luận văn kinh tế thị trường ở việt nam dưới góc nhìn của triết học - Pdf 12

Luận văn
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC
NHÌN CỦA TRIẾT HỌC 1
I - PHẦN MỞ ĐẦU
Đối với mọi quốc gia, khu vực kinh tế tư nhân có vai trò hết sức quá trình
trong phát triển kinh tế của đất nước. Đối với nước ta, mặc dù trong quá trình
phát triển trải qua nhiều thăng trầm song bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế tư
nhân đã khẳng định là một bộ hận cấu thành, có vị trí quá trình lâu dài của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nền kinh tế của nước ta đang trong quá trình đổi mới mạnh mẽ để vươn
tới nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Trong sự đổi mới đó,
kinh tế Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo, nhưng đóng góp cho quá trình phát
triển đó có sự tham gia tích cực của kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân với các loại
hình đa dạng, hoạt động linh hoạt góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của
xã hội, trong đó nổi cộm là giải quyết việc làm cho người lao động mà kinh tế
Nhà nước chỉ giải quyết được hạn hẹp. Kinh tế tư nhân làm đa dạng hóa nền
kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn rất lớn cả về phía người tiêu dùng lẫn chủ sở
hữu, tính đa dạng đó là ưu thế rất lớn để đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ đi lên
sản xuất hàng hóa lớn như nước ta. Kinh tế tư nhân vốn phạm vi hoạt động rộng
lớn trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải cần có sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của Nhà nước. Nhận định vai trò của kinh tế tư nhân Nhà
nước đã đổi mới cơ chế chính sách để phát triển thành phàn kinh tế này. Trong
những năm gần đây, nhờ quan điểm đổi mới tích cực với cơ chế tác động rõ
ràng, dứt khoát đã thúc đẩy kinh tế tư nhân ngày càng phát triển.

phạm vi hoạt động, đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ năm
2000 cả nước có gần 2167,3 nghìn cơ sở kinh tế tư nhân tăng 130,7 nghìn cơ sở
so với năm 1996, trong đó 29548 doanh nghiệp tư nhân, tăng 9276 doanh nghiệp
và trên 2137,7 nghìn cơ sở cá thể (chưa kể nông, lâm, thủy sản) tăng 121,4
nghìn cơ sở. Tại thời điểm tháng 12 năm 2000 các cơ sở kinh tế tư nhân có
4643 lao động đang làm việc tăng 20,1% so với năm 1996 và có gần 173000 tỷ
đồng vốn đang dùng vào kinh doanh sản xuất (doanh nghiệp tư nhân 16.000 tỷ).
Do có quy mô hoạt động và tiềm lực như vậy nên hàng năm kinh tế tư nhân thu
hút thêm hàng vạn lao động (1996 thu hút thêm 3,1 vạn lao động, năm 2000
thêm 90.000 lao động) tạo ra khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước và đóng
góp 6,4 nghìn tỷ). Những con số thống kê ở trên khẳng định kinh tế tư nhân ở
nước ta là một nguồn nội lực quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Kinh tế
tư nhân có sự tăng trưởng đáng kể về số lượng, phát triển rộng khắp trong cả
nước và trong các ngành cá thể đến năm 2000 là 9,8 triệu hộ với 20,1 triệu lao
động. Trong đó có 7,7 triệu hộ nông nghiệp ngoài HTX (với 16,3 triệu lao động)
và 2,1 triệu hộ kinh doanh phi nông nghiệp. Số hộ kinh doanh cá thể phân bố
rộng khắp trong các ngành nghề đặc biệt trong nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, ngư nghiệp. Trong công nghiệp với mô hình VAC, kinh tế trang trại góp
phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập đáng kể, các trang trại thu hút được
363.048 lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông, phá thế
độc canh, đặc biệt tạo ra mô hình cây công nghiệp, chuyên phục vụ cho xuất
khẩu. Trong tiểu thủ công nghiệp với ngành nghề truyền thống được khơi dậy
đặc biệt là ngành mây tre xuất khẩu, đồ gỗ mỹ nghệ - đã xuất khẩu đi nhiều
nước. Ngành nuôi trồng thủy sản với mô hình nuôi tôm của các hộ gia đình thực
sự tạo hiệu quả kinh tế cao phục vụ cho xuất khẩu. Nghị quyết Đại hội Đảng IX
đã khẳng định "Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quá

