ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP
TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM.
1
MỤC LỤC
Phần 1: LỜI MỞ ĐẦU 2
Phần 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
Phần 3: NỘI DUNG ĐỀ TÀI 5
I. Khái quát hiện tượng “bẫy các nước thu nhập trung bình” 3
1. Các quan niệm về hiện tượng “bẫy các nước thu nhập trung bình” 5
2. Nguyên nhân tình trạng vướng vào “bẫy thu nhập trung bình” 6
3. Các giải pháp để thoát ra tình trạng “bẫy thu nhập trung bình” …………… 7
3.1 . Các giải pháp để thoát khỏi “bẫy thu nhập trung trung bình” dưới góc
nhìn của chuyên gia…………………………………………………… 7
3.2. Chính sách công nghiệp tiên phong…………………………………… 8
II. Bẫy thu nhập trung bình ở Malayxia và Thái Lan 9
III. Sức ép từ “bẫy thu nhập trung bình” đối với những nền kinh tế mới nổi…….12
IV. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất giải pháp 18
1. Khái quát kinh tế Việt Nam 18
2. Bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm của Hàn Quốc và Thái Lan 21
3. Đề xuất giải pháp……… ………………………………………………… 23
V. Kết luận………………………………………………………………………… 25
2
Phần I
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ trong những năm vừa qua và
đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện rõ nhất qua tăng trưởng nhanh gắn liền với giảm
tỷ lệ nghèo. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ đó, nhiều hạn chế được bộc lộ
như hiệu quả đầu tư thấp, hạ tầng kỹ thuật ngày càng bất cập so với mức độ và nhu cầu
phát triển kinh tế; nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường; hệ thống pháp
bạch; đẩy mạnh việc đa dạng hóa thị trường vốn; tự do hóa thương mại dịch vụ; mở rộng
các hệ thống giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từng bước
chuyển sang nền kinh tế tri thức. Điều này đòi hỏi cần phần nhìn nhận một cách toàn diện
hơn bản chất mô hình tăng trưởng ở nước ta, nhất là chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và
sức cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn vừa qua để có đối sách kịp thời. Trong bối
cảnh đó, việc tiến hành nghiên cứu, phân tích tác động của “bẫy thu nhập trung bình” ở
các nước đang phát triển, từ đó đề xuất các biện pháp cho Việt Nam tránh “bẫy thu nhập
trung bình”, cũng như chỉ ra những thách thức có thể nảy sinh đối với một nước thu
nhập trung bình là một nhiệm vụ mang tính cấp thiết và có ý nghĩa thực sự quan trọng.
Đó cũng chính là lý do nhóm tiến hành nghiên cứu, thực hiện đề tài :
“Phân tích hiện tượng “bẫy thu nhập trung bình” ở các nước đang phát triển &
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay.”
4
Phần 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lý thuyết cho chúng ta có được một cái nhìn tổng quan về các hiện tượng các quy
luật trong cuộc sống. Vì vậy cơ sở lí luận của một vấn đề nào đó là một phần rất quan
trọng trong quá trình đào sâu tìm hiểu và phân tích nó. Trong đề tài này chúng tôi tham
khảo và ứng dụng những lý thuyết làm nền tảng như sau:
• Quan điểm lý luận về “bẫy các nước thu nhập trung bình” , các giải pháp để thoát
khỏi tình trạng “bẫy của các nước thu nhập trung bình” dưới góc nhìn của các
chuyên gia như Indermit Gill, cố vấn và Homi Kharas, chuyên gia kinh tế trưởng
của Ngân hàng thế giới.
• Quan điểm lý luận về “bẫy các nước thu nhập trung bình” hay “Bẫy thu nhập
trung bình” và khái niệm“chiếc trần thủy tinh vô hình”.của GS. Kenichi Ohno,
Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Tokyo.
• Kinh nghiệm và phương hướng của một số nhà lãnh đạo như Thủ tướng Malaixia
Najib Tun Razak,
Phần 3
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
sẽ chuyển từ giai đoạn phụ thuộc một phần vào ngoại lực sang hoàn toàn dựa vào nội lực.
