Luận bàn về CSTT trong quá trình đổi mới là một vấn đề phức tạp, luôn biến đổi, có tác dụng mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh tế- xã hội - Pdf 12

§Ò ¸n m«n häc
Lời nói đầu
Trong việc thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô là tăng
trưởng kinh tế, ổn định đồng tiền, cân bằng cán cân đối ngoại và giải quyết công
ăn việc làm, chính sách tiền tệ quốc gia có vai trò rất quan trọng.
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thực hiện CSTT từ đầu
những năm 90 của thế kỷ 20 vừa qua. Cho đến nay, CSTT quốc gia đã thực sự
góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội của Nhà
nước, nhất là trong việc kìm chế lạm phát từ 3 con số vào những năm 1985-1989
xuống còn 1 con số kể từ đầu những năm 90, cung cấp tổng phương tiện thanh
toán (M2) cho nền kinh tế phù hợp với tốc độ tăng của GDP, từ đó thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng. Quan điểm điều hành CSTT ở
Việt Nam hiện nay là theo quan điểm đa mục tiêu, tuỳ vào diễn biến kinh tế- xã
hội mà lựa chọn mục tiêu thích hợp. Trình độ hoạch định và điều hành CSTT của
NHNN Việt Nam ngày càng tăng lên thông qua việc chú trọng công tác phân tích
mọi diễn biến kinh tế- tiền tệ trong nước và quốc tế để có những dự báo và quyết
định kịp thời tới việc ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, sử dụng ngày càng nhuần
nhuyễn hơn các công cụ của CSTT. Với quan điểm điều hành CSTT một cách
thận trọng và linh hoạt để kiểm soát lạm phát ở mức 1 con số, hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế, củng cố sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh có nhiều
bất lợi, CSTT vừa qua thực sự có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày
càng mạnh mẽ thì việc điều hành CSTT của Việt Nam hiện nay chưa hẳn là hoàn
thiện. Vẫn còn nhiều bất cập khi điều hành CSTT mà NHNN và các Bộ hữu quan
cần phải tập trung giải quyết.
Luận bàn về CSTT trong quá trình đổi mới là một vấn đề phức tạp,
luôn biến đổi, có tác dụng mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh tế- xã hội. Bài
viết này chỉ góp bàn một vài ý kiến nhỏ và rất mong có sự đánh giá và bổ
sung của cô giáo và mọi người.Và em cũng xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ
Nguyễn Thị Kim Dung đã hướng dẫn em hoàn thành bài viết này.
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A

t
-
1
)
Y
t
-
1
*100%
-Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ k năm( ):
= Yk
- 1 ) x100%
Y
o
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
K
§Ò ¸n m«n häc
Yk :GDP năm k
Yo:GDP năm o.
E. Ổn định giá
Ổn định giá là việc việc duy trì giá cả ổn định trong thị trường tự do.
Trong mục tiêu này Chính phủ muốn nền kinh tế thị trường vận hành trôi chảy
là cách hiệu quả nhất để tổ chức phần lớn các hoạy động kinh tế.Mặt khác mục
tiêu tiêu nay cũng ngăn chặn không cho mức giá chung lên xuống quá nhanh .Sự
thay đổi đột ngột sẽ bóp méo các quyết định kinh tế của hãng và cá nhân.
Thước đo phổ biến nhất là chỉ số giá tiêu dùng CPI
Chúng ta thường gọi sự thay đổi trong mức giá là tỉ lệ lạm phát.Tỉ lệ lạm phát
ghi lại tốc độ tăng giảm của mức giá từ năm này sang năm khác.Giảm phát xảy
ra khi giá cả giảm xuống.
1.2.Chính phủ với vai trò ổn định kinh tế vĩ mô.