4
trình lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, khuyến khích các

5
mọi người lao động có thể tìm việc làm phù hợp, phấn đấu nâng cao trình độ và
tăng thu nhập. Các doanh nghiệp ngày càng mở rộng về số lượng chất lượng đòi
hỏi nhân lực có trình độ chuyên môn vững vàng. Tuy nhiên ở nước ta đã và còn
thực trạng rất đau lòng cho xã hội và đông đảo gia đình lao động do "cung về lao
động rất lớn, nhưng cầu chưa đủ mạnh" khiến quá nhiều người dân chưa có cơ
hội tìm việc làm, càng khó tìm việc làm phù hợp. Nạn thừa người thiếu việc
trước hết rơi vào lớp người đến tuổi ra trường, vào đời. Từ nhiều năm nay nghề
nông vẫn giữ tỷ trọng trên 60% lao động xã hội khiến đời sống nhà nông rất kho
cải thiện. Biết bao gia đình thu nhập trung bình và thấp chủ yếu là nông dân,
đang vét cạn vốn liếng đầu tư cho con em ăn học và tìm việc làm, ly nông. Hàng
triệu người lao động, nam và nữ đã tự phát dấn thân vào cuộc di cư và du cư tìm
kế sinh nhai, chấp nhận mọi khó khăn để tìm việc làm có thu nhập. Mọi tầnglớp
thuộc độ tuổi lao động đều cố gắng để tìm được một việc làm, có việc làm hợp
pháp ổn định đã là sự đổi đời. Thực tế đó chứng tỏ người lao động nước ta rất
năng động cần cù, nhẫn nại. Đồng thời cũng nói lên chính sách và môi trường xã
hội chưa đủ sức tăng cầu lao động với tốc độ cao và hợp lý. Hiện nay do rất
thiếu khả năng, nên Hiến pháp chưa thể đặt nhiệm vụ Nhà nước và xã hội bảo
đảm quyền có việc làm của công dân, càng chưa thế bảo hiểm thất nghiệp với
mọi người lao động. Gánh nặng này đang buộc các gia đình tự lo. Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội năm 2000 - 2010 được Đại hội IX thông qua mỗi năm
cần tạo ra trên 1 triệu việc làm mới cho số lao động mới tăng thêm, chưa kể việc
giảm thất nghiệp. Hơn nữa còn có nhu cầu rất bức bách rút bớt lao động từ nông
nghiệp sang các lĩnh vực ngoài nông nghiệp - trong 10 năm tới phải phấn đầu rút
trên 10 triệu lao động chỉ như vậy đời sống nông dân mới có thể cải thiện.
Chính trên con đường đó, nước ta càng sớm càng tốt phải đi tới trình độ
phát triển đến mức cầu lao động lớn hơn cung, tức là khan hiếm lao động nhất là
lao động với chất lượng cao. Chỉ đến lúc ấy, thu nhập lao động mới chắc chắn
đạt mức cao, thất nghiệp được bảo hiểm trên toàn xã hội. Như vậy, phát triển
mạnh mẽ nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng chính sách

chưa đầy đủ nhưng là tín hiệu đáng mừng cho nhiều hộ gia đình đối với vùng
ven biển khuyến khích nuôi trồng thủy sản.

