tan anôt của một anôt kim
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 8
Các điện tử cần cung cấp cho các phản ứng khử điện hóa được cung cấp
bởi chất khử hóa học.
Ví dụ: Như mạ Niken hóa học, natri hypophosphit được sử dụng làm tác
nhân khử và bị oxy hóa thành octophosphit, do đó có thể xảy ra phản ứng anôt
sau:
H
2
PO
2
-
+ H
2
O H
2
PO
3
-
+ 2H
+
+ 2e [2]
Các điện tử tách ra và tham gia vào quá trình khử Nikel (Ni) ở phản ứng
catôt theo phương trình sau:
Ni
2
+
+ 2e
thấp, độ bóng kém, trong không khí dễ tạo muối kẽm cacbonat có tính kiềm nên
bị mờ, để khắc phục hiện tượng này người ta phủ photphat hóa hay thụ động
hóa bề mặt, … để tăng độ bền hóa học của lớp mạ. Dung dịch mạ kẽm có hai
loại: Dung dịch mạ kẽm cyanua và dung dịch mạ kẽm không có cyanua.
Mạ Nikel: Mạ Nikel là kỹ nghệ quan trọng bậc nhất, đồng thời cũng phổ
biến nhất hiện nay. Trong công nghiệp ứng dụng lớp mạ Nikel để trang trí, làm
tăng khả năng chịu mòn, tăng độ cứng bề mặt, lớp mạ vừa trang trí vừa bảo vệ.
Để nâng cao hiệu quả bảo vệ – trang trí thường áp dụng mạ hai lớp: Nikel –
Crom; hoặc 3 lớp: Đồng – Nikel – Crom.
Mạ hợp kim: Trong dung dịch đồng thời có 2 cation kim loại. Để hai ion
này kết tủa đông thời lên bề mặt catôt (chi tiết mạ) tạo lớp mạ hợp kim thì thế
giải phóng của chúng phải bằng nhau hoặc gần nhau. Tùy theo thành phần và
tính chất lớp mạ mà mạ hợp kim được chia thành các nhóm sau:
Lớp mạ hợp kim bảo vệ kim loại nền khỏi bị ăn mòn, có hợp kim: Kẽm
– cadmium; đồng – thiếc; chì – thiếc; thiếc – kẽm.
Lớp mạ hợp kim với mục đích trang trí – bảo vệ: Vàng – bạc; vàng –
đồng; vàng – nikel; vàng – antimun.
Lớp mạ hợp kim có ứng dụng đặc biệt trong công nghiệp: Bạc – chì;
thiếc – chì; ….
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 10
Mạ vàng: Lớp mạ vàng dùng để mạ đồ nữ trang, trang trí các vật dụng
như đồng hồ, gọng kính, gia dụng, trang trí nội thất, ….
Hình 1. Sơ đồ công nghệ xi mạ tổng quát
2.2. LƯU LƯỢNG VÀ THÀNH PHẦN NƯỚC THẢI
2.2.1. Lưu lượng nước thải
Trong công nghệ xi mạ, lượng nước thải phát sinh ra trong một ngày
không nhiều:
Đối với các cơ sở nhỏ: 5 – 10 m
3
/ngày.
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 12
Đối với các cơ sở lớn: 12 – 50 m
3
/ngày.
Nước thải xi mạ bao gồm: Nước rửa trước mạ và nước thải rửa sau mạ.
2.2.2. Thành phần nước thải
Nước thải xi mạ có thành phần rất phức tạp về nồng độ và pH dao động
rất lớn từ nước rất kiềm (pH > 9) đến nước rất acid (pH < 3). Đặc trưng chung
của nước thải xi mạ là chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và kim loại nặng.
Tùy theo kim loại của lớp mạ mà nguồn ô nhiễm có thể là Cu, Zn, Cr, Ni, … và
cũng tùy thuộc vào các loại muối kim loại được sử dụng mà nước thải có thể
chứa các độc tố như xyanua, sunfat, amoni, …. Các chất hữu cơ ít có trong
nước thải xi mạ, phần chủ yếu là chất tạo bông, chất hoạt động bề mặt … nên
BOD, COD của nước thải xi mạ thường thấp và không thuộc đối tượng xử lý.
Thành phần nước thải xi mạ được chia thành từng nhóm như sau:
Chất ô nhiễm độc như: Cyanua, crom, kẽm….
Chất ô nhiễm làm thay đổi pH: Các chất thuộc dòng acid và kiềm.
Chất ô nhiễm hình thành cặn lơ lửng như: Hydroxit, cacbonat,
Dùng thiết bị đơn giản.
Thao tác đơn giản.
Giá thành thấp.
Hiệu suất cao.
