1
Luận văn
Đề tài: Đặc điểm của thị trường lao động ở
các nước đang phát triển. Phân tích hiện
tượng dư thừa lao động ở Việt Nam dưới
góc độ tăng trưởng kinh tế. Các giải pháp
để xử lý vấn đề này.2
MỤC LỤC
MỞ BÀI 1
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT: 5
1.1. Nguồn gốc của tăng trưởng: 5
1.2 Nguồn lao động: 6
1.3. Lực lượng lao động: 8
1.4 Tác động của lao động với tăng trưởng qua lý thuyết: 8
1.4.1. Mô hình cổ điển về tăng trưởng kinh tế: 10
1.4.2. Mô hình của Mác về tăng trưởng kinh tế: 12
1.4.3. Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế: 13
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN. PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG DƯ THỪA LAO
ĐỘNG Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 14
2.1 Đặc điểm thị trường lao động ở các nước đang phát triển 14
2.1.1 Số lượng lao động tăng nhanh 14
khía cạnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phân tích lợi thế và vai trò
của yếu tố này trong quá trình tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát
triển. Xét trên góc độ tăng trưởng kinh tế thì Việt Nam lại có hiện tượng dư
thừa lao động. Tất cả những vấn đề trên chính là lý do tôi chọn đề tài: “ Đặc
điểm của thị trường lao động ở các nước đang phát triển. Phân tích hiện
tượng dư thừa lao động ở Việt Nam dưới góc độ tăng trưởng kinh tế. Các
giải pháp để xử lý vấn đề này.”
5
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT:
1.1. Nguồn gốc của tăng trưởng:
Khi tìm hiểu nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế, chúng ta thấy có rất
nhiều quan điểm khác nhau, được chứng minh bằng các lý thuyết khác nhau.
Mỗi lý thuyết đều có những lý lẽ riêng của nó; và trong mỗi lý thuyết đó các
nhân tố ảnh hưởng tới quá trinh tăng trưởng kinh tế đều khác nhau. Nhưng
chung quy lại hầu hết vẫn là nghiên cứu nguồn gốc của tăng trưởng dựa vào
mối quan hệ đầu vào _ đầu ra. Để biểu thị mối quan hệ đầu vào _ đầu ra, các
nhà kinh tế học đã quy tụ về hàm sản xuất tổng hợp như sau:
Y = F( Xi ), với i = 1;2;…;n
Xi: là các yếu tố đầu vào
Y: là sản phẩm đầu ra(GDP,GNP)
Như vậy các yếu tố đầu vào bao gồm các yếu tố nào?Theo các nhà kinh
dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm. 7
dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng
đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình,
không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả
những người nghỉ hưu trước tuổi quy định).
Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độ
chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động.
Các nhân tố ảnh hưởng số lượng nguồn lao động
Số lượng nguồn lao động của mỗi quốc gia trong một thời kì phụ thuộc
vào nhiều nhân tố. Có thể phân chia thành 3 nhóm nhân tố sau:
Tốc độ tăng dân số và tháp tuổi
Quy định về độ tuổi lao động
Các điều kiện về thu nhập, điều kiện sống, tập quán.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động
Chất lượng nguồn lao động là khả năng lao động của người lao động.
Chất lượng lao động chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố. Có thể phân
loại ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động theo các điều kiện cấu thành
chất lượng nguồn lao động, hoặc kéo theo quá trình, như quá trình tác động
trước độ tuổi lao động, trong thời gian của độ tuổi lao động. Có thể phân
nhóm nhân tố ảnh hưởng đến một số mặt của chất lượng nguồn lao động như
sau 8
Nhóm nhân tố liên quan đến thể chất: di truyền, chất lượng cuộc sống,
chăm sóc y tế, môi trường
Nhóm nhân tố liên quan đến trình độ nghề nghiệp
phí, làm cạn kiệt và huỷ hoại chúng.
Lao động là một bộ phận của các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất.
Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực lao động
trong hàng hoá, dịch vụ. Như vậy, chi phí nguồn lực lao động trở thành nhân
tố cấu thành mức tăng trưởng của kinh tế.