Lúc đó, nguồn nhân lực trong nước đủ trình độ thay thế hoàn toàn lao động nước ngoài,
nền kinh tế đủ trình độ là nhà xuất khẩu năng động với các sản phẩm chất lượng cao đáp
ứng và cạnh tranh với nền kinh tế thế giới.
Như vậy, “bẫy thu nhập trung bình” trong quan niệm của Kenichi Ohno và của
Homi Kharas có khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể rút ra khái niệm ngắn gọn về “
Bẫy của các nước thu nhập trung bình ” như sau:
“ Bẫy của các nước thu nhập trung bình” hay “Bẫy thu nhập trung bình” là một
thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng mắc kẹt của nhiều quốc gia đã thoát nghèo, gia nhập
vào nhóm nước có thu nhập trung bình nhưng mất nhiều thập niên vẫn không trở thành
quốc gia phát triển.
2. CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG VƯỚNG VÀO “BẪY THU NHẬP
TRUNG BÌNH”:
7
Các quốc gia đang phát triển lại vướng vào “ bẫy thu nhập trung bình” là do các
nguyên nhân chính sau :
+ Sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng.
+ Tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công .
+ Sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực và bất ổn.
Ngoài ra, quá trình phát triển từ thu nhập thấp đến thu nhập trung bình cũng ngầm
chứa nhiều yếu tố là nguyên nhân để một nước rơi vào bẫy trung bình. Đó là sự hủy hoại
môi trường sống mà phải mất nhiều nguồn lực và thời gian khắc phục, sự thay đổi môi
trường xã hội dễ tạo ra những xung đột, tâm lý đòi thưởng công trạng biểu hiện ở nhu cầu
hưởng thụ sớm.
Thực tế, có nhiều nền kinh tế ở châu Á từ nghèo chuyển thành có thu nhập trung
bình, nhưng có rất ít trong số đó vượt lên như trường hợp của Đài Loan và Hàn Quốc.
Philippines là quốc gia điển hình của tình trạng vướng vào bẫy thu nhập trung bình đã
không thể vượt qua ngưỡng 2.000 USD trong nhiều thập niên. Indonesia cũng mất hơn
một thập niên để từ trên 1.000 USD vượt lên hơn 2.000 USD/người. Còn Thái Lan thì bất
ổn kéo dài từ sau 2005 và cũng mất hơn hai thập niên mới vượt qua con số 3.000 USD.
học và sau đại học.
3.2 .Chính sách công nghiệp tiên phong:
Chính sách công nghiệp tiên phong nhằm củng cố sự cân bằng vốn rất mong manh
và hay thay đổi giữa chỉ đạo của nhà nước và định hướng thị trường, giữa cam kết toàn
cầu hóa và duy trì công cụ chính sách, giữa lãnh đạo quyết đoán với nhu cầu lắng nghe
doanh nghiệp tư nhân một cách cẩn trọng. Chính sách này rất khó thực hiện so với việc
đơn giản buông lỏng thị trường hoặc kiểm soát mọi việc bằng cỗ máy nhà nước. Hợp
phần chủ đạo của chính sách này là chấp nhận cơ chế thị trường và toàn cầu hóa, tinh
thần học hỏi linh hoạt của cả chính phủ và khu vực tư nhân, và mối tương tác phức tạp,
không ngừng thay đổi giữa hai khu vực này. Cụ thể hơn, chính sách công nghiệp tiên
phong phải thỏa mãn tất cả những điều kiện sau:
• Phát triển theo cơ chế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa: khu vực tư nhân
tham gia chủ yếu vào hoạt động sản xuất, đầu tư, thương mại và các hoạt động
kinh tế khác trong môi trường cạnh tranh mở do cơ chế thị trường và quá trình
toàn cầu hóa tạo ra. Nhà nước không tham gia vào hoạt động sản xuất, trừ những
lĩnh vực khu vực tư nhân chưa sẵn sang tiếp quản vai trò của nhà nước.
• Nhà nước mạnh: Nhà nước đảm đương vai trò vững chắc và chủ động trong việc
định hướng và hỗ trợ phát triển mặc dù về nguyên tắc, mọi hoạt động sản xuất đều
do tư nhân tiếp nhận là chủ yếu.