Được ứng dụng rộng rãi: trong công nghệp chế tạo ô tô, tàu, hàng
không v.v…
Nhược điểm: Thải ra ngoài môi trường một lượng lớn phospho.
Các loại phosphat hóa
Làm nền cho lớp sơn: Với vật liệu nhôm và Altimon; với vật
liệu sắt.
Gia công biến hình (kéo dây sắt, ép khuôn, …)
2.4. ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI NGÀNH XI MẠ TỚI MÔI
TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
2.4.1. Ảnh hưởng đến môi trường
Là độc chất đối với cá và thực vật nước: Do phát sinh ra một lượng
lớn kim loại nặng.
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 14
Tiêu diệt các sinh vật phù du, gây bệnh cho cá và biến đổi các tính
chất lí hóa của nước, tạo ra sự tích tụ sinh học đáng lo ngại theo chiều dài chuỗi
thức ăn. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: Với nồng độ đủ lớn, sinh vật có
thể bị chết hoặc thoái hóa, với nồng độ nhỏ có thể gây ngộ độc mãn tính hoặc
tích tụ sinh học, ảnh hưởng đến sự sống của sinh vật về lâu dài.
Ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng, vật nuôi canh tác nông nghiệp,
làm thoái hóa đất do sự chảy tràn và thấm của nước thải vào môi trường đất.
Ảnh hưởng đến hệ thống xử lý nước thải do ảnh hưởng đến hoạt
động của vi sinh vật trong quá trình xử lý sinh học.
không ổn định.
Tuy nhiên với hàm lượng cao Crom làm giảm protein, axit nucleic và ức
chế hệ thống men cơ bản, Cr(VI) độc hơn Cr(III). Hít thở không khí có nồng độ
Crom (ví dụ axit crômic hay Cr(III) trioxit) cao (>2g/m
3
) gây kích thích mũi
làm chảy nước mũi, hen suyễn dị ứng, ung thư (khi tiếp xúc với Crom có nồng
độ cao hơn 100-1000 lần nồng độ trong môi trường tự nhiên). Ngoài ra Cr(VI)
còn có tính ăn mòn, gây dị ứng, lở loét khi tiếp xúc với da.
Độc tính của Nikel ( Ni )
Trong môi trường nước Nikel có độc tính cao đối với cá, phụ thuộc vào
chất lượng nước ở đó. Nồng độ Nikel > 30
g/l sẽ gây tác hại cho cơ thể sống
bậc thấp trong nước.
Đối với một số gia súc, thực vật, vi sinh vật Nikel được xem là nguyên
tố vi lượng còn đối với cơ thể người thì điều đó chưa rõ ràng. Tiếp xúc lâu dài
với Nikel gây hiện tượng viêm da và có thể xuất hiện dị ứng ở một số người.
Ngộ độc Nikel qua đường hô hấp gây khó chịu, buồn nôn, đau đầu và lâu dài
ảnh hưởng đến phổi, hệ thần kinh trung ương, gan và thận. Kim loại và dạng vô
cơ của nikel xâm nhập qua đường hô hấp có thể gây bệnh kinh niên.
Độc tính của Đồng ( Cu )
Trong nước đồng rất độc đối với cá, đặc biệt độ độc được tăng cường
khi có mặt thêm các kim loại khác như kẽm, cadmi và thủy ngân.
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 16
Đối với cơ thể người, đồng là nguyên tố vi lượng cần thiết tham gia vào
quá trình tạo hồng cầu, bạch cầu và là thành phần của nhiều enzym trong cơ
6+
thành
Cr
3+
bằng chất khử. Như vậy, chất khử được sử dụng là chất có tính acid mạnh,
chất oxy hóa chính là hợp chất của Crom.
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 17
2.5.3. Phương pháp hóa lý
Đây là một phương pháp xử lý hiệu quả, dễ áp dụng thực tế và phù hợp
với nước thải xi mạ.
Phương pháp keo tụ – kết tủa: Quá trình kết tủa thường được ứng dụng
cho xử lý nước thải chứa kim loại nặng. Kim loại nặng thường kết tủa ở dạng
hydroxit khi cho chất kiềm hóa (vôi, NaOH, Na
2
CO
3
,…) vào để đạt đến giá trị
pH tương ứng với độ hòa tan nhỏ nhất. Giá trị pH này thay đổi tuỳ theo kim
loại, độ hoà tan nhỏ nhất của Crôm ở pH 7,5 và kẽm là 10,2. Ở ngoài giá trị đó,
hàm lượng hoà tan tăng lên.