Hơn nữa, là bộ phận của dân số, nguồn lao động tham gia tiêu dùng các
sản phẩm và dịch vụ xã hội, tạo cầu cho nền kinh té. Điểm khác biệt cơ bản
giữa nguồn lao động với các nguồn lực khác là vừa tham gia tạo cung, vừa tạo
cầu cho nền kinh tế. 10
Bên cạnh nhận thức vai trò của nguồn nhân lực lao động với phát triển
kinh tế, cần thấy rõ ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế đối với nguồn
lao động. Lượng của cải vật chất do nền kinh tế tạo ra là cơ sở để phát triển
nguồn lực lao động. Một quốc gia có năng suất lao động cao, của cải nhiều,
ngân sách dồi dào sẽ có những điều kiện về vật chất, tài chính để nâng cao
dinh dưỡng, phát triển văn hoá, giáo dục, chăm sóc y tế nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực.
Mặt khác, việc phát triển kinh tế làm xuất hiện ngành nghề mới, công
việc mới đòi hỏi nguồn lực lao động phải không ngừng hoàn thiện.
Từ khi mới hình thành các học thuyết kinh tế các nhà kinh tế đã nhận
thức được vai trò quan trọng của lao động. Bằng chứng là đã có rất nhiều lý
thuyết nghiên cứu về vai trò của lao động. Muốn hiểu một cách rõ nhất về sự
nhận thức vai trò của lao động với tăng trưởng ta đi xem xét lần lượt các mô
hình tìm hiểu nguồn gốc của tăng trưởng
1.4.1. Mô hình cổ điển về tăng trưởng kinh tế:
Mô hình coi vốn, lao động, đất đai là ba nhân tố tạo ra tăng trưởng. Đặc
trưng cho thời kỳ này là nhà kinh tế học David Ricardo .
Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai
Y = F( K,L )
O
K
L12
Ở đây vốn và lao động luôn kết hợp với nhau theo 1 tỷ lệ nhất định. Vốn
và lao động không thể thay thế cho nhau được. Khi vốn và lao động cùng tăng
thì sẽ tạo ra tăng trưởng.
Như vậy, trong mô hình này tuy lao động chưa được đề cao vao trò
nhưng lao động là một đầu vào thiết yếu tạo nên tăng trưởng
1.4.2. Mô hình của Mác về tăng trưởng kinh tế:
Trong mô hình các yếu tố tăng trưởng bao gồm: vốn, lao động, đất đai và
tiến bộ kỹ thuật.Như vậy, so với mô hình cổ điển, mô hình của Mác đã tiến
bộ hơn. Mác đã biết đánh giá đến vai trò của tiến bộ khoa học công nghệ.
Mác coi lao động là nhân tố quan trọng nhất tạo nên tăng trưởng. Mác
quan niệm sức lao động là hàng hóa đặc biệt: trong quá trình lao động, sức lao
động tạo ra một giá trị lớn hơn, đó chính là giá trị thặng dư.
Theo Mác sức lao động đối với nhà tư bản là một hàng hóa đặc biệt.
Cũng như hàng hóa khác, nó được các nhà tư bản mua trên thị trường và tiêu
thụ trong qúa trình sản xuất. Nhưng trong quá trình tiêu thụ, giá trị sử dụng
của hàng hóa lao động không giống với giá trị sử dụng của các hàng hóa khác.
Trong đó: 0< < 1. Với giả thiết 0 < hàm Cobb-Douglass coi giá trị
sản xuất tỷ lệ thuận với lao động và vốn.
Hàm đã giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng, xem xét mối quan hệ
đầu ra đầu vào với mức độ đóng góp của các yếu tố đầu vào. Như vậy bằng
mô hình này đã lượng hóa được sự đóng góp của yếu tố lao động vào quá
trình tăng trưởng kinh tế. Mô hình này cũng là mô hinh nói rõ nhất, cụ thể
nhất sự đóng góp của yếu tố lao động vào tăng trưởng kinh tế
Ngoài các mô hình trên, còn mô hình của KEYNES về tăng trưởng kinh
tế cũng đều khẳng định vai trò quan trọng của lao động đối với qua trình tăng
trưởng kinh tế. 14
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN. PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG DƯ THỪA LAO
ĐỘNG Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 Đặc điểm thị trường lao động ở các nước đang phát triển
2.1.1 Số lượng lao động tăng nhanh
Có sự khác biệt chủ yếu giữa sự thách thức phát triển mà các nước đang
phát triển gặp phải so với các nước phát triển là sự gia tăng chưa từng thấy
của lực lượng lao động. Ở hầu hết các nước, trung bình mỗi năm số người tìm
việc làm tăng từ 2% trở lên. Sự gia tăng nguồn lao động liên quan chặt chẽ
với việc gia tăng dân số. Dự báo ở nước ta mỗi năm bình quân tăng thêm hơn
một triệu lao động dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm.
