MỤC LỤC
Nguồn: Tăng trưởng và phát triển, />trien/40230853/157/ 29
Phát triển bền vững ( Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) 29
Phát triển đô thị bền vững ( />ben-vung.html) 29
Huy Lê, “Tuổi thọ trung bình con người sẽ vượt qua 100 tuổi”, Viện Khoa học Nghiên cứu
Nhân tài Nhân lực, 18/10/2009 29
Con người và thiên nhiên, http:// www.thiennhien.net/news/142/ARTICLE/8700/2009-06-
01.html 29
David C. Korten, People- Centered Development Forum, http:// www.pcdf.
Org/about.html 29
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với những rủi ro chung
mang tính chất toàn cầu như: biến đổi khí hậu, hạn hán, bão lụt, động đất, cháy
rừng, hiện tượng băng tan, ô nhiễm môi trường. Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống của người dân trên toàn thế giới. Đó là chưa kể đến những
tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Việt Nam cũng là một
trong những nước bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Trước thực trạng trên, việc
hình thành một môi trường sống an toàn, khả năng chống chịu rủi ro của thiên tai và
phát triển bền vững theo thời gian là một xu hướng tất yếu của các đô thị trên toàn
thế giới. Mặc dù đô thị ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong xã hội văn minh,
nhưng sự hiểu biết của con người về đô thị và đô thị hóa vẫ còn ít ỏi. Và trong bối
cảnh đó, vấn đề phát triển đô thị bền vững vẫn còn nằm ở phía trước, đặt ra những
vấn đề cần giải quyết với thế giới quan khoa học.
2
I. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG
1. Phát triển:
Trong triết học Mác- Lênin, “Phát triển” được hiểu là khuynh hướng chung
của quá trình vận động của sự vật. Phát triển chính là sự vận động tiến lên từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay
thế cái lạc hậu.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và kinh tế mở cửa như hiện nay, khi đang
tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều
này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải
bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội -
môi trường.
Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi
trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi
một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong
việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là
Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại
Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như
các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết lại
kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách
liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng
sinh thái.
Ở Việt Nam, vào những năm 1960, chủ trương của Đảng ta về phát triển kinh
tế ở miền Bắc là: “Phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách phát triển ưu tiên công nghiệp nặng một cách hợp
lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách
mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật; biến nước ta thành một
nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hoá và
khoa học tiên tiến”. Thực chất đó là chủ trương phát triển bền vững về kinh tế và xã
hội.
Ngày nay, vấn đề phát triển bền vững được đặt ra cấp bách hơn do các mâu
thuẫn nảy sinh trong qua trình phát triển ngày càng sâu sắc và trầm trọng. Luận
4
thuyết phát triển bền vững đi từ nhận định rằng loài người không tôn trọng, không
bảo toàn môi trường môi sinh. Thiên nhiên bị hư hại, hệ sinh thái mất cân bằng, di
sản môi trường-môi sinh suy thoái khiến loài người bị đe dọa, tình trạng đói nghèo
trên thế giới nghiêm trọng, chênh lệch giầu nghèo giữa các nước gia tăng. Tài
dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự
thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận
cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm
phạm những quyền cơ bản của con người.
• Về môi trường, phát triển bền vững có nghĩa phải bảo vệ khả năng tái sinh
của hệ sinh thái, nhịp độ gia tăng sử dụng tài nguyên có khả năng tái sinh phải thấp
hơn tốc độ tái sinh, việc sử dụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải tùy
thuộc khả năng sáng chế tư liệu thay thế. Sau cùng, mức độ ô nhiễm phải thấp hơn
khả năng tái tạo của môi trường, môi sinh. Yêu cầu bền vững về môi trường-môi
sinh buộc phải giới hạn sự tăng trưởng kinh tế. Cần phải thừa nhận rằng kinh tế chỉ
là một bộ phận của hệ sinh thái và phát triễn kinh tế phải bảo vệ môi trường-môi
sinh.
• Về chính trị, phát triển bền vững có nghĩa hết hợp và dung hòa các vấn đề
xã hội, kinh tế và môi trường để hệ thống tổ chức và sinh hoạt chính trị không có
căng thẳng, xáo trộn, có thể đi tới rối loạn hoặc đổ vỡ. Các định chế chính trị cần
phải phải tôn trọng và bảo vệ công bằng, khuyến khích các đối tượng thụ hưởng đối
thoại và tham gia trong tinh thần phù hợp với các nguyên tắc dân chủ tự do. Tính
quan liêu và bàn giấy phải được xóa bỏ vì nó trói buộc con người, đè nén xã hội,
cản trở mọi sự đổi thay, tiến bộ. Tôn trọng đạo lý cũng là một yêu cầu rất cần, gần
như một bắt buộc.