Khi xử lý kim loại, cần thiết xử lý sơ bộ để khử đi các chất cản trở quá
trình kết tủa. Thí dụ như cyanide và ammonia hình thành các phức với nhiều
kim loại làm giảm hiệu quả quá trình kết tủa. Cyanide có thể xử lý bằng
chlorine hoá hoặc các phương pháp khác trước giai đoạn khử kim loại.
Trong xử lý nước thải công nghiệp, kim loại nặng có thể loại bỏ bằng
quá trình kết tủa hydroxit với chất kiềm hóa, hoặc dạng sulfide hay carbonat.
Một số kim loại như arsenic hoặc cadmium ở nồng độ thấp có thể xử lý
3.1. TỔNG QUAN
Phospho (từ tiếng Hy Lạp: phôs có nghĩa là “ánh sáng” và phoros có
nghĩa là “người/vật mang”), là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có
ký hiệu là P và số nguyên tử là 15. Là một phi kim đa hóa trị trong nhóm Nitơ,
Phospho chủ yếu được tìm thấy trong các loại đá phosphat vô cơ và trong các
cơ thể sống. Do độ hoạt động hóa học cao, không bao giờ người ta tìm thấy nó
ở dạng đơn chất trong tự nhiên. Nó cũng là một nguyên tố thiết yếu cho các cơ
thể sống. Sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: dùng để sản
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 19
xuất phân bón, sản xuất diêm, pháo hoa, thuốc trừ sâu, thuốc đánh răng, chất
tẩy rửa.
Hình 1. Cấu tạo phospho
3.1.1. Cấu tạo và phân loại
3.1.1.1. Cấu tạo
Thông thường phospho là chất rắn dạng sáp, có màu trắng, mùi khó ngửi
như mùi tỏi. Dạng tinh khiết của nó không màu trong suốt, có cấu trúc tinh thể
là lục giác.
3.1.1.2. Phân loại
Phospho tồn tại dưới ba dạng cơ bản có: màu trắng, đỏ và đen. Các loại
khác cũng có thể tồn tại. Phổ biến nhất là phospho trắng và phospho đỏ, cả hai
đều chứa các mạng gồm các nhóm phân bố kiểu tứ diện gồm bốn nguyên tử
phospho. Các tứ diện của phospho trắng tạo thành các nhóm riêng, các tứ diện
của phospho đỏ liên kết với nhau thành chuỗi. Phospho trắng cháy khi tiếp xúc
trường, do khả năng có sẵn của phospho điều chỉnh tốc độ tăng trưởng
của nhiều sinh vật. Trong các hệ sinh thái sư dư thừa phospho có thể là
một vấn đề đằc biệt là trong các hệ thủy sinh thái (sự dinh dưỡng tốt và
bùng nổ tảo).
Axit phosphoric đậm đặc, có thể chứa tới 70% - 75% P
2
O
5
là rất quan
trọng đối với ngành nông nghiệp do nó được dùng để sản xuất phân
bón. Nhu cầu về phân bón đã dẫn tới sự tăng trưởng đáng kể trong sản
xuất phosphat (PO
4
3-
) trong nửa sau của thế kỷ 20.
Các sử dụng khác còn có:
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 21
Các phosphat được dùng trong sản xuất các loại thủy tinh.
Phosphat canxi được sử dụng trong sản xuất đồ sứ.
Tripolyphosphat natri được sản xuất từ axit phosphoric được sử dụng
trong bột giặt.
Axit phosphoric được sản xuất từ phospho nguyên tố được ứng dụng
trong các ứng dụng như:
Chế tạo các phosphat cấp thực phẩm, các hóa chất này bao gồm
phosphat monocanci được dùng trong bột nở và tripolyphosphat natri và
các phosphat của natri.
Trong số các ứng dụng khác, người ta thường dùng nó trong thuốc đánh
chết hoại xương hàm. Các hợp chất hữu cơ của phospho tạo ra một lớp lớn các
chất, một số trong đó là cực kỳ độc. Các este florophotphat thuộc về số các chất
độc thần kinh có hiệu lực mạnh nhất mà ta đã biết. Một loại các hợp chất hữu
cơ chứa phospho được sử dụng bằng độc tính của chúng để làm các thuốc trừ
sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm, Phần lớn các phosphat vô cơ là tương đối
không độc và là các chất dinh dưỡng thiết yếu.
Khi phospho trắng bị đưa ra ánh sáng măt trời hay bị đốt nóng thành
dạng hơi ở 250
0
C thì nó chuyển thành dạng phospho đỏ và nó không tự cháy
trong không khí, do vậy nó không nguy hiểm như phospho trắng. Tuy nhiên
việc tiếp xúc với nó vẩn cần sự thận trọng do nó cũng có thể chuyển thành
phospho trắng trong một khoảng nhiệt độ nhất định và nó cũng tỏa ra khói có
độc tính cao chứa các ôxit phospho khi bị đốt nóng.