2.1.2 Phần lớn lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp.
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất về lao động ở các nước đang
phát triển là đa số lao động làm nông nghiệp. Ở Việt Nam lao động nông
nghiệp chiếm hơn 70% tông số lao động . Loại hình công việc này mang tính
phổ biến ở những nước nghèo. Xu hướng chung là lao động trong nông
nghiệp giảm dần trong khi lao động trong công nghiệp và dịch vụ lại tăng.
công nghiệp theo dây chuyển. Dù không yêu cầu về trình độ tay nghề, nhưng
việc tuyển lao động phổ thông lại rất khó khăn. Có rất nhiều nguyên nhân tựu
trung lại một số nguyên nhân như: với người lao động, mức lương chưa đáp
ứng được nhu cầu, họ chưa quen với môi trường làm việc công nghiệp có tính
kỷ luật cao,chưa tự tin trong khi đi tìm việc hoặc thiếu thông tin về tuyển
dụng. Về phía doanh nghiệp họ chưa hài lòng về thái độ làm việc và tính kỷ
luật lao động, trình độ tay nghề của lao động phổ thông ở một số người chưa 16
đáp ứng yêu cầu… Trong năm qua các doanh nghiệp may mặc, cơ khí, lắp
ráp… luôn trong tình trạng thiếu lao động phổ thông nhiều nhất
2.2. Hiện tượng dư thừa lao động ở việt nam dưới góc độ tăng trưởng
kinh tế.
2.2.1 Thực trang nguồn lao động Việt Nam
2.2.1.1 Số lượng lao động
Việt Nam là một nước có tổng số dân số thuộc loại cao trên thế giới.
Trong những năm vừa qua, chúng ta đã cố gắng giảm tốc độ tăng dân số tự
nhiên và đã đạt được những thành công đáng kể. Tuy nhiên với tình hình dân
số đông như vậy vẫn là một áp lực lớn cho toàn xã hội. Ta hãy xét bảng sau
để đánh giá tình hình dân số cũng như lực lượng lao động của Việt Nam:
Bảng 1:Dân số việt Nam 1/4 năm 1999-2010
Đơn vị : Nghìn người
Nhóm tuổi 1999 2004 2010
0 - 9 16592,5
15780,5
15320,0
82004,2
87218,1
Tỷ lệ % so với dân số 57,91
61,77
63,76(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Như vậy, nhìn vào bảng trên ta có thể thấy giai đoạn 2001-2005 , hay cụ
thể hơn vào năm 2004, dân số nước ta là 82004,5 nghìn người, trong đó dân
số ở độ tuổi lao động là 50656,3 nghìn người, chiếm 61,77% so với dân số.
Đây là một áp lực lớn cho xã hội trong việc giải quyết việc làm. 17
Bước sang năm 2005, theo bảng trên sẽ có khoảng 8853,3 nghìn người
bước vào độ tuổi lao động và đây là con số đủ khả năng cung cấp nhu cầu lao
động của xã hội.
Nhìn vào bảng trên ta cũng thấy dân số trong độ tuổi lao động liên tục
tăng qua các năm . Cụ thể , năm 1999 chiếm 57,91% và năm 2004 sẽ chiếm
khoảng 61,77%. Con số này cho chúng ta biết tỷ lệ tăng trưởng dân số tuy đã
hạ xuống nhưng vẫn ở mức cao, áp lực công việc nặng nề, nếu không có
những phương pháp giải quyết thích hợp sẽ dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp cao.
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao cũng cho chúng ta thấy một khả
năng dồi dào về lao động, có đủ khả năng giải quyết mọi công việc.Tuy nhiên,
Bộ Lao động cũng nêu ra thực trạng hiện nay của thị trường lao động trong
Lao động lành nghề
Lao động không lành nghề
Hình 1 Hình 2
Nhìn vào hai hình trên cho thấy trình độ nguồn lao động nước ta chủ yếu
là LLLĐ không lành nghề. Trong khi LLLĐ lành nghề ở các nước công
nghiệp chiếm tới 35% trong tổng số LLLĐ xã hội thì nước ta chỉ có 5,5%.
