Mục lục
Mở đầu
3
Chơng 1: một số vấn đề lý luận về cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc
5
1.1. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
5
1.1.1. Doanh nghiệp nhà nớc và vai trò của doanh nghiệp nhà nớc
5
1.1.2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc tại Việt
Nam
7
1.2. Nội dung và qui trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
11
1.2.1. Nội dung cơ bản của chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nớc
11
1.2.2. Qui trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
13
1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc và Thành phố Hồ Chí Minh về
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
14
1.3.1. Kinh nghiệm Trung Quốc
14
1.3.2. Kinh nghiệm Thành phố Hồ Chí Minh
18
Chơng 2: Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
trên địa bàn Hà Nội 21
2.1. Sơ lợc quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam.
doanh nghiệp nhà nớc
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nớc
35
3.2.3. Lựa chọn doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hoá đồng thời củng cố
lại doanh nghiệp trớc khi tiến hành cổ phần hoá
42
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế định giá doanh nghiệp nhà nớc
43
3.2.5. Cần có cơ chế phân bổ và tổ chức bán cổ phiếu hợp lí hơn
46
3.2.6. Gắn sự phát triển thị trờng chứng khoán với cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc
49
Kết luận
50
Tài liệu tham khảo
51
- 2 -
Mở đầu
Trong tiến trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trờng, sự đa dạng các loại hình sở hữu đã trở thành đòi hỏi tất yếu và
ngày càng phổ biến trong toàn xã hội. Những thành tựu đổi mới đã cho thấy rõ
rằng: bên cạnh hình thức sở hữu Nhà nớc, các hình thức sở hữu khác ( T nhân
hay hỗn hợp) nếu đợc tạo điều kiện thuận lợi cũng phát huy vai trò tích cực
trong đời sống kinh tế. Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu còn cho phép thực
hiện triệt để những nguyên tắc kinh tế, nâng cao quyền tự chủ tài chính và khả
năng quản lý sản xuất kinh doanh, nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng nh đầu
óc sáng tạo của ngời lao động và các nhà quản lý doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhà nớc
1.1. sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
1.1.1. doanh nghiệp nhà nớc và vai trò của doanh nghiệp nhà nớc
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nớc
Theo luật doanh nghiệp nhà nớc do Quốc hội nớc Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ban hành ngày 20/04/1995 thì doanh nghiệp nhà nớc đợc định
nghĩa nh sau: Doanh nghiệp nhà nớc là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nớc giao.
Nh vậy doanh nghiệp nhà nớc là tổ chức kinh tế đợc nhà nớc thành lập để
thực hiện những mục tiêu do nhà nớc giao. Và vì doanh nghiệp nhà nớc do nhà
nớc đầu t vốn nên tài sản trong doanh nghiệp là thuộc sở hữu nhà nớc, còn
doanh nghiệp chỉ quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu là nhà
nớc.
Doanh nghiệp nhà nớc có t cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân
sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn
do doanh nghiệp quản lý. Nghĩa là doanh nghiệp nhà nớc chịu trách nhiệm hữu
hạn về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số tài sản do doanh nghiệp
quản lý.
Tất cả các doanh nghiệp nhà nớc đều là tổ chức kinh tế do nhà nớc thành
lập. Tài sản trong doanh nghiệp là một bộ phận của tài sản nhà nớc do nhà nớc
đầu t vốn và nhà nớc sở hữu về vốn. Doanh nghiệp nhà nớc là một chủ thể kinh
doanh nhng chỉ có quyền quản lý kinh doanh trên cơ sở sở hữu của nhà nớc.
Doanh nghiệp nhà nớc là đối tợng quản lý trực tiếp của nhà nớc, chịu trách
nhiệm trớc nhà nớc về việc bảo toàn và phát triển số vốn của nhà nớc giao cho,
đồng thời thực hiện các mục tiêu mà nhà nớc giao.