• Giữ lại những công cụ chính sách phù hợp cho các nước công nghiệp hóa đi sau
• Phát triển năng lực động: Nâng cao năng lực chính sách và tính năng động của
khu vực tư nhân
9
• Nội lực hóa kỹ năng và công nghệ có trong nguồn vốn con người của công dân
các nước: Đây là phần quan trọng nhất của mục tiêu và giải pháp chính sách công
nghiệp.
• Cộng tác công tư hiệu quả: Xây dựng mối quan hệ hợp tác hiệu quả giữa hai khu
vực nhà nước và tư nhân một cách vững chắc trên sự tin tưởng lẫn nhau và tham
gia một cách tích cực từ hai phía.
• Kiến thức sâu rộng về công nghiệp: nhằm tránh đánh giá sai chính sách và gây ảnh
nguồn lực hiện có để tự do hơn nữa nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư tư nhân, hình thành các
ngành tạo giá trị mới, cải cách ngân sách, phát triển nguồn nhân lực- được coi là năm trụ
cột trong “Mô hình kinh tế mới” của ông:
Mô hình kinh tế mới của Malaixia
Ngược lại, Thái Lan đang nỗ lực từng bước phát triển công nghiệp bằng cách tiếp
tục con đường đang đi của mình. Thái Lan vẫn tiếp tục khuyến khích FDI vào lĩnh vực
chế tạo, thúc đẩy công nghệ khuôn mẫu, tăng cường năng lực và liên kết các nhà sản xuất
11
linh kiện nội địa. Việc tiếp tục củng cố các cụng công nghiệp ô tô vẫn là trụ cột trong
chính sách công nghiệp của Thái Lan.
Một trong các dự án hỗ trợ nỗ lực này là Dự án phát triển nguồn nhân lực trong
ngành công nghiệp ô tô hiện đang được triển khai với sự hỗ trợ toàn diện của bốn công ty
sản xuất ô tô lớn của Nhật Bản. Một định hướng chính sách khác là phát triển sản xuất ô
tô sinh thái. Đồng thời, Thái Lan cũng khuyến khích phát triển các lĩnh vực mới như du
lịch khám chữa bệnh, công nghệ sinh học và ITC. Dựa trên các thành quả đạt được trong
quá khứ, Thái Lan áp dụng cách tiếp cận hai chiều, vừa phát triển cơ sở công nghiệp cũ
đồng thời tìm kiếm các nguồn tăng trưởng mới.
5 chiến lược và 12 kế hoạch hành động của ngành công nghiệp ô tô Thái Lan
Một điểm khác nhau dễ dàng nhìn thấy giữa Malaixia và Thái Lan đó việc lựa chọn
lực đẩy cơ bản của chính sách công nghiệp. Trong khi Thái Lan hoàn toàn theo thị trường
và toàn cầu hóa, nỗ lực xây dựng một môi trường kinh doanh mở và tự do, không kỳ
vọng vào việc tạo ra các thương hiệu quốc gia, thì Malaixia lại áp dụng các biện pháp chỉ
đạo và hành chính để dẫn dắt khu vực tư nhân hoặc khu vực nước ngoài đi theo một định
hướng nhất định, trong đó bao gồm cả việc phát triển và thúc đẩy việc sản xuất ô tô mang
thương hiệu quốc gia. Malaixia đang đặt cược vào cú nhảy cóc trong khi Thái Lan vẫn đi
12
trên con đường cũ. Cả hai đều kỳ vọng thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, nhưng cách
thức mỗi nước lựa chọn để đạt được mục tiêu tương đối khác nhau.
III. SỨC ÉP CỦA “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” ĐỐI VỚI NHỮNG NỀN KINH
thiết đạt đến vào cùng một thời điểm. Trung Quốc có thể đã đạt đến ngưỡng về chế tạo
sản xuất, và nếu nền kinh tế này tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 9%, ngưỡng
thu nhập trung bình cũng sẽ sớm bị vượt qua. Nhưng ngưỡng thu nhập tương đối thì vẫn
còn cách xa. Theo IMF, thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc năm 2010 bằng
16% của Mỹ.