LLLĐ có trình độ chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư, và các nhà khoa học của họ
chiếm tới 30% còn nước ta mới có 6,5%. Chúng ta đang rất thiếu đội ngũ lao
động kỹ thuật. Trong một số ngành kinh tế quan trọng cần nhiều lao động kỹ
thuật nhưng hiện có rất ít. Chẳng hạn, ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng1,6%, ngành nông lâm ngư nghiệp 7%(hiện nay LLLĐ của ngành này
chiếm tới 3/4 tổng lao động xã hội). Vùng đồng bằng sông Cửu Long - một
trong những vùng sản xuất lương thực lớn nhất - nhưng LLLĐ đã qua đào tạo
chỉ đạt 3,68%, trong đó công nhân kỹ thuật có bằng 0,6%, trung cấp 1,55% và
đại học 0,74%. Một số khu chế xuất, khu công nghiệp cần tuyển lao động có
kỹ thuật thì lao động của nước ta chỉ đáp ững được rất ít.Tại Đồng Nai hàng
năm địa phương này thiếu hụt 20.000 lao động ( 5.000 lao động đã qua đào
tạo và 15.000 lao động phổ thông). Trong khi đó, ở TP Hồ Chí Minh từ đầu
năm đến nay có trên 23.000 lao động mất việc làm, nhưng nhu cầu tuyển
0,3%%
2,7%
33,5%
5,5%
88%
0,5%5
nguồn lao động theo ngành Năm 1998, cơ cấu lao động theo ngành đã có
những chuyển biến tích cực, nhưng so với yêu cầu còn rất chậm: lao động
nông nghiệp giảm còn 66% và lao động công nghiệp, dịch vụ tăng lên 13% và
21%.So với một số nước trong khu vực, cơ cấu LLLĐ của nước ta như vậy là
còn rất lạc hậu. Chẳng hạn, trong cùng thời gian đó tỷ trọng lao động nông
nghiệp của Mianma giảm xuống còn 51,8%, Malayxia còn 14,8%, Indonexia
còn 39,2%, Phillipin 37,2%, Thái Lan 49,2%.
Thứ năm , chuyển dịch cơ cáu lao động diễn ra rất chậm theo nghành
kinh tế, bên cạnh đó thiếu cân đối trong cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ.
Nhìn tổng thể thị trường lao động Việt Nam vẫn là một thị trường thừa lao
động và phát triển không đồng đều, mất cân đối cung- cầu lao động nghiêm 20
trọng giữa các vùng miền, khu vực, ngành kinh tế.Nguyên nhân được chỉ rõ:
Đó là quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, đô thị chưa đồng bộ; chưa tính đến
phát triển nguồn nhân lực của từng vùng, miền, địa phương. Công nghiệp
hoá- hiện đại hoá kéo theo hiện tượng đô thị hoá không tập trung, không đồng
đều, không đồng bộ đã gây nên sự chênh lệch của các địa phương. Điển hình
là nhiều tỉnh, thành tập trung quá nhiều KCX-KCN lại là nơi dân số ít, nguồn
lao động không nhiều, phụ thuộc vào lao động nhập cư. Ngược lại, nhiều địa
phương tập trung thu hút đầu tư để phát triển kinh tể nhưng không tính toán
đến cung- cầu lao động cũng như hạ tầng cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu chuyển
dịch lao động
2.2.2 Những nguyên nhân
Thứ nhất, do có sự suy giảm đáng kể đào tạo nghề (ĐTN) dài hạn, mất
cân đối với đào tạo nghề ngắn hạn. Điều này có nguồn gốc từ những nỗ lực
chưa đủ mức của chính ngành giáo dục và đào tạo.
Thứ hai, do quy mô đào tạo ở các trường trung học, dạy nghề quá nhỏ,
trên 50% các trường có quy mô đào tạo dưới 500 học sinh/năm. Quy mô nhỏ
viên. Số năm thâm niên trung bình cao có thể cảnh báo một xu hướng già
hoá, lớp trẻ ít quan tâm đến việc trở thành giáo viên ở các trường ĐTN. Đồng
thời các chỉ số về chuyên môn cụ thể cho các môn học ngành nghề hiện nay
đang thấp hơn nhiều so với các bộ môn cơ bản. Như vậy, điểm yếu vẫn đang
tập trung ở các trường kỹ thuật ngành nghề.