- 5 -
1.1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nớc
Hiện nay Việt Nam đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá
và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn
của mình góp vào công ty. (Theo luật công ty ngày 21 - 12 1990)
Công ty cổ phần mang lại hiệu quả kinh doanh cao góp phần hoàn thiện
cơ chế thị trờng, do quan hệ đa sở hữu trong công ty cổ phần nên quy mô có khả
năng mở rộng, huy động vốn dễ, thu hút đợc nhiều nhà đầu t và tiết kiệm của
dân c, nên có thể mở rộng quy mô nhanh. Công ty cổ phần có thời gian tồn tại
lâu dài vì vốn góp có sự độc lập nhất định với các cổ đông. Trong công ty cổ
phần, quyền sử dụng vốn tách rời quyền sở hữu nên hiệu quả sử dụng vốn cao
hơn. Đó là vì vốn trao vào trong tay các nhà kinh doanh giỏi, biết cách để làm
cho đồng vốn sinh lời. Mặt khác, do cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù, chế độ trách
nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của công ty nên các nhà
đầu t tài chính có thể mua cổ phần, tạo cơ hội để huy động vốn. Đặc biệt, cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nớc cũng là cách để ngời lao động tham gia vào
công ty chứ không phải là làm thuê nên tăng trách nhiệm của họ đối với công
việc.
Các doanh nghiệp nhà nớc đợc tiến hành cổ phần hoá thì vốn chủ sở hữu
doanh nghiệp nhà nớc đợc bán cho nhiều đối tợng khác nhau nh các tổ chức
kinh tế xã hội, các cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp đã tạo cơ chế nhiều ng-
ời cùng lo. Nhà nớc có thể giữ lại một tỷ lệ cổ phần hoặc không. Nh vậy hình
thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu nhà nớc duy nhất sang sở hữu
hỗn hợp. Từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức quản
lý cũng nh phơng hớng hoạt động cuả công ty. Doanh nghiệp nhà nớc sau cổ
phần hoá sẽ tổ chức hoạt động theo luật doanh nghiệp.
Có thể khái quát về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là một biện pháp
chuyển đổi hình thức sở hữu trong doanh nghiệp từ sở hữu nhà nớc sang sở hữu
của các cổ đông (trong đó nhà nớc có thể tham gia với t cách cổ đông hoặc
không tham gia). Đi đôi với việc chuyển đổi sở hữu là việc chuyển đổi doanh
- 7 -
nghiệp nhà nớc sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, đợc điều chỉnh
động, cộng thêm với trình độ của đội ngũ quản lý doanh nghiệp có nhiều yếu
kém, nên doanh nghiệp nhà nớc hoạt động kém hiệu quả không đảm bảo đợc
các mục tiêu nhà nớc đặt ra đối với doanh nghiệp nhà nớc khi thành lập.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng kém hiệu quả của doanh nghiệp
nhà nớc là:
-Do ảnh hởng của cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong điều kiện chiến tranh
kéo dài. Trong cơ chế đó coi kinh tế quốc doanh dựa trên chế độ sở hữu toàn
dân, xem nhẹ quy luật kinh tế khách quan của thị trờng nên hạch toán doanh
nghiệp mang tính hình thức, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quan liêu, nóng vội chủ
quan duy ý chí. Ngay cả trong thời kỳ đổi mới thì thành phần kinh tế này vẫn
hoạt động cha hiệu quả, do cha đáp ứng đợc yêu cầu của thị trờng và thực tế,
thái độ lao động của doanh nghiệp nhà nớc còn mang tính ỷ lại, nên năng xuất
lao động không cao.
-Do sự yếu kém của đội ngũ công nhân, của cán bộ quản lý và trình độ
công nghệ. Sự yếu kém của lực lợng sản xuất còn thể hiện ở kết cấu hạ tầng
thấp kém của toàn bộ nền kinh tế cũng nh của mỗi doanh nghiệp. Công nghệ lạc
hậu dẫn tới hậu quả tất yếu là sản phẩm chất lợng kém, giá thành sản phẩm cao
không thể cạnh tranh trên thị trờng, vì thế doanh nghiệp cha có tích luỹ nội bộ.