dụng các công cụ của hoạt động tín dụng và ngoại hối để ổn định tiền tệ,từ đó ổn
định nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế và đảm bảo sự ổn
định hệ thống ngân hàng. Thực tế cho thấy sự ổn định của tiền tệ, ổn định của hệ
thống tài chính là điều kiện hàng đầu cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Đồng thời, chính việc lựa chọn mục tiêu cho việc điều hành chính sách
tiền tệ là bằng chứng cho sự hoà nhịp của hệ thống ngân hàng với tiến trình đổi
mới đất nước.
2.2.Công cụ của chính sách tiền tệ.
2.2.1. Công cụ tài cấp vốn.
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHTW đối với các NHTM. Khi
cấp một khoản tín dụng cho NHTM, một mặt, NHTW đã tăng lượng tiền cung
ứng, mặt khác tạo cơ sở cho các NHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được
năng lực thanh toán cho họ.
Đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam), việc tái cấp vốn
đối với các NHTM được thực hiện dưới các hình thức tái chiết khấu các giấy tờ
có giá, thương phiếu, các giấy tờ có giá ngắn hạn và các hình thức cầm cố, thế
chấp các chứng từ có giá ngắn hạn …
Với công cụ này, NHTW sẽ điều chỉnh tăng, giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi
suất chiết khấu phụ thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ là thắt chặt hay nới
lỏng tiền tệ, từ đó tác động tới lượng tiền trong lưu thông. Khi NHTW thấy rằng,
cần tăng thêm tiền cho lưu thông, họ có thể hạ thấp lãi suất tái cấp vốn xuống.
Khi đó, một mặt, khuyến khích các NHTM đến NHTW để vay vì giá cả tín dụng
giảm, mặt khác dung lượng tín dụng được cấp đối với các NHTM tăng lên, và
ngược lại.
2.2.2.Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ lượng tiền cần phải dự trữ so với tổng số tiền
huy động. Đó là tỷ lệ mà NHTW yêu cầu các NHTM phải đảm bảo. Khi tỷ lệ dự
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
§Ò ¸n m«n häc
trữ bắt buộc thay đổi thì cung tiền sẽ thay đổi. Khi NHTW tăng tỷ lệ dự trữ bắt

thống ngân hàng và vì thế mà giảm khối lượng tiền cung ứng theo bội số, được
đo lường bằng sự giảm xuống của hệ số nhân tiền tệ.
b.Tác động qua lãi suất.
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
§Ò ¸n m«n häc
thứ nhất :khi dự trữ của các ngân hàng bị ảnh hưởng nó tác động đến cung
cầu vốn của NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng . Đến lượt nó, cung cầu
tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi .Mức
lãi suất ngắn hạn này,thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động
Arbitrate về lãi suất,sẽ truyền tác động của nó đến các mức lãi suấttrung và dài
hạn trên thị trường tài chính .Tổng cầu(AD) của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng
kinh tế sẽ được quyết định tại một mức lãi suất thỉtường xác định.
thứ hai,việc mua bán chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ
cung cầu về loại chứng khoán đó trên thị trường mở và do đó tác động giá cả
của nó.Khi giá chứng khoán thay đổi,tỷ lệ sinh lời của nó cũng thay đổi.Nếu đó là
loài chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn trong dao dịch trên thị trường tài chính thì sự
thay đổi tỷ lệ snh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường,tổng cầu(AD) và
sản lượng.
2.2.4.Công cụ lãi suất tín dụng.
a.Khái niệm chung
Lãi suất tín dụng được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện chính
sách tiền tệ trong việc điều khiển mức cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế.Lãi suất
không trực tiếp làm tăng hay giảm khối lượng tiền trong lưu thông nhưng sự
tăng, giảm lãi suất có thể kích sản xuất hoặc kìm hãm sản xuất.
b.Cơ sở hình thành và các loại lãi suất trên thị trường
Về mặt lý thuyết và thực tiễn cho thấy lãi suất được hình thành trên
những cơ sở:
-Quan hệ cung cầu về vốn tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.
-Tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế.
-Chính sách động viên và phân phối của Nhà nước.