7
Kinh tế tư nhân góp phần quá trình vào thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, nâng cao cạnh tranh của nền kinh tế, tăng quy mô của kim ngạch xuất khẩu.
Với đặc điểm và ưu thế riêng của mình, sự phát triển kinh tế tư nhân trực tiếp
khơi dậy nhiều ngành nghề truyền thống trong các ngành, vùng ở các địa
phương tạo ra nhiều chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú và cung cấp nhiều
hơn hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu. Các ngành nghề truyền thống là thủ công
mỹ nghệ đồ gỗ, đồ gốm sứ, mây tre đan, tranh sơn mài đã tạo được tiếng vang
trên trường quốc tế. Chỉ tính riêng năm 2000 con số thống kê của tổng cục hải
quan, kim ngạch xuật nhập khẩu trực tiếp của khu vực, phi nông nghiệp trong
kinh tế tư nhân đã tăng khá. Thông qua việc mở rộng sản xuất, nâng cao sức
cạnh tranh của từng doanh nghiệp ở khu vực này, trong điều kiện nền kinh tế đất
nước ngày càng tham gia đầy đủ hơn vào quá trình hội nhập với khu vực và thế
giới, giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ hơn. quá trình
hội nhập tác động rất lớn vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm tăng các ngành có
hàm lượng kỹ thuật cao, đặc biệt ngành công nghệ thông tin, ngành công nghệ
sinh học trong tương lai sẽ rất phát triển, các ngành phục vụ cho xuất khẩu cũng
tăng mạnh, các Công ty tư nhân hoàn toàn với nước ngoài có xu hướng tăng.
Những ngành sản phẩm có khả năng cạnh tranh khai thác được lợi thế so sánh ở
các vùng, miền được chú trọng phát triển, nhờ đó khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế nói chung cũng được nâng lên, các nguồn lực đầu tư cho phát triển được
khai thác có hiệu quả hơn. Vùng đồng bằng sông Cửu Long ngoài lợi thế trồng
lúa còn phát triển trồng cây ăn trái có giá trị trong nước và xuất khẩu, riêng vùng
ven biển ngập mặn còn phát triển nuôi trồng thủy sản, vùng trồng cây ăn quả đặc
sản như vải, mận được khai thác ở khu vực thành phố lớn các cơ sở sản xuất
các mặt hàng truyền thống tạo ra các sản phẩm đặc trưng chất lượng cao. Từ đó
xuất hiện các cơ sở kinh doanh điển hình làm ăn giỏi, đời sống người lao động

năm vừa qua và bước phát triển đột biến từ năm 2000 đến nay.
Đại hội IX, về mặt phát triển kinh tế tư nhân đã đạt được mới về hoàn
thiện chính sách khẳng định cơ cấu kinh tế thị trường nhiều thành phần định
hướng XHCN trong đó kinh tế tư nhân là bộ phận quá trình xác định quan hệ
hoàn toàn và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, cùng nhau đi lên CNXH dưới sự

9
lãnh đạo của Đảng. Hội nghị lần thứ V của BCHTƯ, trong nghị quyết về kinh tế
tư nhân, xác định hai điều rất quá trình. "Xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa người
sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở pháp luật và tinh thần tương thân
tương ái" và "những đảng viên đang làm chủ doanh nghiệp của tư nhân, chấp
hành tốt Điều lệ Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước thì vẫn là Đảng
viên của Đảng".
Nhìn tổng quát lại, có thể thấy rõ trong cuộc đổi mới ở nước ta nói chung
và nói riêng trong bước mở đường và phát triển kinh tế tư nhân đã diễn ra cuộc
tìm tòi đổi mới mang tính nhân dân, tính xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng và sự
quản lý của Nhà nước có vai trò mở đường, khuyến khích, định hướng và điều
tiết rất rõ.
Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định: "Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở
nông thôn và thành thị có vị trí quá trình lâu dài, khuyến khích các hình thức tổ
chức hoàn toàn tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn
hơn. khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề
sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận
lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định
hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài". Quán triệt quan điểm
nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội nghị Trung Ương lần thứ V khóa IX đã
đánh giá tình hình và quyết định phương hướng, giải pháp nhằm tạo điều kiện
thuận lợi, hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn, không hạn chế sự phát
triển kinh tế tư nhân ở những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, đồng
thời hướng dẫn, quản lý hoạt động của kinh tế tư nhân đảm bảo định hướng