Nghiên cứu chỉ ra, các nền kinh tế như Trung Quốc, với đồng tiền bị định giá thấp
hơn giá trị thực tế và tỷ lệ chi tiêu tiêu dùng thấp, có nguy cơ chịu kiểu suy giảm tăng
trưởng này hơn. Các kết luận trên được đưa ra dựa trên nghiên cứu của nhiều nước từng
trải qua các đợt suy giảm bất ngờ, và kinh nghiệm của các nước cũng rất khác nhau,
Eichengreen cảnh báo. Đây không phải là những quy luật bất di bất dịch. Mặc dù vậy,
gần như chắc chắn sự suy giảm sẽ diễn ra một khi giai đoạn bắt kịp dễ dàng chấm dứt.
Câu hỏi ở đây là liệu Trung Quốc có thể giảm nhẹ đà suy giảm thông qua thay đổi mô
hình tăng trưởng hay không. Đó là mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, do đó, nhu
cầu hầu hết từ nước ngoài. Để đáp ứng nhu cầu đó, Trung Quốc đã huy động lực lượng
lao động khủng lồ, cộng thêm một khối vốn vật chất không ngừng tăng cao, phần lớn đều
được nhập khẩu và tài trợ bằng tiền tiết kiệm trong nước. Do theo đuổi mô hình tăng
trưởng cần nhiều vốn, nên chi tiêu tiêu dùng của Trung Quốc cũng chỉ chiếm tỷ trọng rất
nhỏ trong GDP: năm 2010 tỷ lệ này còn giảm xuống chỉ còn 34% . Điều này càng làm
tăng tính lệ thuộc vào xuất khẩu.
Cơ chế tài chính Trung Quốc càng củng cố mô hình này. Dòng vốn qua biên giới bị
kiểm soát chặt chẽ. Trung Quốc hạn chế tăng giá nội tệ để đảm bảo tính cạnh tranh cho
hàng xuất khẩu bằng việc mua về lượng lớn ngoại tệ, tổng dự trự của nước này đã lên tới
3,2 nghìn tỷ USD, bằng 54% GDP năm 2010.
Hệ thống ngân hàng được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Ngân hàng
nước ngoài chỉ chiếm chưa đầy 2% tổng tài sản ngân hàng. Tiền mặt in ra để giúp giữ
đồng NDT yếu hơn so với các đồng tiền chủ chốt khác được "hấp thụ" bằng cách yêu cầu
các ngân hàng Trung Quốc phải mua trái phiếu "khử trùng" với lãi suất thấp hoặc phải
giữ lượng dự trữ tiền mặt lớn hơn. Lãi suất được ấn định có lợi cho các doanh nghiệp nhà
14
nước (thường là nhà cung cấp độc quyền cho các công ty xuất khẩu) và ít mang tính
15
nhiều công ty suy giảm và dẫn tới thái độ phản đối. Các ngân hàng thường quen với việc
cấp vốn theo chỉ đạo của chính phủ sẽ cần đưa ra những thẩm định chính xác hơn, hạn
chế đổ tiền vào các ngành mang lại lợi nhuận thấp và chuyển sang các dự án đầu tư hứa
hẹn hơn. Nhưng vấn đề lại nằm ở chỗ, liệu Trung Quốc có thể phân biệt dự án nào đáng
đầu tư hay không.
2. BRA ZIL
Brazil là ví dụ nhãn tiền về sự suy giảm đột ngột của một quốc gia đang tăng
trưởng nhanh (dù không nêu trong nghiên cứu của nhóm Eichengreen). Nền kinh tế này
tăng trưởng gần 7% mỗi năm trong giai đoạn 1945-1980. Theo thống kê của Maddison,
GDP bình quân đầu người tăng từ chỉ bằng 12% của Mỹ lên 28%. Nhưng sau đó mọi
chuyện đột ngột đảo ngược lại. Các khoản nợ tích lũy để mua máy móc nhập khẩu trở
nên vượt quá sức chịu đựng do lãi suất tăng vọt. Các ngành phục vụ thị trường được bảo
hộ trong nước tỏ ra thiếu hiệu quả. Đồng tiền suy yếu và gia tăng chi phí lương thúc đẩy
lạm phát và sau đó là siêu lạm phát.
