Tiểu luận Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA Tiểu luận

Văn hóa giao tiếp trong kinh
doanh của 3 miền Việt Nam Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 1

LỜI MỞ ĐẦU
Giao tiếp vốn là một hoạt động thiết yếu của con người. Đặc biệt, trong lĩnh vực
kinh doanh, giao tiếp đóng vai trò quan trọng, có thể quyết định sự thành công hay thất

2.2 Tầ m quan trong trong giao tiế p kinh doanh 04
2.3 Phương tiệ n trong giao tiế p kinh doanh 04
2.4 Các nguyên tắc giao tiếp trong kinh doanh 05
2.5 Phương thứ c ứ ng xử trong giao tiế p kinh doanh 08
3. Đặc trưng về văn hóa giao tiếp của người Việt Nam ……………………………… 10

II/ ĐC TRƢNG V VĂN HA GIAO TIP KINH DOANH BA MIN
1/ Văn hó a giao tiế p kinh doanh miề n Bắ c 11
2. Văn hó a giao tiế p kinh doanh miề n Trung 14
3. Văn hó a giao tiế p kinh doanh miề n Nam 18
III/ KẾ T LUẬ N 23
TI LIU THAM KHO 24

Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 3

I. VĂN HA GIAO TIP KINH DOANH Ở VIT NAM
1. Giao tiếp là gì ?
1.1 Khái niệm giao tiếp
Trong quá trình sống và hoạt động, giữa chúng ta với người khác luôn tồn tại nhiều
mối quan hệ. Đó là mối quan hệ dòng họ, huyết thống, quan hệ họ hàng, thôn xóm, quan
hệ hành chính – công việc, quan hệ bạn bè… Trong các mối quan hệ đó thì chỉ một số ít
là có sẵn ngay từ khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời (quan hệ huyết thống, họ hàng),
còn đa số các quan hệ còn lại chủ yếu được hình thành, phát triển trong quá trình chúng
ta sống và hoạt động trong cộng đồng xã hội, thông qua các hình thức tiếp xúc, gặp gỡ,
liên lạc đa dạng với người khác mà chúng ta thường gọi là giao tiếp.
Vậy giao tiếp là gì? Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã
hội giữa con người với con người hoặc giữa con người và các yếu tố xã hội khác, nhằm

Qua giao tiếp, từ sự đáp ứng và phản hồi của người chung quanh, con người tiếp
nhận kiến thức về thế giới, về bản thân để hình thành nên nhân cách.
Con người tự thể hiện nhân cách, tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện nhân cách bản
thân nhờ vào quá trình giao tiếp. Sự hoàn thiện này diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời
con người.
 Giao tiếp tốt sẽ tạo các quan hệ thuận lợi cho công cuộc làm ăn, chung sống
Giao tiếp tốt sẽ là điều kiện thuận lợi cho công cuộc làm ăn phát triển: con người khi
có mối quan hệ tốt với những người chung quanh sẽ nhận được sự yêu thương, hỗ trợ, sẽ
có chỗ đứng vững vàng trong cuộc sống và dễ dàng có những bước thăng tiến trong sự
nghiệp.
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 5

Một xã hội được xây dựng trên nền tảng của mối giao tiếp chặt chẽ, tốt đẹp sẽ có
những bước phát triển mạnh mẽ. Dễ dàng nhận thấy ở một xã hội kém phát triển, mối
tương tác của các thành viên trong xã hội đó rất mờ nhạt, giao tiếp trong xã hội nhiều hạn
chế, kinh tế thường rơi vào tình trạng manh mún, cuộc sống tự cung tự cấp là chủ yếu
1.3 Các loại hình giao tiếp cơ bản
a. Theo tính chất tiếp xúc
Nếu phân loại theo tính chất tiếp xúc thì giao tiếp được chia thành 2 loại là giao
tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp.
+ Giao tiếp trực tiếp:
- Các bên trực tiếp gặp gỡ, trao đổi lẫn nhau.
- Các bên tham gia giao tiếp có thể sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ như cử
chỉ, ánh mắt, nét mặt…
- Có thể nhanh chóng điều chỉnh quá trình giao tiếp kịp thời để đạt được mục đích.
- Trong giao tiếp trực tiếp, các bên có thể dễ dàng đoán biết được ý kiến của người
đối thoại.