Khi bị phơi nhiễm phospho, trong quá khứ người ta rửa bằng dung dịch
chứa 2% sunfat đồng (CuSO
2
) để tạo ra một hợp chất không độc có thể rửa
sạch. Theo báo cáo của hải quân Mỹ là sunfat đồng có độc tính có thể gây độc
cho thận và não cũng như phá hủy hồng cầu trong mạch máu. Hướng dẫn này
cũng đề xuất thay thế là dùng dung dịch bicacbonat để trung hòa axitphosphoric
.
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 23
Nguồn nước thải nông nghiệp.
Nguồn nước thải công nghiệp.
3.2.1. Nguồn nước thải sinh hoạt
Nguồn thải phospho quan trọng nhất trong nước thải sinh hoạt là phân,
thức ăn thừa, chất tẩy rửa tổng hợp:
Lượng phospho có nguồn gốc từ phân được ước tính là 0,2 – 1,0
kgP/người/năm hoặc trung bình là 0,6kg.
Lượng phospho có nguồn gốc từ chất tẩy rửa tổng hợp được ước
tính là 0,3kg/người/năm
Thức ăn thừa: Sữa, thịt, cá hoặc dụng cụ nấu ăn, đựng các loại
trên khi vào nước cũng thải ra một lượng phospho đáng kể.
Nồng độ phospho trong nước thải sinh hoạt biến động theo lưu lượng
nguồn nước thải: Mức độ sử dụng nước của cư dân, mức độ tập trung các dịch
vụ công cộng, thời tiết, khí hậu trong vùng, thay đổi mạnh theo chu kỳ thời
gian ngày tháng cũng như mức sống và tiện nghi của cộng đồng. Lượng chất
thải vì vậy thường được tính theo đầu người (khối lượng khô) hoặc là nồng độ
sau khi đã được pha loãng với mức nước sử dụng trên đầu người (ở các nước
Đồ án tốt nghiệp: “Xử lý phospho trong nước thải xi mạ bằng phương pháp hóa học”
GVHD: Th.s Lê Công Nhất Phương
SVTT : Phan Thùy Linh
Trang 24
công nghiệp khoảng 190l/người/ngày) hoặc ở trong các cống rãnh thải
(450l/người/ngày). Nồng độ pha loãng được gọi là nồng độ tại điểm xả hoặc
trong cống rãnh.
Bảng 1. Mức độ ô nhiễm nước thải sinh hoạt, tính theo khối lượng khô trên đầu
người trong ngày tại điểm xả C(x) và tại cống rãnh C(R) của các thành phố Mỹ
(1)
Thông số M (g/người/ngày) C(x) (mg/l) C(R) (mg/l)
BOD 85 450 187
COD 198 1050 436
NH
3
– N mg/l 12 – 50 22
P – tổng mg/l 4 – 15 7
P – hữu cơ mg/l 1 – 5 2
P – vô cơ mg/l 3 – 10 5
3.2.2. Nguồn nông nghiệp
Nông nghiệp là một nguồn thải ra một lượng phospho vào trong môi
trường là rất lớn. Bởi vì canh tác nông nghiệp về nguyên tắc là phải bón phân,
đạm, lân cho cây trồng vì đây là các yếu tố thiếu trong đất trồng trọt. Vì thế
phân bón sử dụng trong nông nghiệp là một trong những nguyên nhân chính
gây ô nhiễm nguồn nước. Tại vùng nông thôn nồng độ phospho ở các con sông
cao trong thời điểm sử dụng phân nhiều, đặc biệt khi có mưa rửa trôi.
Nguồn nước thải phát sinh do chăn nuôi gia cầm, gia súc có lượng nhỏ
hơn so với nước thải sinh hoạt. Chủ yếu là nước tắm, vệ sinh chuồng trại. Nước
thải từ chuồng trại chăn nuôi chứa một lượng chất rắn không tan lớn: Phân, rác
rưởi, bùn đất, thức ăn thừa rơi vãi, các hợp chất hữu cơ chứa phospho được
chiết ra từ các chất thải rắn gặp nước. Nồng độ các tạp chất trong nước thải
chuồng trại cao hơn 50 – 150 lần với mức độ ô nhiễm của nước thải đô thị.
Nồng độ của phospho nằm trong khoảng 70 – 1750 mg P/l.
3.2.3. Nguồn nước thải công nghiệp
Ô nhiễm do hợp chất phospho từ sản xuất công nghiệp chủ yếu liên quan
tới ngành chế biến thực phẩm, xi mạ, chế biến mủ cao su hợp chất chứa