Một loạt các cải cách tiền tệ và tài khóa những năm 1990 giúp khống chế lạm phát
và chặn đứng đà suy giảm thu nhập tương đối. Thu nhập bình quân đầu người của Brazil
hiện tại bằng hơn 20% của Mỹ. Nhưng nền kinh tế cũng chứa đầy những khiếm khuyết,
tuy hơi khác với Trung Quốc. Đầu tư chiếm 19% GDP, thấp hơn nhiều Trung Quốc và
thấp hơn hẳn mức tiêu chuẩn của các nước giàu. Đó là một lý do tại sao năng suất không
hiệu quả, bên cạnh một phần nguyên nhân từ hệ thống giáo dục yếu kém và cơ sở hạ tầng
lạc hậu. Dự báo nền kinh tế đạt tăng trưởng khoảng 4%/năm, nhanh hơn hầu hết các nước
giàu, nhưng chập hơn so với các thị trường mới nổi khác.
Đầu tư yếu phản ánh mức tiết kiệm trong nước thấp. Brazil liên tục chịu thâm hụt
tài khoản vãng lai. Sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài đã khiến nước này trở nên dễ
tổn thương trước các cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán định kỳ, dù đã tích lũy được
tới 344 tỷ dự trữ ngoại hối làm phương tiện phòng ngừa trong tương lai. Nợ nước ngoài
ròng của Brazil (cả nợ công và nợ tư) đã lên tới 700 tỷ USD, so với mức tài sản ròng
chừng 3 nghìn tỷ USD của Trung Quốc.
16
kế toán và một luật sư thuế phục vụ mình cả đời".
17
Lãi suất thực tại Brazil cũng thuộc hạng cao nhất thế giới. Lãi suất cơ bản của
Ngân hàng Trung ương là 12% và có thể sẽ tăng hơn nữa để kiềm chế lạm phát hiện đã
cao hơn nhiều mức mục tiêu 4,5%. Lãi suất cao một phần là hậu quả của cuộc lạm phát
trước từng làm nản lòng người tiết kiệm. Văn hóa tiết kiệm chưa ăn sâu vào lối sống, vì
thế nhu cầu tín dụng vẫn vượt quá cung. Chính sách tài khóa lỏng lẻo cũng là một phần
nguyên nhân. Nền kinh tế đang vận hành vượt quá công suất. Tỷ lệ thất nghiệp là 6%,
mức hiếm khi có thể thấp hơn. Ngân sách có xu hướng thặng dư. Nợ chính phủ được gia
hạn ba năm một lần và chèn lấn (crowd out) các khoản tiền vay khác. Nhưng một thị
trường nợ với kỳ hạn dài hơn đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ bảng lương tại khu vực
công và các khoản trợ cấp của nhà nước.
Brazil hy vọng những mỏ dầu mới phát hiện sẽ được khai thác sao cho có thể hỗ trợ
thay vì thiệt hại cho các ngành khác. Chính phủ nhấn mạnh, công ty dầu mỏ nhà nước
Petrobras, với toàn quyền vận hành các mỏ dầu dưới tầng muối, phải mua phần lớn sản
phẩm phục vụ nhu cầu của mình ở trong nước.
Eike Batista, một ông trùm có tiếng trong các ngành khai khoáng, thăm dò dầu khí
và dịch vụ hậu cần, đang xây dựng một cảng hoàn thiện với một xưởng đóng tàu (hợp tác
với công ty Hyundai của Hàn Quốc) để đảm bảo tuân thủ đúng các quy định về hàm
lượng nội địa. "Yêu cầu của của Petrobras là hai xưởng đóng tàu", ông nói. Một cảng
hiện đại sẽ khuyến khích nhà sản xuất nước ngoài đến xây dựng nhà xưởng dọc bờ biển
Brazil và phục vụ thị trường trong nước. Nhưng một số người khác lại lo ngại Brazil
đang theo đuổi mô hình công nghiệp hóa dưới sự chỉ đạo của nhà nước và hướng nội
từng thất bại trước đó.
Giáo sư ĐH Harvard Dani Rodrik so sánh sự phục hồi của Hàn Quốc sau cuộc
khủng hoảng tại Đông Á năm 1998 (cũng như sau các rắc rối trước đó) với với tình trạng
đình trệ mà Brazil và các quốc gia Mỹ Latinh khác phải chịu đựng trong những năm
1980. Ngành công nghiệp Hàn Quốc đã đã được khẳng định tại các thị trường xuất khẩu
vì thế có thể tạo dựng phục hồi dựa trên sức mạnh công nghiệp. Brazil thiếu sức mạnh
đó. Nhưng Hàn Quốc có thể phục hồi nhanh hơn còn vì mỗi nhóm lợi ích đều thống nhất
kinh tế thu nhập trung bình sang nền kinh tế giàu phụ thuộc vào các chính sách tiền tệ, tài
khóa và quản lý hợp lý.