-Trình độ quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế và doanh nghiệp còn nhiều yếu
kém. Hệ thống chính sách pháp luật quản lý cha hoàn chỉnh đồng bộ khi còn
chồng chéo mâu thuẫn, hiệu lực thực hiện thấp gây khó khăn cho doanh
nghiệp . Pháp luật còn nhiều kẽ hở chồng chéo không ổn định sự kém linh hoạt
của bộ phận quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thanh tra. Nên nhà nớc không
nắm đợc thực trạng tài chính hiệu quả của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà
nớc cha xác định rõ quyền lợi trách nhiệm của ngời lao động, cho nên ngời lao
động không có trách nhiệm, không quan tâm đến quản lý sử dụng tài sản doanh
nghiệp, tình trạng tham nhũng tiêu cực trong doanh nghiệp trở nên phổ biến. Cụ
thể:
- 9 -
Chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đã đợc đề ra từ lâu nhng
đến nay mới đợc quan tâm hợp lý, nhà nớc đã đề ra nhiều giải pháp để tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình cổ phần hoá nh nghị định 44/1998/NĐ-CP, nghị
định 64/2002/NĐ-CP, bao gồm một số nội dung cơ bản về cổ phần hoá nh sau:
Về mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc: La nhằm góp phần
quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại hình
doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo ngời lao động; tạo
động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng
có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nớc và của doanh nghiệp. Huy động vốn của
toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội trong và
ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp. Phát huy vai
trò làm chủ thực sự của ngời lao động, của các cổ đông, tăng cờng sự giám sát
của nhà đầu t đối với doanh nghiệp; đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nớc, doanh
nghiệp, nhà đầu t và ngời lao động.
Về đối tợng doanh nghiệp cổ phần hoá: có đủ điều kiện hạch toán độc
lập, không gây khó khăn hay ảnh hởng xấu đến sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và các bộ phận còn lại.
Hình thức cổ phần hoá: Giữ nguyên vốn nhà nớc hiện có tại doanh
nghiệp, phát hành cổ phần thu hút thêm vốn đầu t. Bán một phần vốn nhà nớc
hiện có tại doanh nghiệp. Bán toàn bộ vốn nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp.
Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phần thu hút thêm
vốn.
Phơng thức bán cổ phần: Cổ phần đợc bán công khai tại doanh nghiệp
nhà nớc cổ phần hoá, hoặc tại các tổ chức tài chính trung gian theo cơ cấu cổ
phần lần đầu đã đợc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trong phơng án cổ phần
hoá và sẽ đợc thực hiện theo phơng thức bán đấu giá. Doanh nghiệp nhà nớc cổ
phần hoá có tình hình tài chính phù hợp với điều kiện niêm yết trên thị trờng
chứng khoán, thì phơng án bán cổ phần ra bên ngoài phải đảm bảo các điều
kiện để đợc niêm yết trên thị trờng chứng khoán, sau khi chuyển thành công ty
- 11 -
- 12 -
1.2.2. Qui trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
Về quy trình cổ phần hoá thì nhà nớc đã có hớng dẫn cụ thể trong nghị
định 64/2002/NĐ-CP đồng thời phải tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện
hành của nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Việc cho phép thành lập công ty cổ phần phải do cơ quan có thẩm quyền
thành lập doanh nghiệp nhà nớc đó đồng ý và đợc sự đồng ý của cơ quan chủ
quản và ban chỉ đạo cổ phần hoá cho phép tiến hành cổ phần hoá. Sau khi hoàn
thành các thủ tục trên thì doanh nghiệp có quyết định cổ phần hoá sẽ phải tiến
hành định giá doanh nghiệp, tiến hành kiểm toán để xác định tình hình tài chính
của doanh nghiệp rồi mới làm đơn xin phép thành lập công ty cổ phần.