Phát triển bền vững trong thực tế là một dự án rất lớn rộng có những định đề
và cần một số điều kiện. Từ lý luận phát triển bền vững và những nguyên tắc định
hướng trên, để kinh tế-xã hội phát triển một cách bền vững cần có một số điều kiện.
Những điều kiện này nhiều khi không trùng hợp với nhau và cần phải dung hòa để
tìm sự cân bằng và hợp lý:
(1) Dân chủ : Tinh thần và các nguyên tắc dân chủ không phải là điều kiện
tiên quyết hoặc không có không được, tuy nhiên, khái niệm PTBV không thể phổ
biến và lưu truyền rộng rãi, rồi đem ra áp dụng nếu thiếu tinh thần dân chủ, nếu
không tôn trọng các nguyên tắc sinh hoạt dân chủ. Chẳng hạn làm sao bảo đảm
6
biệt trên thế giới về điều kiện khách quan, phương tiện hành động, năng lực phát
7
triển, yêu cầu sản xuất và tiêu dùng, v.v. đòi hỏi phải dung hòa các mục tiêu chung
và toàn cầu với quyền lợi dân tộc của mỗi quốc gia. Phát triển bền vững đòi hỏi
phải thiết lập những quan hệ đối tác thực tiễn và hợp lý để song song tiến hành
chiến lược chung về phát triển bền vững và thực hiện các kế hoạch quốc gia.
(5) Tinh thần trách nhiệm và gánh chịu : Dự án phát triển bền vững là
một công cuộc phức tạp, không đặt ra khuôn khổ và những quy tắc mẫu mực rõ rệt
có tính bắt buộc. Chính sách và chương trình phát triển bền vững chờ đợi các đối
tượng thụ hưởng thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật tự giác, khả năng gánh
chịu hậu quả nếu xẩy ra. Vì sự liên hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường và ảnh
hưởng của nó lên tất cả các khía cạnh của cuộc sống, phát triển bền vững còn đòi
hỏi hành động phải có cân nhắc và cẩn trọng với mục đích chính là để tránh gây cho
môi trường-môi sinh những hậu quả không đảo ngược được. Phát triển bền vững
còn một điều kiện nữa là khả năng kiểm tra kết quả hoạt động và phương tiện phòng
ngừa và sửa chữa tai biến.
(6) Giáo dục, huấn luyện và thông tin : Dự án phát triển bền vững, các
chương trình bảo vệ môi trường-môi sinh không thể tiến hành, có hiệu lực và có kết
quả nếu quần chúng không nhận thức đúng mức về yêu cầu phát triển kinh tế-xã
hội, không ý thức được tầm quan trọng của các vần đề và thử thách thời đại và
không chấp nhận những bắt buộc hoặc điều kiện của phát triển bền vững. Giáo dục,
huấn luyện và thông tin là những yếu tố không kém quan trọng so với các điều kiện
trước của phát triển bền vững.
Trái ngược với hiểu biết phổ biến, phát triển bền vững không chỉ đơn thuần
được hiểu là sự phát triển được duy trì một cách liên tục mà hơn thế, phát triển ở
đây là sự nỗ lực liên tục nhằm đạt được trạng thái bền vững trên mọi lĩnh vực. Phát
triển bền vững không được coi là một mục tiêu được đặt ra để đạt được mà đó là
một quá trình duy trì sự cân bằng cơ học, đòi hỏi tính công bằng, sự phồn vinh, chất
lượng cuộc sống và tính bền vững của môi trường tự nhiên. Như vậy, nội dung phát
triển bền vững nhấn mạnh việc giải quyết các mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và
khái niệm khác nhau về phát triển đô thị bền vững.
Các nhà sinh thái đưa ra các tiêu chuẩn để phát triển đô thị bền vững như
sau:
9
- Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu và mặt
bằng;
- Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên;
- Tránh xây dựng thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ
lở;
- Bảo vệ và phát triển cây xanh đô thị;
- Khuyến khích tiết kiệm nước;
- Hạn chế sử dụng phương tiện di chuyển có động cơ;
- Tái sinh vật liệu phế thải.
Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính. Theo họ, phát triển
đô thị bền vững có 4 tiêu chí:
- Đảm bảo và phát triển khả năng cạnh tranh của thành phố;
- Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn;
- Nền tài chính lành mạnh ( nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn
lực );
- Quản lý đô thị tốt.
Các nhà nghiên cứu và quản lý chú trọng đến đường lối:
- Lấy chỉ tiêu HDI để đánh giá đô thị chứ không dựa vào quy mô dân số ,
kinh tế hay xây dựng như trước đây;
- Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị;
- Sự phối hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý.
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiên nêu ra những kinh nghiệm xây dựng đô
thị theo yêu cầu phát triển bền vững dựa trên kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang
Đức như sau:
- Đánh giá đô thị dựa trên chỉ tiêu chất lượng cuộc sống;
- Phát triển đô thị gắn chặt với phân vùng;
1990 (Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố vào tháng 5 năm 2009, Nguồn:
Con người và thiên nhiên, http://
www.thiennhien.net/news/142/ARTICLE/8700/2009-06-01.html).
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm.
- Tỷ lệ dân cư được dung nước sạch tăng.
11
- Tỷ lệ nạn mù chữ cho người lớn giảm.
Dù có những kết quả trên, nhưng phát triển đô thị lấy kinh tế làm trọng tâm
thì chỉ chú ý đến những yêu cầu xã hội phục vụ cho tăng trưởng, sẽ làm cho đô thị
phát triển không cân bằng, có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng như môi
trường bị ô nhiễm, vùng ven đô bị tàn phá, giao thông hỗn độn, tội phạm gia tăng…
Những vấn đề trên thường được gọi là “khủng hoảng đô thị”. Cuộc “khủng hoảng
đô thị” bắt con người phải thay đổi quan điểm và chiến lược về phát triển đô thị.
Quan điểm phát triển đô thị có mục tiêu là phát triển con người, là phát triển xã hội
đô thị dần dần chiếm ưu thế, song song với nó là sự phát triển của khái niệm phát
triển đô thị bền vững.
Tuy cùng xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững, nhiều nhà khoa học,
nhiều nhà quản lý dưới sự chi phối của lĩnh vực hoạt động của mình, đã đưa ra
nhiều quan điểm khác nhau về phát triển đô thị bền vững. Nhà sinh thái học nhấn
mạnh đến việc bảo vệ môi trường, các nhà tài chính nói đến sự lành mạnh, trong
sáng của tài chính đô thị, các nhà quản lý chú trọng đến sự phối hợp cùng phát triển
đồng bộ giữa các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và quản lý. Dù xuất phát từ nhiều
góc độ khác nhau, nhưng tất cả đều chung một quan điểm về mục tiêu con người, là
phát triển vì chất lượng sống của con người, để con người sống xứng đáng với cuộc
sống vô cùng quý báu của chính họ và cũng đảm bảo cho chất lượng sống của thế
hệ tương lai.
Với quan điểm phát triển đô thị bền vững này, con người thị dân, không
những là mục tiêu cho phát triển mà còn là động lực phát triển, hoàn thiện mối quan
hệ giữa cá nhân, xã hội với tự nhiên.
Tổng hợp kết quả thảo luận của nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội
tính đồng bộ trong quá trình xây dựng phát triển cũng như cải tạo chỉnh trang đô thị
(Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân).
Tất nhiên, quy hoạch được nói đến ở đây phải là quy hoạch bền vững. Một
quy hoạch mà theo như ông Chu Tiểu Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quy
hoạch miền Tây Trung Quốc mô tả: “Quy hoạch bền vững phải là quy hoạch đúng
mức bao gồm tiêu dùng đúng mức, sử dụng nguồn tài nguyên đúng mức, khai thác
sử dụng cảnh quan thiên nhiên đi đôi với bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, điều chỉnh
quy mô dân số và mật độ dân số thích hợp”.
13
Ngoài ra, quy hoạch phải không lãng phí tài nguyên đất và các tài nguyên
khác của thành phố, xây dựng hệ thống giao thông tiết kiệm, lấy giao thông công
cộng là chính, nâng cao hệ số sử dụng đất.