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
1. KHÁI QUÁT KINH TẾ VIỆT NAM
19
1.1 Các chỉ số tăng trưởng.
Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình
quân đạt 7,4% trong giai đoạn 1991 – 2010. Năm 1990, Việt Nam là một trong những
quốc gia nghèo nhất thế giới với GDP bình quân đầu người là 98 USD (theo dữ liệu
của ADB). Đến năm 2009, với mức GDP bình quân đầu người là 1.109 USD, Việt
Nam đã được xếp vào các nước có mức thu nhập trung bình thấp theo xếp hạng của
ngân hàng thế giới.
.
20
Diễn đàn phát triển Việt Nam. Nguồn: Tổng cục thống kê, các chỉ số chính của Ngân
hàng phát triển châu Á (2008), Các tính toán về tăng trưởng – Đại học kinh tế Quốc
dân giai đoạn 1990 – 2004
Các số liệu thống kê tăng trưởng cho thấy: cho đến giữa những năm 1990, hệ số
vốn trên một đơn vị sản lượng ( ICOR) ở mức thấp, mức đóng góp của năng suất nhân
tố tổng hợp ( TFP ) ở mức cao – điều này cho thấy tăng trưởng nhanh do tăng hiệu
suất. Giai đoạn sau đó, chỉ số ICOR tăng lên, đóng góp của TFP đối với tăng trưởng
giảm xuống và đóng góp của vốn tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy tăng trưởng có
được nhờ đầu tư ồ ạt, nhưng mức hiệu quả sử dụng vốn thấp.
1.2.Nhận xét mô hình tăng trưởng của Việt Nam.
Về cơ bản, mô hình tăng trưởng Việt Nam bao gồm các điểm chính: coi mở cửa
và hội nhập khu vực là yếu tố tiên quyết đối với tăng trưởng, củng cố thương mại nội
vùng và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiết kiệm và đầu tư ở mức cao, chuyển đổi năng
động cơ cấu công nghiệp, đô thị hóa và di cư nông thôn – thành thị, giải quyết các vấn
đề liên quan đến tăng trưởng như chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm, tắc nghẽn giao
thông
nhập trung bình” của một số nước trong khu vực Châu Á như Hàn Quốc và Thái
Lan đã để lại nhiều bài học có giá trị mà chúng ta cần phải học hỏi.
2.1. Liên hệ từ Hàn Quốc.
Hàn Quốc nền kinh tế bắt đầu từ mức thu nhập thấp – đã cất cánh vào cuối
những năm 1960 và đã cải thiện thu nhập một cách nhanh chóng. Cuối thế kỷ
20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất
trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhảy
vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000
USD vào năm 2007. Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế
châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc. Hiện nay,
Hàn Quốc là một trong bốn con rồng châu Á, với khả năng tăng trưởng ở mức cao và
có chiều sâu. Để đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trên, đó là một quá trình cải
cách, đổi mới, với nhiều chính sách nhằm tăng trưởng kinh tế:
• Tập trung tăng trưởng xuất khẩu.
• Đầu tiên, với triết lý cơ bản của chính quyền của Tổng thống Park Chung Hee lúc
đó là “xuất khẩu là hàng đầu” và “xây dựng đất nước bằng thúc đẩy xuất khẩu”.
Chính phủ Hàn Quốc đã có những can thiệp mạnh mẽ bằng việc cung cấp các
nguồn đầu tư và các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô. Tất cả những ngành xuất
khẩu đều được Chính phủ Hàn Quốc tài trợ, hỗ trợ trong giai đoạn ban đầu.
• Sau khi củng cố khả năng công nghệ, vào những năm giữa thế kỷ XX, Hàn Quốc
đã bắt đầu tự do hóa thương mại bằng việc giảm thuế quan.