thảo luận qua lại lẫn nhau.
2. Giao tiếp trong kinh doanh là gì?
2.1 Khái niệm
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 7

- Theo Thái Trí Dũng (2009): “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối
quan hệ xã hội giữa người với người,hoặc giữa người và các yếu tố xã hội nhằm thỏa
mãn những nhu cầu nhất định”.
- Theo GS TS. Đoàn Thị Hồng Vân trong sách Giao tiếp trong kinh doanh (2006),
“Giao tiếp là hành vi và quá trình, trong đó con người tiến hành trao đổi thông tin với
nhau, nhận thức, đánh giá về nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng đến nhau.”
Kết luận: Giao tiếp trong kinh doanh là quá trình và hoạt động thiết lập, chuyển tải,
duy trì và phát triển mối quan hệ giữa người với người trong kinh doanh.
2.2 Tầm quan trọng của giao tiếp trong kinh doanh
 Giúp xây dựng một đội ngũ hùng hậu: giao tiếp có khả năng kết nối các cá nhân,
giải quyết mâu thuẫn, giúp loại bỏ sự sợ hãi, tuyên truyền tinh thần đoàn kết và tiếp
lửa động lực thông qua ngôn ngữ trực tiếp.
 Tránh hiểu lầm và đưa thông tin sai lệch: diễn giải không tốt có thể khiến người
khác hiểu nhầm hoặc hiểu sai lệch đi các thông tin và thông điệp. Nhưng giao tiếp
tốt sẽ giúp hoàn thành công việc thậm chí là sửa chữa lại sai lầm.
 Thúc đẩy quá trình kinh doanh: khi giao tiếp tốt, dịch vụ chăm sóc khách hàng được
nâng cấp, khách hàng được giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, kịp thời, việc
kinh doanh của doanh nghiệp cũng tăng lên đáng kể.
 Tạo ra văn hóa hòa nhập chốn công sở: sự động viên, chia sẻ thông qua ngôn ngữ
trực tiếp của ban quản lý với nhân viên sẽ góp phần tạo ra môi trường làm việc thân
thiện và thoải mái.
 Tăng tương tác với khách hàng: sự giao tiếp của doanh nghiệp với khách hàng sẽ là

chúng ta trong tương lai.
 Mọi người thường có ấn tượng không tốt với những ai chỉ biết giải quyết các lời
phàn nàn mà không thực sự lắng nghe những gì họ nói.
 Khi bạn thực sự lắng nghe khách hàng, một cảm giác thoải mái, dễ chịu sẽ xuất
hiện trong lòng mỗi khách hàng- bởi vì sự lắng nghe chân thành là khá hiếm hoi,
thậm chí ngay cả khi bạn ở nhà và ở giữa những người thân.
 Lắng nghe tạo cho khách thấy bạn tôn trọng, đánh giá cao họ và quan tâm đến họ.
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 9

 Xin nhắc lại tên của ông/bà và đề nghị cho biết vấn đề. Câu nói này cho thấy, bạn
không lắng nghe, đồng thời chọc tức thêm người vốn đã có chuyện không hài
lòng.
 Nhớ tên khách hàng
 Xưng tên cá nhân là một trong những âm thanh ngọt ngào nhất mà khách hàng
muốn được nghe từ bạn.
 Việc xưng hô bằng tên riêng trong cuộc nói chuyện với khách hàng sẽ cho thấy
bạn nhìn nhận họ với tư cách một cá nhân nói riêng chứ không phải đối tượng
khách hàng chung chung, qua đó thể hiện sự tôn trọng của bạn với khách hàng.
 Hãy dùng tên riêng của họ khi bạn nói lời chào hỏi, cảm ơn, tạm biệt để làm cho
bầu không khí trở nên nhẹ nhàng, thân thiện hơn.
 Tuy nhiên, bạn đừng sử dụng tên riêng của khách hàng một cách quá thường
xuyên bởi vì nó có thể khiến khách hàng khó chịu, hãy sử dụng vào lúc đầu và lúc
kết thúc cuộc hội thoại.
 Nụ cƣời từ trái tim của bạn.
 Duy trì dịch vụ khách hàng với nụ cười trên khuôn mặt dường như là cái gì đó hơi
rập khuôn. Tuy nhiên nếu bạn muốn khách hàng yêu thích dịch vụ của bạn, hãy
thực hiện nó với một nụ cười chân thật.