Quy hoạch cũng phải duy trì sự cân bằng trong hệ sinh thái, đảm bảo các
hoạt động sản xuất và sinh hoạt của đô thị trong giới hạn phạm vi dung lượng cho
phép của môi trường, không để ô nhiễm rồi mới xử lý. Quy hoạch theo hướng lâu
dài phải có không gian dự trữ cho phát triển đô thị sau này, hạn chế khai thác các
nguồn tài nguyên không thể tái sinh.
Riêng quy hoạch thiết kế đô thị phải tính tới địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh
vật của khu vực quy hoạch. Còn quy hoạch vùng là để xây dựng mối quan hệ hợp
tác giữa các đô thị trong vùng, để mỗi địa phương có thể phát huy thế mạnh của
mình, không xây dựng chồng chéo.
• Xác định tầm quan trọng của phát triển nông thôn, ngoại thành.
Nông thôn nói chung và ngoại thành nói riêng là vành đai chịu ảnh hưởng
trực tiếp của nội thành và là diện tích đất dự trữ để mở rộng và phát triển của nội
thành. Các vị trí để phát triển đô thị mới là vùng nông thôn, ngoại thành còn trống
vắng đô thị.
Nông thông, ngoại thành là vành đai xanh, bảo vệ môi trường và cân bằng
sinh thái. Phát triển nông thôn ngoại thành góp phần làm giảm áp lực dân só cho đô
thị trung tâm.
Cần nhận thức và có giải pháp đúng đắn để người nông dân rời khỏi hoạt
nhiên; 7. Đảm bảo tốt an ninh xã hội; 8. Tăng cường tài chính cho đô thị hóa.
• Xây dựng mô hình quản lý hiện đại.
Ngày 22-2, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số
222/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Thành phố Hà Nội
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Để thực hiện các mục tiêu phát triển, giải pháp đầu tiên được xác định trong
Chiến lược là đổi mới mô hình quản lý đô thị gắn với hoàn thiện thể chế. Đặc biệt là
đổi mới mô hình tổ chức bộ máy chính quyền theo hướng tinh gọn, hiện đại, hiệu
lực, hiệu quả, chuyển chức năng từ tập trung quản lý sang cung cấp dịch vụ; từng
bước áp dụng mô hình chính quyền đô thị. Đồng thời xây dựng chính quyền điện tử
đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế tri thức và phù hợp với tiến trình xây dựng chính
phủ điện tử của cả nước. Trước mắt, xây dựng và thực hiện các chương trình mục
15
tiêu như phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, quy hoạch cán bộ, đào tạo nhân
tài lãnh đạo - quản lý, doanh nhân, chuyên gia trình độ cao và đội ngũ cán bộ công
chức, viên chức chuyên nghiệp… Chiến lược cũng xác định cần hình thành được
thể chế phát triển thích hợp, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và thể chế xã hội phát triển trên cơ sở kết hợp pháp trị và đức trị.
• Không ngừng đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao trình độ cán bộ.
Bộ máy quản lý Nhà nước đối với đô thị là một bộ phận cấu thành nên bộ
máy Nhà nước, bao gồm hệ thống UBND các Thành phố, quận, phường, xã, thị trấn
và các cơ quan chức năng có nhiệm vụ quản lý tất cả các lĩnh vực của đô thị. Đô thị
ngày càng phát triển, vai trò của bộ máy quản lý Nhà nước không ngừng được nâng
cao. Vì vậy, việc tổ chức bộ máy một cách khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ quản lý các cấp chính quyền là công tác cần được tiến hành bài bản và
thường xuyên. Thực trạng bộ máy quản lý của Việt Nam hiện nay tổ chức chưa
khoa học, hiệu quả chưa cao, cán bộ chưa được đào tạo bài bản.
• Hướng tới xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ bền vững.
Công tác quản lý cần trả lời các câu hỏi cho từng đô thị của cả hệ thống như:
sự phát triển đô thị của ta hiện tại đã bền vững chưa, lĩnh vực nào, ngành nào
- Phát triển ổn định, bền vững, và trường tồn; trên nguyên tắc tổ chức hợp
lý môi sinh và bảo vệ môi trường.
- Kết hợp cải tạo với xây dụng mới; coi trọng giữ gìn bản sắc văn hóa và
truyền thống dân tộc với việc áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới để tiến
lên hiện đại.
- Phát triển đô thị gắn với củng cố an nình quốc phòng và an toàn xã hội.