Thứ sáu, nhu cầu ĐTN phần lớn còn mang tính tự phát, thiếu qui hoạch
đồng bộ với nhu cầu của nền kinh tế. Các chỉ tiêu đào tạo của bộ chủ quản
còn quá lệ thuộc vào kinh phí, chưa theo nhu cầu thực tế của nền kinh tế, có
nơi, có lúc còn mang nặng tư tưởng “xin-cho”, cấp phát đơn thuần. Do áp lực
từ phía người lao động mà gần đây ĐTN ngắn hạn nổi lên như một hình thức
mới để bù đắp cho sự suy giảm ĐTN dài hạn và sự thiếu hụt trầm trọng công
nhân kỹ thuật. Sự thu hẹp các khoá ĐTN dài hạn còn chứa đựng xu thế “sao
nhãng” các nghề đòi hỏi đào tạo công phu, chi phí đào tạo cao. Qua khảo sát
421.500 người được ĐTN gần đây, chỉ có 0,5 % thuộc ngành cơ khí, 2,4%
thuộc ngành điện. 22
Thêm vào đó sự phân bố các trung tâm ĐTN rất không đồng đều theo địa
lý cũng như theo nhu cầu sử dụng. Phần lớn các trung tâm tập trung ở thành
thị, trong khi lại rất vắng bóng ở các vùng nông nghiệp, nông thôn, nơi đang
cần có những người nông dân được đào tạo bài bản để hội nhập nền nông
nghiệp nước nhà với thế giới. Hơn nữa, không có sự bổ sung kịp thời những
lao động có đào tạo cho nông nghiệp thì quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn khó mà đạt kết quả như mong muốn.
Tính tự phát và thiếu qui hoạch đồng bộ một thời gian dài đã gây ra tình
trạng mất cân đối nghiêm trọng về nguồn lực, trong khi kinh nghiệm của các
nước trên thế giới là duy trì cơ cấu bậc học “tháp hình chuông” thì ở nước ta,
số học sinh vào đại học thường vượt quá nhiều lần so với học sinh các trường
nghề.
trung bình là 10,6%. Điều này chúng tỏ hiệu quả đầu tư giáo dục ở nước ta
còn quá thấp. 24
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG
ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
3.1 Giải pháp về phía cung
Cần nhanh chóng nâng cao trình độ văn hoá cho nguồn nhân lực, phấn
đấu phổ cập phổ thông trung học đối với những đối tượng và những vùng có
điều kiện nhằm tạo thuận lợi cho việc tiếp thu các kiến thức trong đào tạo
chuyên môn kỹ thuật cho người lao động.
Để có cơ cấu lao động hợp lý, một trong những biện pháp quan trọng là
thực hiện chính sách phân hạng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở để
tạo ra cơ cấu hợp lý. Theo kinh nghiệm của các nước phát triển, cứ 1 người có
trình độ đại học, cao đẳng cần có 4-5 người có trình độ trung học chuyên
nghiệp và 10 công nhân kỹ thuật.
Đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho người lao động, đặc biệt là đào tạo,
bồi dưỡng nghề cho người lao động để tăng tỷ lệ được đào tạo thường được
tiến hành qua các biện pháp xã hội hoá đào tạo, đa dạng hoá hình thức đào
tạo, bồi dưỡng với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Các lao động mới bước vào tuổi lao động, lao động dôi dư, lao động trẻ
ở nông thôn cần được ưu tiên trong trang bị kiến thức kỹ thuật về công nghệ
mới liên quan đến trồng trọt, chăn nuôi, các ngành thủ công có điều kiện phát
triển ở địa phương cũng như các kiến thức cần thiết khác để cung cấp cho khu
công nghiệp mới, các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xuất khẩu lao động, có thể thành
lập bộ phận đào tạo, bồi dưỡng riêng các trung tâm dạy nghề hợp tác với các
trung tâm đào tạo trong nước và nước ngoài, để đào tạo, bồi dưỡng người lao
động đi làm có thời hạn ở nước ngoài.
sử dụng nhiều lao động có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước về xuất
khẩu của các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông, dịch vụ, du lịch.
Kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác cơ sự giúp đỡ và quản lý
của Nhà nước, căn cứ vào nhu cầu sản xuất, tiêu dùng tại chỗ và xuất khẩu,