 Việc này đi nguợc lại chính sách của chúng tôi”. Khách hàng không muốn giao
dịch với những người quan liêu, cứng nhắc, nên người phục vụ cần nhã nhặn tìm
hướng giải quyết linh hoạt trong chừng mực có thể. Hãy nhớ: “đừng để khách
hàng thất vọng”.
 Đó không phải là công việc của tôi. Trong trường hợp này, nên nói: “Tôi biết
người có thể giúp ông/bà giải quyết vấn đề này. Tôi sẽ giới thiệu ông/bà với người
đó”.
 "Tôi chỉ làm việc ở đây thôi" Câu nói rập khuôn này tôi thường được nghe ở hầu
hết các nhân viên phục vụ bàn sau khi món ăn đem ra không đúng yêu cầu. Bằng
vài từ tồi tệ này, một nhân viên đã cho biết nôi đó không có lòng nhiệt tình, hăng
hái, quan tâm tới khách và nhân viên không sẵn lòng đáp ứng nhu cầu của khách
hàng.
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 11

 81% khách hàng từ bỏ nếu họ cảm thấy rằng đối phương không có thiện chí giúp
đỡ hoặc không chú ý đến nhu cầu của khách hàng. Ví dụ: Khách hàng muốn mua
một chiếc xe tiêu tốn ít nhiên liệu và có kích cỡ nhỏ để tiện đi trong thành phố vốn
đã rất chật chội, nhưng suốt buổi họ toàn được nghe người bán hàng "thao thao bất
tuyệt" về những thế mạnh của chiếc xe cồng kềnh.
 Giúp đỡ khách hàng nhiệt tình.
 Hãy để tôi giúp bạn một tay. Dù chỉ là giúp đỡ khách mang hàng ra xe hay đơn
giản là mở cửa giúp người đang mang hàng nặng trên tay thì một thông điệp rõ
ràng đó là bạn sẵn sàng giúp đỡ họ và ấn tượng này sẽ hằn sâu vào tâm trí khách
hàng. Và tất nhiên, nó sẽ khiến họ quay trở lại với bạn vào lần sau.
 Thông tin cho khách các dịch vụ khác mà khách quan tâm nếu bạn có thể.
 Kiên định quan điểm
 Không nên gió chiều nào che chiều ấy mà cần phải học cách nói lời của chính

bạn và người khác.
 Điều gì có thể khiến cả hai người cùng thích thú (ví dụ như việc gỡ rối một vấn đề
nào đó)? Một cách để bắt đầu khám phá ra điểm tương đồng chính là việc chia sẻ
các dự định thầm kín của mình- ví dụ như bạn có thể nói: "Dự định của tôi khi
chia sẻ với bạn về điều này chính là để giúp bạn thành công trong dự án này"

2.5 Phương thức ứng xử trong giao tiếp kinh doanh
Trên thực tế ý nghĩa của xử sự trong kinh doanh vô cùng lớn. Xử sự đúng cách tạo
điều kiện dễ dàng hơn cho Giao tiếp kinh doanh, nhưng đồng thời bản thân đó cũng là
một hình thức giao tiếp. Theo chuyên gia Ed Aasvik, giám sát viên phòng máy tính
(Computer Lab) tại đại học Boise State University, xử sự đúng cách là ngôn ngữ cơ bản
nhất của Kinh doanh. Những doanh nhân thành đạt đều hiểu rất rõ thứ ngôn ngữ này và
sử dụng nó rất hiệu quả. Để tham gia vào câu lạc bộ có tên là Kinh doanh bạn phải biết
ngôn ngữ của nó.
- Thông điệp mà một phép xử sự đúng đắn tạo ra đó là sự tôn trọng. Khi bạn thực
sự lắng nghe và đối xử tốt với một ai đó bạn sẽ hiểu được điều gì họ đang suy nghĩ và
quan tâm. Và ngược lại, phía bên kia cũng sẽ tỏ ra tôn trọng ý kiến và cảm xúc của bạn.
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 13