Thứ nhất các sáng lập viên phải gửi đơn xin phép thành lập đến uỷ ban
nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ơng hoặc đơn vị hành chính tơng đơng
nơi dự định đặt trụ sở chính. Trong đơn thành lập công ty phải kèm theo phơng
án kinh doanh ban đầu và dự thảo điều lệ công ty. Sau khi đợc chấp nhận thì
công ty phải đăng ký kinh doanh bao gồm giấy phép thành lập, điều lệ công ty
và giấy tờ chứng thực trụ sở giao dịch của công ty. Việc tiến hành đăng ký kinh
doanh phải đợc tiến hành trong một năm.
Ngoài ra còn phải đảm bảo một số quy định sau: các sáng lập viên phải
cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% số cổ phiếu dự tính phát hành của công ty.
Trong trờng hợp các sáng lập viên không đăng ký mua tất cả cổ phiếu của công
ty thì họ phải công khai kêu gọi vốn từ những ngời khác.
Các sáng lập viên phải gửi tất cả số tiền đã góp của ngời đăng ký mua cổ
phiếu vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng trong nớc kèm theo danh sách
những ngời đăng ký mua số cổ phiếu và số tiền mỗi ngời đã góp. Số tiền gửi chỉ
đợc lấy ra khi công ty đã đợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc sau
một năm kể từ ngày cấp giấy phép thành lập công ty không thành lập đợc
Các sáng lập viên triệu tập đại hội đồng thành lập để thông qua điều lệ
công ty và các thủ tục cần thiết khác.
- 14 -
vụ viện và Nhà nớc Trung Quốc phê chuẩn văn kiện "Các biện pháp thí điểm cổ
phần xí nghiệp" và "ý kiến quy phạm công ty hữu hạn cổ phần".
Các biện pháp cổ phần hoá đợc quy định bao gồm :
- Bán một phần giá trị doanh nghiệp cho các cá nhân, tổ chức ngoài
doanh nghiệp thông qua bán cổ phiếu và cải biến doanh nghiệp nhà nớc thành
công ty cổ phần trong đó Nhà nớc nắm cổ phần khống chế. Đây là loại doanh
nghiệp nhà nớc cổ phần.
- Bán phần lớn giá trị tài sản của doanh nghiệp nhà nớc thông qua bán cổ
phiếu cho mọi đối tợng, trong đó Nhà nớc là một cổ đông song không nắm cổ
phần khống chế. Đây là loại Công ty cổ phần thuần tuý.
- Bán toàn bộ doanh nghiệp nhà nớc cho t nhân để hình thành các công ty
t nhân hoặc các công ty cổ phần. Đây có thể coi là biện pháp t nhân hoá hoàn
toàn.
- Giữ nguyên vốn Nhà nớc và gọi thêm vốn của các cổ đông khác để
chuyển thành công ty cổ phần.
- Nhà nớc góp vốn với t nhân để hình thành công ty cổ phần mới.
Theo con số thống kê cuối năm 1992, Trung Quốc có khoảng 3.700 xí
nghiệp cổ phần hoá trong đó 750 xí nghiệp nguyên là quốc doanh đợc chuyển
đổi. Đến cuối năm 1993 số xí nghiệp cổ phần hoá trong cả nớc trong năm lên
tới 2.540 xí nghiệp, trong đó có 218 doanh nghiệp niêm yết trên thị trờng chứng
khoán.
Tỷ trọng doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế giảm từ 80,7% (năm
1978) xuống còn 57% (năm 1994). Tuy nhiên con số doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ vẫn lớn chiếm tới 49,5% (kim ngạch thua lỗ 34,4 tỷ NDT). Một thực trạng
đối với xí nghiệp cổ phần do Nhà nớc nắm cổ phần khống chế vẫn không thay
đổi đợc cơ chế quản lý (ban lãnh đạo cũ), hoạt động kinh doanh theo lối cũ làm
cho xí nghiệp cha thể vận hành theo nguyên tắc thị trờng).
Trong bản báo cáo về "Vấn đề bảo đảm quyền lợi và lợi ích của cổ phần
liên doanh với t nhân, nớc ngoài, hoặc giải thể phá sản.