22
• Dựa vào sở hữu trong nước, có xu hướng công nghiệp hóa kiểu “cú hích lớn”.
Nâng cấp và tái cấu trúc ngành công nghiệp từ thâm dụng vốn và lao động sang
thâm dụng công nghệ.
• Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trình độ cao có kĩ năng phục vụ cho quá trình
phát triền ngành công nghệ cao và xuất khẩu nhân lực có kĩ năng sang các nước
khác.
Liên hệ thực tiễn Việt Nam
• Việc tập trung vào xuất khẩu cũng là một hướng đi đúng cho Việt Nam với thế
hội.
Liên hệ thực tiễn Việt Nam
• Việt Nam cũng cần chú trọng đến việc phát triển đồng đều giữa các khu vực vùng
miền khi nước ta vẫn đang có nhiều tỉnh nghèo, còn nhiều nguồn lực chưa khai
thác hết, sự đầu tư vẫn tập trung vào các thành phố lớn và khu trọng điểm công
nghiệp. Tình trạng này còn dẫn đến sự phân bố dân cư không đồng đều gây ra
nhiều vấn đề xã hội.
• Ổn định chính trị và khiến cho nhân dân tin vào Chính Phủ là một yếu tố quan
trọng nhất trong việc tăng trưởng dài hạn và thoát khỏi bẫy này. Nhìn từ bài học
của Thái Lan để thấy hậu quả của việc “nội bộ lục đục”. Không những từ cấp cao
mà còn toàn bộ bộ máy chính quyền địa phương phải tạo lòng tin trong dân chúng.
Làm việc minh bạch là điều mà nhân dân mong muốn.
• Việc tái cơ cấu nền kinh tế cũng là đòi hỏi bức thiết lúc này của Việt Nam. Chính
phủ cũng đã có hướng đi đúng đắn với 3 hướng chính: tái cơ cấu đầu tư công, tái
cơ cấu doanh nghiệp và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Việc thực hiện tái cơ cấu
này nhằm phát triển ngành công nghiệp phụ trợ thu hút nguồn vốn đầu tư tránh
việc để mất nhiều cơ hội (năm mở cửa 1993 và năm Thái Lan bị lũ lụt 2011).
3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM THOÁT KHỎI “BẪY THU NHẬP
TRUNG BÌNH”
Năm 2009 Việt Nam (VN) bước qua ngưỡng thu nhập bình quân đầu người
trên 1000 USD. Đây là một trong những dấu hiệu đáng mừng cho nền kinh tế VN.
Tuy nhiên nhiều người cho rằng VN sẽ đứng trước nguy cơ mới của xã hội là
“bẫy của các nước thu nhập trung bình” của nền kinh tế. Vậy làm thế nào VN có
thể thoát khỏi cái bẫy đó.
Trước tiên, chúng ta cần biết ngọn nguồn của căn bệnh này, đó chính là nền
kinh tế thiếu năng suất và chất lượng mà chỉ nhờ vào tài nguyên và những lợi thế
ban đầu nhất định. Để làm được điều này vai trò của chính phủ là rất quan trọng
trong việc cải cách hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội để đưa đất nước thoát khỏi
tình trạng “bẫy của các nước thu nhập trung bình”, tạo điều kiện đổi mới liên
nông thôn và dân nghèo.
Đầu tư giáo dục cũng là một trong những lĩnh vực quan trọng giúp phát
triển con người, trước tiên, chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn trong việc coi
đào tạo như một hình thức đầu tư vì vậy nước ta phải thường xuyên nâng cao chất
lượng giáo dục đặc biệt là chất lượng giảng dạy, chất lượng giáo trình, sách giáo
khoa, cơ sở vật chất, các chính sách liên kết bên trong và bên ngoài của chính quá
trình đào tạo đó. Giáo dục ngày nay không chỉ gói gọn ở cấp phổ thông mà còn
cao hơn là bậc đại học và sau đại học, làm nền tảng cho những lao động tương lai
với tay nghề cao, có kỹ năng và có sáng tạo. Trong quá trình đào tạo, cần mở rộng
hợp tác quốc tế trong giáo dục và thúc đẩy quá trình tiếp thu nhanh những công
nghệ hiện đại của thế giới với những hình thức phù hợp. Với một đội ngũ lao động
25