- Huy động mọi nguồn vốn để cải tạo và xây dựng đô thị nhưng phải coi trọng
việc giữ gìn trật tự kỷ cương, tăng cường kiểm soát sự phát triển đô thị theo đúng quy
hoạch và pháp luật.
Từ 7 nguyên tắc phát triển đô thị bền vững đã được đặt ra, cùng với mục tiêu
và Quyết định của Chính phủ nêu trên, ta cụ thể hoá thành các nguyên tắc như sau:
(1) Lấy con người làm trung tâm của sự phát triển
Phát triển nào mà không phải vì con người, huống hồ là phát triển đô thị.
Nhưng trong thời phong kiến người ta xây cả một thành phố, một cung điện vì một
ông vua, một mỹ nữ, và ngày nay điều đó không phải là đã hết. Việc phát triển hẳn
cả một thành phố, một khu công nghiệp đôi khi chỉ vì một ý đồ chính trị của một
17
nhóm người cần chứng minh một điều gì đó. Việc mở một con đường hay nắn lại cả
một khu phố vì nơi đó có nhà mình, anh em bà con là chuyện không lạ.
Ở đất nước chúng ta, có nhiều vị lãnh đạo muốn để lại dấu ấn lịch sử đã ra
những quyết định phát triển hết sức lạ lùng và có phần bất thường. Thêm vào đó
nữa là những ápphe, những khoản tiền ma quỉ có thể làm xuất hiện những công
trình tai hại cho người dân mà hậu quả và tai tiếng xấu của nó còn hành hạ các thế
hệ mai sau. Những hiện tượng tham nhũng trong các dự án phát triển, các công trình
xây dựng nhà ở, các công trình kỹ thuật ở TP.HCM rõ ràng cho thấy nhiều quan
chức quan tâm đến phát triển cho chính họ hơn là cho cộng đồng.
(2) Cân bằng giữa mục tiêu phát triển kinh tế và môi trường tự nhiên
Mỗi thành phố hiện đại và hoành tráng ở nơi này chính là kết quả của sự tước
đoạt tài nguyên ở nơi khác mang đến, có khi là ở các quốc gia khác. Sau khi sử
dụng hết công năng và lấy đi hết giá trị sử dụng cần thiết từ gỗ, dầu mỏ, than đá ,
khơi. Điện thoại làm cho thông tin nhanh hơn nhưng quan hệ của con người lại lỏng
lẻo hơn.
Công nghệ thực phẩm tạo ra các loại thức ăn nhanh giúp chúng ta tiết kiệm
thời gian nhưng bữa cơm gia đình dường như biến mất. Computer làm cho thế giới
nhỏ lại nhưng cũng chính nó khiến cuộc sống tẻ nhạt hơn. Mặt trái của công nghệ -
kỹ thuật hiện đại ngày càng bộc lộ làm cho chúng ta phải suy nghĩ và thận trọng
hơn trong việc sáng tạo và sử dụng nó trong cuộc sống.
(5) Đảm bảo phát triển đa văn hóa và đời sống đạo đức, tinh thần của
các nhóm người khác biệt nhau
Hầu như tất cả các thành phố lớn đều mang màu sắc của đa văn hóa. Đây là
điểm được coi là quan trọng nhất và cũng là đặc điểm lớn nhất của đô thị hiện đại,
đặc biệt có ý nghĩa trong thời đại toàn cầu hóa. Bất cứ một thành phố nào cũng có
sự đa dạng và khác biệt về tôn giáo, dân tộc, quan điểm chính trị, phong tục tập
quán, thói quen văn hóa. Nếu người cầm quyền không đảm bảo được quyền phát
triển đa văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra xung đột. Cuộc nổi dậy của người nhập cư ở
Pháp kéo dài ba tuần tháng 1-2005 với 9.000 xe hơi bị đốt là một ví dụ điển hình
cho trường hợp này.
19
(6) Đảm bảo an ninh, hòa bình, trật tự và ổn định xã hội
Một thành phố giàu có, đầy ắp hàng hóa, đầy đủ tiện nghi nhưng con người
sống trong nó luôn cảm thấy bất an, tính mạng bị đe dọa, rủi ro cao, cuộc sống bấp
bênh thì đó không thể gọi là thành phố phát triển bền vững dưới bất kỳ khía cạnh
nào. Thành phố bền vững phải có trật tự kỷ cương xã hội, tinh thần thượng tôn pháp
luật được đề cao.