Không những thế người đối diện cũng sẽ cảm thấy thư thái hơn khi nói chuyện với một
người biết phép xử sự. Họ sẽ giao tiếp cởi mở hơn, và thực tế họ có thể tiết lộ thêm thông
tin cho bạn. Điều này là vô cùng quý giá trong kinh doanh.
- Xử sự có ý nghĩa cực kỳ quan trọng bởi vì nó có thể đem đến các cơ hội kinh
doanh trong tương lai. Nếu quá lịch sự thì lại có vẻ cứng nhắc và không thành thật, nhưng
còn tốt hơn rất nhiều so với bất lịch sự, thậm chí chỉ do vô tình. Những người khiếm nhã
sẽ phải trả giá vì tự đánh mất cơ hội và công việc kinh doanh của mình.
- Tôn trọng thời gian của người khác; đừng nên lãng phí thời gian của người ta và

3. Đặc trƣng về văn hóa giao tiếp của ngƣời Việt Nam
Theo GS.TS Trần Ngọc Thêm (2006), người Việt Nam khi giao tiếp có các đặc
điểm sau:
 Thái độ giao tiếp: vừa thích giao tiếp vừa rụt rè.
Người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc vào nhau và đều coi trọng mối quan hệ
giữa các thành viên trong cộng đồng. Đó là nguyên nhân dẫn đến người Việt trọng giao
tiếp, đây cũng được xem là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá con người. (Thích giao tiếp
thăm viếng nhau không phải do nhu cầu công việc mà là để thắt chặt thêm mối quan hệ,
với khách thì rất tôn trọng, hiếu khách, luôn dành những thứ tốt nhất). Nhưng khi đến khu
vực ngoài cộng đồng, khi tiếp xúc toàn người lạ, tính ngự trị nổi lên thì người việt lại trở
nên rụt rè. Hai tính cách trái ngược nhau tồn tại trong một bản chất nhưng không hề mâu
thuẫn nhau, đó cũng là sự thể hiện tính linh hoạt trong giao tiếp của người Việt Nam.
 Quan hệ giao tiếp: lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử.
Nguồn gốc văn hoá nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người việt tói chỗ lấy
tình cảm, lấy sự yêu ghét làm nguyên tắc ứng xử. Trong cuộc sống người việt có lý có
tình nhưng vẫn thiên về tình hơn. Khi cần cân nhắc giữa cái lý cái tình thì tình vẫn được
đặt cao hơn lí.
 Đối tƣợng giao tiếp: ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá.
Người Việt Nam thích tìm hiểu về tuổi tác, gia đình, nghề nghiệp, trình độ học
vấn…của đối tượng giao tiếp. Đặc tính này chẳng qua cũng là một sản phẩm nữa của tính
cộng đồng làng xã mà ra. Do tính cộng đồng người việt thấy mình tự có trách nhiệm quan
tâm tới người khác, nhưng muốn quan tâm hay thể hiện sự quan tâm đúng mực thì phải
biết rõ hoàn cảnh. Ngoài ra do các mối quan hệ xã hội, người ta cần tìm hiểu để có cách
xưng hô cho thỏa đáng. Biết tính cách, biết người để lựa chọn đối tượng giao tiếp cho phù hợp.
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 15
Ở Hà Nội, thậm chí có những người đi ô tô, áo quần sành điệu có khi ví lại mỏng
dính. Người Hà Nội thích ăn mặc có gu riêng, chứng tỏ bản thân hơn người khác. Nhà
nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đình Đầu lý giải các câu chuyện trên rằng bởi Hà Nội là một
đô thị mang tính hướng nội, nép mình nhờ sự bảo vệ của sông Hồng.
Do Hà Nội bảo thủ nên không dễ dàng chấp nhận cái mới, rất gắn bó với những
sản phẩm đã được thị trường khẳng định. Ở đây môi trường là yếu tố quyết định, anh có
thể tài giỏi, nhưng cái anh có thể là thay đổi bản thân thích ứng với môi trường, chứ anh
không thể nào thay đổi được môi trường. Việc đi du học cũng giống như vậy, hãy thay
đổi bản thân phát triển đến mức tốt nhất có thể ở trong môi trường cũ rồi hãy nghĩ tới
chuyện thay đổi môi trường (ra nước ngoài học tập). Từ đây dẫn đến nguyên nhân thứ 2.
Sự thích ứng nhanh và tính căn cơ của người miền Bắc. Vì môi trường mở và
thoáng cũng đồng nghĩa với áp lực cạnh tranh lớn. Ra Bắc thì "dịch vụ" là át chủ bài. Ở
Bắc rất quen thuộc cảnh "kem đứng, cháo quát, phở xếp hàng", có thể nói doanh nghiệp
nơi đây có 1 văn hoá dịch vụ phụng sự khách hàng còn yếu kém. Những trường hợp
thành công của doanh nhân Nam ra Bắc có thể kể tới Phở 24 của Lý Quý Trung, siêu thị
Nguyễn Kim - Best Carings
Nói về tố chất, người miền Bắc mang đậm cốt cách của kẻ sĩ. Một giai đoạn dài
của lịch sử, đất Hà Thành không phải để buôn bán. Vùng giao thương nằm ở khu vực Phố
Hiến, Hải Phòng, Nam Định …. Đất Hà Thành là đất của người dân trọng nền khoa cử,
học thức, trọng những thứ tao nhã về tinh thần và tri thức. Từ phong cách đến cái ăn, cái
mặc, thú chơi đều ngấm chất như vậy. Nếu như ngày nay chúng ta lấy thước đo là sự tài
trí trong kinh thương để thể hiện đẳng cấp thì lúc trước, ở mảnh đất này, học thức là thứ
để mỗi người kẻ sĩ có một cái “kiêu ngầm”. Ấy là dân Bắc Kỳ. Vùng ven đất kinh thành,
dân cư buôn bán giao thương cũng không nhiều. Đất Bắc là vùng nông nghiệp lúa nước.
Những kẻ chợ chỉ gói gọn trong giao thương những vật dụng sinh hoạt phục vụ nông
nghiệp và sinh sống thông thường. Vùng buôn bán của Phố Hiến, Hải Phòng, Nam Định
phần nhiều cũng không phục vụ thị trường trong nước mà chủ yếu là xuất khẩu.
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 18