chức tín dụng.Từ đó tác động đến lãi suất thị trường tiền tệ liên ngân hàng.Và
cuối cùng sẽ tác đến lãi suất kinh doanh của tổ chức tín dụng đối với các chủ thể
trong nền kinh tế.
*Cơ chế điều hành gián tiếp:Thông qua các hình thức quản lý lãi suất của
các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế,như quy định các mức lãi suất cụ thể về
tiền gửi, cho vay,khung lãi suất, trần lãi suất cho vay,biên độ chênh lệch lãi suất
bình quân…
2.2.5.Công cụ hạn mức tín dụng.
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW bắt buộc các NHTM phải
tôn trọng khi cung cấp tín dụng.Khối lượng tiền này NHTW sẽ cho ngân sách
Nhà nước và các NHTM vay theo kế hoạch.Xác định hạn mức tín dụng phụ thuộc
vào :dự kiến tộc độ tăng trưởng kinh tế ,chỉ ssó lạm phát và tốc độ lưu thông tiền
tệ (tốc độ quay vòng tiền tệ). Tuỳ thuộc sự biến động của chỉ số này. NHTW sẽ
thực hiện hạn mức tín dụng nới lỏng hay thắt chặt,nhằm mở rộng hay hạn chế
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
§Ò ¸n m«n häc
khối lượng tiền cho NHTM vay, qua đó tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu
thông.
2.2.6.Hệ thống ngân hàng.
a.bản chất của hoạt động tín dụng.
Tín dụng là hình thức quan hệ tiền tệ ,dùng để huy động và sử dụng những
số vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi của các công ty ,các tổ chức kinh tế ,của nhân
dân và vốn của ngấ sách Nhà nước.Tín dụng là một hình thức tổ chức tài chính
trung gian và có mối quan hệ với ngân sách Nhà nước:Tín dụng bổ sung cho
ngân sách trong việc thực hiện phân phối thu nhập, để sử dụng vốn của nền kinh
tế được đựoc đầy đủ hơn ,khẩn trương hơn nhằm tác động mạnh đến phát triển
kinh tế.Tín dụng hoạt động theo nguyê tắc hoàn trả và có lãi.
b.Hệ thống ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng hiện nay bao gồm Ngân hàng Nhà nước và Ngân
hàng chuyên doanh .Ngân hàng Nhà nước gồm có NHTW và các chi nhánh ở địa


Thị trường tiền tệ ban đầu cân bằng tại Eo với mức lãi suất Io. Để giảm lãi
suất,chính phủ quyết định giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc hoặc tỉ lệ cho vay chiết
khấu,hoặc NHTW thực hiện nghiệp vụ mua trên thị trường mở .Trong hai trường
hợp đàu các NHTM sẽ thấy ít có áp lực phải dự trữ hơn và họ sẽ giảm dự trữ của
mình tại NHTW. Điều đó sẽ làm cung tiền tăng từ So đến S1 và lãi suất sẽ giảm
tương ứng xuống I1.
Trong trường hợp thứ ba, để mua trái phiếu chính phủ từ công chúng và
NHTM hay tổ chức tài chính , NHTWsẽ phải tung thêm một lượng tiền nhất định
vào lưư thông. Điều đó cũng co tác dụng làm tăng cugn tiền giống như hai
trường hợp trên.
Khi lãi suất giảm,lượng tín dụng sẽ gia tăng,chi tiêu đầu NHTW,một thành
phần của tổng cầu rất nhạy cảm với lãi suất,sẽ gia tăng. Đồng thời,lãi suất giảm
cũng làm người dân bớt nhu cầu tiết kiệm và tăng nhu cầu chi tiêu.Kết quả cả hai
điều đó sẽ làm I và C tăng lên và qua đó, tổng cầu sẽ tăng.
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
s
o
i
I
o
I
1
o
S
1
E
o
E
1

để điều hành nền kinh tế, đặc biệt là công cụ lãi suất tín dụng để kiểm soát cung
tiền.
Chính sách tín dụng đã đựoc đổi mới theo xu hướng xoá bỏ dần bao cấp
qua tín dụng và thu hút tiền gửi voà ngân hàng bằng cách xác định lãi suất
dương.Với việc qui định mức lãi suất tiền gửi rất cao nhằm huy động vốn tiền
mặt,rút bớt tiền ra khỏi lưu thông,lạm phát đã được kiểm soát.
Giai đoạn 1986-1992 lãi suất đựoc điều hành theo nhiều chỉ định chủ quan, vì
vậy thực tế lãi suất luôn là “lãi suất” thực âm .Ngân hàng Việt Nam quy định các
mức lãi suất tiền gửi và cho vay.

Mặc dù còn có hạn chế nhất địng trong việc sử dụng các công cụ của
chính sách tiền tệ nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của hai chính
sách này trong việc khống chế lạm phát.Kết quả,lạm phát đã giảm từ 774.7%
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
§Ò ¸n m«n häc
năm 1986 xuống còn 34.7% năm 1989 và nền kinh tế bước đầu đạt tộc độ tăng
trưởng đáng khích lệ.
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1986 - 19901.1.2.Giai đoạn 1991-1997.
Mặc dù đã kiềm chế và đảy lùi lạm phát nhưng nền kinh tế vẫn trong tình
trang khó khăn,thể hiện ở tốc độ tăng trưởng của giai đoạn trước đó vẫn thấp và
không ổn định,diễn biến lạm phát thất thường.Trước thực tế đó,chính phủ Việt
Nam đã quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, trong đó sử dụng linh hoạt hơn
các chính sách tài khoá và tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô.
Giai đoạn 1992-1996 Thực hiện cơ chế lãi suất thực dương,Ngân hàng
Việt Nam được tách ra làm hai bộ phận là Ngân hàng Nhà nước(NHNN) và
NHTW,và các ngân hàng chuyên doanh giữ chức năng NHTM,thực hiện tự hạch
toán kinh doanh tiền tệ. Mặc dù NHNN còn nhiều quy định cụ thể sàn lãi suất tiền