(7) Đảm bảo sự tham gia dân chủ của người dân trong tiến trình phát
triển đô thị
Một thành phố muốn phát triển bền vững thì phải được người dân ủng hộ và
chung tay đóng góp ở các lĩnh vực và cấp độ khác nhau. Công cuộc phát triển đô thị
phải có sự đóng góp và chia sẻ của tất cả mọi người từ vị thị trưởng đến người đạp
xích lô, người bán hàng rong. Để việc “đồng tham gia” thành công phải có cơ chế rõ
Việc qui hoạch và thiết kế đô thị sai lầm đã làm cho TP.HCM ngập nước
không chỉ vào mùa mưa mà cả vào mùa khô. Việc không tập trung phát triển giao
thông cách đây hơn 15 năm đã để lại hậu quả nghiêm trọng là các công sở, trường
học không muốn ra bên ngoài khiến cho mật độ trong khu vực trung tâm thành phố
ngày càng cao, phát triển kiểu nhà ống dọc theo trục đường khiến tai nạn giao thông
ngày càng trở nên khủng khiếp.
(11) Phát triển cân đối đô thị - nông thôn
Năm 2006 ở Trung Quốc được gọi là năm “phát triển nông thôn”, suy cho
cùng bài toán phát triển bền vững ở đô thị lại có nguồn gốc từ nông thôn. Sự phát
triển mạnh mẽ ở nông thôn không chỉ hỗ trợ cho đô thị phát triển như cung cấp
lương thực thực phẩm, tiêu thụ sản phẩm công nghiệp do đô thị tạo ra, mà còn làm
giảm áp lực lên đô thị.
Một khi nông thôn phát triển mạnh thì người nhập cư về thành phố giảm, lực
lượng lao động thanh niên sẽ ở lại nông thôn, sự cân bằng trong phát triển giữa hai
khu vực là bài toán rất quan trọng cho sự phát triển bền vững. Chính phủ Việt Nam
đang cố gắng phát triển “điện, đường, trường, trạm, chợ” ở các vùng sâu, vùng xa
nhưng hiệu quả còn hạn chế do nhiều lý do khác nhau.
21
III. PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Đánh giá tình hình phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam hiện nay
Trong vòng 15 năm qua, với nỗ lực hoạt động của toàn xã hội, đô thị Việt
Nam đã có sự phát triển không ngừng và đạt nhiều thành tựu đáng kinh ngạc.
Hệ thống đô thị quốc gia đã có sự chuyển biến tích cực cả về lượng cũng như
về chất. Mạng lưới đô thị quốc gia đã và đang được phát triển, mở rộng từ 629 đô
thị (năm 1999), đến nay, cả nước có 755 đô thị, trong đó có hai đô thị loại đặc biệt
là Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 30,5%, tăng bình
quân khoảng 3,4%/năm. Theo tổng điều tra dân số tháng 4/2009, cả nước có 85,8
triệu người, trong đó có 25,4 triệu dân đô thị, chiếm 29,6% dân số cả nước. Đến
tháng 8/2011, dân số đô thị tăng lên hơn 38 triệu người,chiếm hơn 43% dân số cả
nước, trong đó dân số nội thị là hơn 27 triệu người, chiếm hơn 31%.
nên bộ khung cơ bản để các đô thị phát triển. Về cấp nước sạch, thời điểm năm
1999 Việt Nam vẫn còn hơn 70% dân đô thị sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh,
đến nay bình quân trên cả nước 73% dân cư đô thị đã được cấp nước sạch. Chất
lượng phục của giao thông công cộng tại các đô thị, các vùng và trên cả nước ngày
càng tốt hơn. Hiện nay nhiều địa phương đang tập trung nguồn vốn ODA để đầu tư
xây dựng và phát triển giao thông công cộng đô thị như dự án đường sắt trên cao tại
Hà Nội, dự án tầu điện ngầm tại thành phố Hồ Chí Minh, các tuyến giao thông
huyết mạch, tuyến vành đai các đô thị lớn, cầu qua sông v.v. Vấn đề cải thiện điều
kiện môi trường đô thị cũng đã được chính quyền đô thị quan tâm. Một số đô thị đã
có nhà máy hoặc trạm xử lý nước thải được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động. Tỉ
lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt bình quân cả nước đạt khoảng 80%. Chúng ta đã
có 3 công nghệ trong nước xử lý chất thải rắn sinh hoạt đã được Bộ Xây dựng cấp
giấy chứng nhận: SERAPHINE, ANSINH-ASC, MBT-CD. Cấp điện và chiếu sáng
đô thị được cải thiện rõ rệt. 90% các tuyến đường trục chính cấp đô thị từ các đô thị
loại 3 trở lên được chiếu sáng. Dịch vụ cung cấp thông tin liên lạc phát triển nhanh
chóng phục vụ tích cực cho các yêu cầu đặt ra của sự phát triển kinh tế xã hội.