đặc sắc ở đây là sự cần cù, cần mẫn, kiên nhẫn để làm giàu cho mình. Nhưng trong thế
cân bằng đó vẫn toát lên tinh thần hoà hợp và thích nghi đến thụ động và chịu đựng, chú
trọng gìn giữ sự cân bằng đó.
Bởi vì người miền Trung sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Do đó họ
rất quý trọng người lao động, sức lao động và tình yêu lao động bởi vì của cải làm ra rất
khó khăn trước những điều kiện tự nhiên như thế.
Trong lao động người miền Trung ngoài những đặc tính là siêng năng, cần cù họ còn
rất cẩn thận, họ ghét sự dối trá, cẩu thả. Tư tưởng chính là “ tích tiểu thành đại” hay “mưa
dầm thấm lâu”. Mặc dù vậy họ chấp nhận và thích nghi với điều kiện nghèo khổ, đề cao
tiết kiệm. Họ quen sống đạm bạc, họ dùng những thứ họ tự làm ra, “tự cung tự cấp” rất
hiếm khi họ mua những thứ xa xỉ . Trong sản xuất họ dựa vào kinh nghiệm gia truyền là
nhiều. Ngày nay họ cũng hoà nhập rất nhanh, do vậy điều kiện sống cũng được nâng cao
từng ngày.
Họ có một lối sống đề cao tính cộng đồng, vị thế và nhân cách cá nhân phụ thuộc
chặt chẽ vào tập thể. Cách cư xư của họ cũng mang đậm nét truyền thống như là kính
trọng người lớn tuổi và những người có địa vị xã hội cao. Đời sống tuân theo một nguyên
tắc truyền thống, theo một chuẩn mực chung. Dựa vào đó mà đánh giá người có văn hoá
hay không. Biểu hiện của lối sống cộng đồng ấy là: quan tâm giúp đỡ người khác, coi
trọng tình cảm, đề cao tinh thần đoàn kết. Tuy không bằng người miền Bắc vì miền Bắc
có lịch sư phong kiến lâu đời hơn nhưng người miền Trung có đời sống tình cảm không
kém gì người miền Bắc.
Ý thức sống hoà thuận, giữ gìn tình làng nghĩa xóm như vậy, giúp đỡ, người khác
được coi là chuẩn mực sống, lương tâm, bổn phận, nhu cầu, lẽ sống, tình cảm sâu sắc là
nghĩa vụ thiêng liêng của họ. Bởi vì đời sống tình cảm sâu sắc nên chữ “sĩ” đối với họ
cũng được đề rất cao. Họ chú trọng giữ gìn vị thế và nhân cách ca nhân và nhân cách
cộng đồng. Ngoài ra họ có một lối sống coi trọng cái tâm và đề cao nó, chữ tín, đạo hiếu