càng khó khăn thêm cho việc huy động vốn của các ngân hàng.
Nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn định lớn,thể hiện ở tộc độ tăng trưởng kinh
tế giảm sút đặc biệt là giá cả liên tục giảm kéo dài và đạt mức âm vào anưm
2003.Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế, chính phủ
Việt Nam đã sử dụng một loạt các giải pháp.Trong đó, hai công cụ giải pháp kích
cầu bắt đầu thực hiện từ năm 1999 được coi là là giải pháp chủ yếu giúp nền
kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái.Trong đó, hai công cụ là lãi suất và chi tiêu
của chính phủ đóng vai trò trọng tâm.Giai đoạn này chính phủ áp dụng chính
sách tiền tệ nới lỏng dần.Vào năm 1999, để thực hiện chủ trương kích
cầu,NHNN đã năm lần điều chỉnh lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam. Và đến
ngày 2/ 8/ 2000, NHNN quyết định chuyển từ cơ chế điều hành lãi suất trần sang
cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản đối với cho vay đồng Việt Nam và cơ chế
lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng cho vay ngoại tệ. Đến năm
2003 NHNN quyết định áp dụng lãi suất tự do.
Bên cạnh đó các công cụ khác của chính sách tiền tệ cũng được sử
dụng như hạn mức tín dụng, lãi suất cho vay chiết khấu liên tục điều chỉnh để
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
Tốc độ tăng trưởng 5.8 8.7 8.1 8.8 9.5 9.3 8.2
Lạm phát 3.6 4.5 12.7 14.4 12.7 4.5 3.6
§Ò ¸n m«n häc
thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Đặc biệt vào năm 2000, NHNN đã đưa hoạt
động thị trường mở vào vận hành như một công cụ để kiểm soát cung tiền.
Kết quả của các chính sách đã giúp cho nền kinh tế ổn định và phát triển
thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế được phục hồi và tình trạng giảm phát đã
dần được khắc phục.
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Việt Nam,giai đoạn 1998 – 2003
Đơn vị tính: %
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Tốc độ tăng trưởng thực tế

bất lợi, CSTT vừa qua thực sự có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế
ngày càng mạnh mẽ thì việc điều hành CSTT của Việt Nam hiện nay chưa hẳn là
hoàn thiện.
Thứ nhất, thị trường tiền tệ Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của sự phát
triển.Cho nên,nếu NHNN sử dụng thị trường này làm thị trường cho NHNN điều
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
§Ò ¸n m«n häc
chỉnh lãi suất của nền kinh tế đòi hỏi nhiều công sức hơn nữa để xây dựng một
cơ chế lan truyền có hiệu quả các tác động của NHNN về lãi suất.
Thứ hai, cơ chế điều hành lãi suất nền kinh tế của NHNN Việt Nam đã
chuyển từ “áp đặt trực tiếp”. Đây là một bước tiến lớn trong cơ chế thực thi chính
sách tiền tệ của NHNN.Nhưng để có thể tận dụng được những lợi thế của cơ chế
lãi suất này trong điều kiện áp dụng các nguyên tắc,quy luật của nền kinh tế thị
trường, đòi hỏi chính phủ,NHNN và các bộ,Ngành khác phải phối hợp sao cho
nâng cao được “hiệu lực tác động đến lãi suất thị trường” đặc biệt là “lãi suất trên
thị trường tiền tệ” của NHNN khi thực thi chính sách lãi suất. Làm được điều này
thì NHNN mới thực sự nắm được vai trò chủ đạo, điều hành, điều chỉnh mức lãi
suất thích hợp,có lợi cho phát triển kinh tế.
2.Thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Việt Nam thực hiện đổi mới hệ thống ngân hàng vào những năm cuối thập
kỷ 80.Nhưng chủ yếu là từ năm 1990 đến nay.Trước năm 1990 các công cụ của
chính sách tiền tệ hầu như chưa có.Từ năm 1990 đến nay các công cụ của chính
sách tiền tệ được sử dụng và liên tục được hoàn thiện theo hướng ngày càng
phù hợp hơn với nền kinh tế để đạt được hiệu quả tối đa của quá trình điều tiết.
2.1.Công cụ tái cấp vốn
Công cụ này được NHNN sử dụng để cung ứng vốn cho các tổ chức tín
dụng và điều tiết khối lượng tiền cung ứng tuỳ theo mục tiêu chủa chính sách tiền
tệ.
a.Các hình thức tái cấp vốn