Trong 15 năm qua, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn phát triển xã hội,
Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng và các Bộ ngành đã và đang từng bước hoàn
thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực xây dựng và phát triển
đô thị, trong đó nhiều văn bản Luật lần đầu tiên đã được nghiên cứu, xây dựng và
ban hành như Luật Xây dựng năm 2003, Luật Nhà ở năm 2005, Luật Kinh doanh
bất động sản năm 2006 và đặc biệt là Luật Quy hoạch đô thị vừa được Quốc hội
thông qua tháng 6 năm 2009. Các văn bản Luật và hệ thống văn bản dưới Luật đã
thường xuyên được rà soát, điều chỉnh để từng bước đi vào cuộc sống, góp phần
23
quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thông thoáng, hướng tới sự phát
triển bền vững hệ thống đô thị Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu rất đáng khích lệ của công tác phát
triển đô thị trong những năm vừa qua, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận
nhiều vấn đề còn tồn tại.
thu nước bình quân vẫn cao 20– 30%, vừa gây thất thoát nguồn tài nguyên quan
trọng vừa giảm nguồn thu cho ngân sách.
24
KTS Phan Thị Mỹ Linh - Cục trưởng Cục phát triển đô thị - Bộ Xây dựng
đánh giá: “Nếu so sánh với GDP bình quân các khu vực đô thị của các nước Đông
Nam Á và châu Á thì tăng trưởng của đô thị Việt Nam còn thấp, kém cạnh tranh so
với các đô thị khu vực và thế giới”. Bà Linh chỉ ra rằng, hiện tượng ùn tắc, tai nạn
giao thông vẫn là mối lo ngại tại các đô thị lớn, tỷ lệ đất giao thông, tỷ lệ dân đô thị
được cấp nước còn thấp, thất thoát nước còn lớn, trong khi tình trạng ngập úng cục
bộ trong mùa mưa, ô nhiễm môi trường chậm được khắc phục…
Trong khi việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị còn nhiều vướng mắc thì
sự mọc lên “chóng mặt” các tòa cao ốc giữa nội đô, đã góp phần “đẩy” tình trạng
giao thông trên địa bàn thành phố vào tình trạng quá tải như hiện nay.Vào giờ cao
điểm như đầu buổi sáng, cuối buổi chiều, quan sát tại các điểm tiếp giáp giữa đường
giao thông và lối ra vào các tòa cao ốc, phương tiên giao thông luôn bị dồn nén cục
bộ. Ở Thành phố Hà Nội, chỉ khoảng 200m từ ngã tư Nguyễn Chí Thanh - Đê La
Thành đến ngã ba Nguyễn Chí Thanh - Huỳnh Thúc Kháng có đến 5 tòa cao ốc, tòa
cao nhất 31 tầng, tòa thấp nhất cũng đến 16 tầng. Trong đó, riêng tại tòa nhà 71
Nguyễn Chí Thanh - tòa nhà được coi là “khiêm tốn” về diện tích với chiều cao 26
tầng cũng đã có tới 200 căn hộ, đó là chưa kể đến một diện tích sàn lớn dùng cho
thuê văn phòng, trung tâm giao dịch… Những người dân sống quanh khu vực này
cho rằng, chính sự xuất hiện của các tòa cao ốc đã làm đảo lộn tình trạng giao thông
ở đây.
Tiến sĩ Khuất Việt Hùng, Viện trưởng Viện Quy hoạch và quản lý giao thông
vận tải cho rằng, tác động từ các toà cao ốc đối với giao thông là rất lớn, nhưng thực
tế này chưa được những nhà quy hoạch nhìn nhận đúng mức. Ông viện dẫn, trên thế
giới, với những công trình xây dựng từ 5.000 m
2
sàn trở lên đều có quy định đánh
giá về tác động giao thông. Vậy, những nhà quy hoạch của thành phố Hà Nội có