hằng ngày đã rất không thống nhất, các thứ khác cũng vậy, hầu như chẳng có cái gì làm
chuẩn. Nếu miền Bắc, miền Nam cái cân được sử dụng để cân từ rau hành đến cá, thịt thì
ở miền Trung tất cả đều được định bằng mớ. Mớ cá nục là 12 con, không cần biết con lớn
hay con nhỏ, chỉ đôi mắt "kinh nghiệm" mà định giá rồi trả. Con gà con vịt cũng vậy,
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 20

không cân mà cầm trên tay nhắc nhắc mấy cái, bóp bóp cái lườn mà theo giá rồi trả. Thế
mới có chuyện vui, một bà bán lươn không dùng cân mà đong lươn bằng lon. Đong một
lon lươn đầy, lấy tay gạt ngang vẫn còn một cái đầu lươn ngóc lên. Gạt lần nữa cái đầu
vẫn ngóc lên, bà bán lươn mới bảo: "Thôi , thêm cho chị cái đầu. Rẻ rồi đó !". Mấy cô
dâu ngoài Bắc hoặc Nam về Trung, ban đầu than trời vì cách mua bán chẳng cần đo
lường này. Riết rồi đến khi quen, thấy cái cân đâm lạ lạ, ngàn đồng hành lá mà cũng cân
thì trông nó lạnh lùng quá, các bà các chị bảo thế.
Không phải chỉ chuyện cân đong đo đếm người miền Trung có cái cách chẳng
giống ai mà ngay chuyện mua bán kinh doanh "tiếp thị" của các bà, các chị, và cả các ông
nữa, nó cũng chẳng giống ai. Một lần tôi dừng xe bên lề đường trước chợ để mua bó chè
xanh. "Bà bán con bó chè xanh". Tôi lặp lại câu ấy ba lần bà già vẫn cứ tỉnh bơ nhìn mọi
người qua lại. Một cô gái bán rau bên cạnh mới cười đứng dậy cầm bó chè đưa tôi rồi
bảo, lần sau anh mua thì dựng xe bước vào. Đứng trên xe thế này bà cụ không ưng.
Không phải chỉ mấy bà già không lấy chuyện đồng lời làm trọng, chỉ lấy chuyện bán mua
làm vui, mua bán cũng phải có trên có dưới ; ngay cả một cửa hàng trên phố cũng một cái
tính cách bất cần như vậy. Cách đây chừng hai năm, trên đường Phan Châu Trinh của
thành phố Đà Nẵng, có một dãy phố chuyên kinh doanh việc in ấn. Mọi chuyện kinh
doanh êm đẹp bỗng đâu một người trương lên tấm bảng "Đại hạ giá in thiệp mùa cưới".
Vậy là hàng loạt cửa hàng khác cũng phải treo bảng "đại hạ giá" theo. Một chủ hàng dân
Quảng Nam gốc hình như tức mình mới treo lên tấm bảng " Đại lên giá" ! Cái hay của
vấn đề chính là cái chỗ cửa hàng "đại lên giá" ấy lại đắt khách hơn các cửa hàng "đại hạ

mong có ngày được trả. Người ta chưa trả mà đã vội nhắc, kể công một tiếng là đổ sông
đổ biển hết đó, là bạn trở thành thù đó.”
3. Văn Hóa Giao Tiếp Kinh Doanh Miền Nam
Mỗi vùng đất đều có những điều thú vị, mỗi nét, mỗi đặc trưng riêng kể cả trong
văn hóa giao tiếp. Một nhà văn hóa đã từng khái quát rằng Người Bắc “bảo thủ” , ngại
thay đổi, thường làm theo truyền thống và thói quen còn người miền Nam năng động mà
vẫn ung dung thư thái, chân phương mà cởi mở, bộc trực mà dễ chịu.
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 22