với các NHTM quốc donh,tiến tới thống nhất một mức 100% mức lãi suất của các
chứng từ xin tái cấp vốn, đồng thời tăng cường thu hồi nợ cũ với các ngân hàng
quốc doanh,nhằm khống chế mức gia tăng của tổng khối phương tiện thanh toán
Lãi suất tái cấp vốn của NHNN đối với NHTM thời kỳ 1993 - 1996

Thời điểm 4/93 10/93 4/94 10/94 4/95 96
Ngân hàng Nông NGhiệp
Ngân hàng Công thương
Ngân hàng ĐT và phát triển
Ngân hàng Ngoại thương
60
70
75
85
60
80
80
80

85
95
95
95
95
100
100
100
100
100
100

tính chất điều chỉnh của công cụ nay.Trong thời gian qua tính chất điều chỉnh
không được sử dụng.Do chúng ta không chú ý tới tính chất điều chỉnh của nó
nên khi tỷ giá tăng nhanh nhưng lãi suất tái cấp vốn lại giảm dẫn đến dòng chảy
rất mạnh từ nội tệ sang ngoại tệ.Tình trạng tiền gửi ngoại tệ tại các tổ chức tín
dụng tăng mạnh ở các năm 1999, 2000 cho chúng ta thấy vai trò điều chỉnh lãi
suất tái cấp vốn đối với giá trị nội tệ là không kịp thời. Đây là hạn chế lớn nhất
của công cụ này
trong điều chỉnh chính sách tiền tệ thời gian qua.
2.2.Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tháng 06/1992 NHNN xây dựng và ban hành quy chế dự trữ bắt buộc.Từ
năm 1992 đến nay, diễn biến thay đổi dự trữ bắt buộc được thể hiện trên bảng
sau:
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
§Ò ¸n m«n häc
Năm 1992,theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tỷ lệ dự
trữ bắt buộc là 10% trên toàn bộ tiền gửi ở các tổ chức tín dụng.Theo đó vai trò
của công cụ dự trữ bắt buộc là để đảm bảo khả năng thanh toán và kiểm soát
cugn ứng tiền.Tuy nhiên, đến đầu năm 1994 công cụ dự trữ buộc đẵ bộc lộ một
số điểm không phù hợp với chính sách tiền tệ mở rộng,trong điều kiện lạm phát
đã được kiềm chế trên dưới 10% .Ngày 3/2/1994 NHNN đã ban hành các thông
tư hướng dẫn nới lỏng dự trữ bắt buộc va kết quả đã góp phần điều tiết linh hoạt
khối lượng tiền tệ khối lượng tiền tệ,khối lượng tín dụng và lãi suất cho vay theo
mục tiêu thị trường kinh tế và kiềm chế lạm phát, nân cao hiệu quả kiinh doanh
của hệ thống NHTM ở giai đoạn đầu.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng đã
bộc lộ một số hạn chế. Đó là: việc duy trì dự trữ bắt buộc tại một tài khoản riêng
với tỷ lệ là 10% hạn chế NHTM trong việc dựbáo nhu cầu tăng, giảm dự trữ bắt
buộc của các NHTM vốn của các NHTM không đựoc sử dụng kinh hoạt. Để
Lª Thanh NghÞ - KTPT - 43A
Thời

thôn Việt Nam.
10 -35 7.5 8 10 10 10 7 7 5 5
NHTM cổ phần
nông thôn,NH hợp
tác,Quỹ tín dụng
nhân dân TW.
0 0 0 0 5 5 1 1 1 1
TCTD có số dư tiền
gửi phải tính DTBB
dưới 500 triệu
đồng, QTDND cơ
sở,HTX tín
dụng,NH phúc vụ
người nghèo.
0 0 0 0 0 0 0 0 0 0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status