- 16 -
Nhiều biện pháp mới liên quan đến cổ phần hoá đợc áp dụng nh thành
lập Công ty quản lý doanh nghiệp trung ơng và biến các công ty cổ phần hoá
thành công ty con của Công ty quản lý; tách hoạt động quan trọng ra khỏi
doanh nghiệp nhà nớc và chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần; đẩy
mạnh thu hút vốn nớc ngoài vào các xí nghiệp cổ phần hoá...
Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc đã cổ phần hoá và thành lập mới đ-
ợc khoảng 9.200 Công ty cổ phần với tổng vốn đăng ký khoảng 600 tỷ NDT,
trong đó cổ phần nhà nớc chiếm 43%.
Nh vậy sau gần 20 năm thực hiện cải cách mở cửa và cải cách thể chế
kinh tế (trong đó có cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là hớng đi chính của cải
cách chế độ sở hữu), Trung Quốc đã thu đợc nhiều thắng lợi, tuy cũng có những
vấp váp, thất bại, nhng nhìn chung con đờng cải cách của Trung Quốc là đúng
đắn và đợc sự ủng hộ của nhân dân.
Bài học kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hoá ở Trung Quốc:
- Xây dựng và quán triệt một quan niệm, một mục tiêu đúng đắn về cổ
phần hoá, phù hợp với bản chất của chế độ xã hội : Chuyển doanh nghiệp nhà n-
ớc thành công ty cổ phần là để thu hút vốn từ bên ngoài vào, chứ không bán
toàn bộ tài sản Nhà nớc.
- Hình thức cổ phần hoá áp dụng chủ yếu đối với các doanh nghiệp vừa
và lớn, có khả năng phát triển.
- áp dụng tỷ lệ bán cổ phần đa dạng. Chẳng hạn nh ở Thẩm Quyến, cổ
đông t nhân chiếm tới 12%, ở Thợng Hải chỉ có 8,5% trong đó t nhân ở nớc
ngoài chiếm tới 41%.
- Cổ phần hoá muốn phát triển và mở rộng phải có sự gắn kết với thị tr-
ờng chứng khoán. Đặc biệt, Trung Quốc đã xoá bỏ sự phân biệt giữ cổ phiếu
Nhà nớc (cổ phiếu A) và cổ phiếu của các cá nhân, pháp nhân (cổ phiếu B) gọi
chung là cổ phiếu đầu t, tạo một sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu t.
nhà nớc chỉ chiếm 25% tổng số vốn của công ty cổ phần, vốn của các đối tợng
khác chiếm 75%, nhng lại là nguồn vốn phân tán, do dó phần sở hữu của nhà n-
- 18 -
ớc trong các công ty vẫn giữ vai trò trọng yếu, chi phối hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty.
Bài học kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hoá ở thành phố Hồ Chí
Minh:
Từ thực tế cổ phần hoá của cả nớc mà điển hình là thành phố Hồ Chí
Minh cho thấy việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nớc sang hình thức
công ty cổ phần chẳng những giúp nhà nớc bảo tồn nguồn vốn của mình mà còn
tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận trên nguồn vốn trớc đây, nhà nớc cũng thu hồi
vồn để đầu t cho các doanh nghiệp khác. Vai trò của ngời lao động trong doanh
nghiệp cổ phần hoá cũng có sự đổi khác họ vừa làm việc cho công ty cổ phần
vừa là chủ sở hữu công ty trên cơ sở đồng vốn của mình. Vì thế ý thức và tinh
thần trách nhiệm đợc nâng cao hơn trớc. Hoạt động của các doanh nghiệp sau
cổ phần hoá nhạy bén năng động tự chủ hơn trớc. Nhờ đó mà chất lợng hiệu quả
công việc cũng cao hơn trớc, các khoản đóng góp vào ngân sách nhà nớc cũng
tăng lên.
Cổ phần hoá đã đem lại lợi ích cho cả nhà nớc, ngời lao động và cổ đông
của doanh nghiệp. Từ thực tế đó đã chứng minh rằng chủ trơng của Đảng và nhà
nớc ta về cổ phần hoá là hoàn toàn đúng đắn.
- 19 -