Người Sài Gòn luôn có tinh thần học hỏi, sự cần cù, nhanh nhạy và năng động
trong kinh doanh . “Chịu chơi” theo kiểu dám làm dám chịu, không bao giờ chịu bó tay là
đặc tính của cư dân Sài Gòn, từ những con người bình dị đến giới trí thức.
TP. Hồ Chí Minh được xem là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, là “cửa ngõ” để
Việt Nam bước ra thế giới. Nguồn kiều hối đổ về ngày càng nhiều, các dự án đầu tư nước
ngoài có hàm lượng trí tuệ cao, như dự án của Intel, đang tạo điều kiện và làm nảy nở
một tinh thần kinh doanh mới. Có thể nói, doanh nhân Sài Gòn hôm nay đã là những
công dân toàn cầu, họ tự tin kết nối với thế giới, am hiểu thế giới, mạnh dạn khám phá
nhiều ngành kinh doanh mới.
Tinh thần học và tự học của doanh nhân Sài Gòn được nâng cao hơn bao giờ hết.
Các lớp học về quản trị kinh doanh luôn đầy ắp học viên, kể cả những lớp học ban đêm.
Các hội thảo, tọa đàm, các doanh nhân trẻ luôn chủ động đưa ra những câu hỏi xác đáng
và sẵn sàng ngồi lại bất kể giờ nghỉ, để cùng mổ xẻ một vấn đề nào đó. Đấy là những
điều không dễ thấy ở nơi khác
Phong cách của người Sài Gòn so với cả nước không có gì khác lạ. Ở đâu trên
nước Việt Nam mà người dân không hiếu khách, trọng nghĩa khinh tài, lanh lẹ, cần cù!
Nhưng ở Sài Gòn, phong cách ấy thể hiện đậm nét, ở vài khía cạnh nào đó.
Phong cách nào phải do trời đất ban cho, nhưng thành hình do hoàn cảnh bắt buộc

thử sản phẩm tại các trung tâm thành phố lớn. Người Sài Gòn uống thử rất nhiều, người
Hà Nội uống ít hơn, người miền Trung gần như không uống. Một nhà văn hóa sau đó
khái quát hóa rằng vì người miền Trung không bao giờ cho phép mình ăn uống “đầu
đường xó chợ”. Người Bắc “bảo thủ” hơn, ngại thay đổi, thường làm theo truyền thống
và thói quen. Họ nghĩ: “Ông tôi, bố tôi đều làm như vậy nên tôi cũng sẽ làm như vậy”.
Người miền Nam năng động hơn cả. Nếu ra phố Sài Gòn, bạn thản nhiên khi thấy người
bán hàng, nhân viên lễ tân cúi gập người chào thì ở Hà Nội, bạn không tin vào tai mình
khi vào cửa hàng mà được ai đó nói lời cảm ơn. Bởi người Hà Nội luôn sẵn sàng tâm thế
bị “mắng mỏ” khi ra đường. Cũng bởi ở miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng, thói
quen văn hóa - lịch sử đã để lại một quan điểm cho rằng làm nghề phục vụ là hạ cấp.
Văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của 3 miền Việt Nam 24

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường xuyên phải giao tiếp với nhiều người,
với nhiều đối tượng thuộc các tầng lớp khác nhau. Mỗi vùng đất đều có những điều thú
vị, mỗi nét, mỗi đặc trưng riêng kể cả trong văn hóa giao tiếp. Người Miền Nam cũng
vậy, họ có những đặc trưng như:
 Lòng Trung Thành
Lòng trung thành đối với cấp trên và công ty được người miền Nam đánh giá như một
phẩm chất cao quý.
Trong các công ty, chấp hành kỷ luật và tôn trọng cấp trên cũng như tôn trọng những
người thâm niên hơn là nền tảng cho các mối quan hệ. Trước khi thiết lập mối quan hệ
với ai đó, họ cần biết được cấp bậc của người ấy để cư xử cho đúng phép tắc. Danh thiếp
cung cấp những thông tin này, nên bạn phải trao danh thiếp của mình ngay khi chào hỏi
lần đầu tiên.
Danh thiếp phải được cho và nhận bằng hai tay. Họ luôn trông đợi tấm danh thiếp của
mình được người khác xem và ngắm nghía ngay khi nhận. Trong suốt cuộc gặp gỡ, danh
thiếp nên được để trên bàn. Sau khi gặp xong phải được trân trọng cho vào ví và không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status