Thật vậy, trên đất nước ta trong bước phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nói
chung và kinh tế tư nhân nói riêng, mối quan hệ giữa người kinh doanh sử dụng
nhiều lao động vốn hàng triệu người lao động làm công ăn lương đâu còn là
quan hệ giữa người có quyền áp bức bóc lột với người bị áp bức bóc lột như ở
xã hội cũ. Những năm vừa qua việc thực hiện quy định: "Đảng viên có lao động,
không bóc lột" đã rất lúng túng về việc xử lý Đảng viên. Đồng thời gây ra sự
nghi ngại của giới kinh doanh tư nhân với chính sách khuyến khích phát triển.
Xuất phát từ quan điểm cơ bản của Đại hội IX đã đẩy tới một bước sự nhất quán

11
của chính sách trên hai điều rất quan trọng: "Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính
đáng của cả người lao động và và người sử dụng lao động, xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp giữa người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở pháp luật
và tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái". Những quyết định đó của Đảng và
Nhà nước nhanh chóng đi vào cuộc sống, được các doanh nghiệp hưởng ứng,
việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người chủ và nhân viên với tinh thần
đoàn kết đã tạo tâm lý thoải mái tự tin cho người lao động, tạo động lực nâng
cao hiệu quả công việc, không chỉ về lợi ích kinh tế mà còn về lợi ích xã hội như
đảm bảo cho người lao động có được một tinh thần tốt, giảm căng thẳng giúp họ
sống một cuộc sống lành mạnh chính vì vậy tạo ra sự tăng đột biến về số
lượng doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh trong khu vực tư nhân năm 2000, đến
nay vẫn trên đà phát triển mạnh, xét riêng về quan hệ giữa người sử dụng nhiều
nhân công và người làm công ăn lương trong khu vực kinh tế tư nhân, luật pháp
bảo vệ quyền hợp lý của cả hai phía. Trên thực tế xây dựng văn bản pháp luật và
thực thi trong cuộc sống đã có tình hình không cần, không thể và chưa bao giờ
trực tiếp đặt ra việc xây dựng văn bản xác định tầng lớp nào, người kinh doanh
cụ thể nào, với quy mô và hình thức kinh doanh nào là thuộc loại có "bóc lột".
Đã không cần và không thể đặt ra việc ban hành tiêu chuẩn phân định thành
phần tiểu thủ, tư bản tư nhân trong khi đó, Luật doanh nghiệp 2000 với việc áp
dụng chế độ đăng ký kinh doanh thay cho chế độ xin phép, đã khiến đông đảo

lĩnh vực, địa bàn đầu tư kể cả việc đầu tư ra nước ngoài, không phân biệt các
thành phần kinh tế. Hai là, Nhà nước cũng cho phép các loại hình doanh nghiệp
tư nhân hoạt động theo Luật doanh nghiệp có quyền tham gia hợp tác, liên
doanh với các Công ty nước ngoài tại việt nam.
Đồng thời cũng cho phép người Việt Nam ở nước ngoài người nước ngoài
thường trú ở Việt Nam được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp việt
nam với mức không quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp. Ba là, Nhà nước
quy định thủ tục đăng ký kinh doanh đơn giản hơn trước cho các doanh nghiệp
mới thành lập, bãi bỏ khoảng 160 giấy phép kinh doanh các loại, nhiều ngành
nghề không còn quy định mức vốn pháp định. Bốn là, Nhà nước đã có những
giải pháp tháo gỡ từng bước các khó khăn, vướng mắc về thủ tục đầu tư khi vay
vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, có chính sách khuyến khích phát triển ngành

13
nghề nông thôn, khuyến khích và bảo hộ kinh tế trang trại, phát triển giống thủy
sản hệ thống ngân hàng đã có những cố gắng tháo gỡ các rào cản trong việc cho
vay đối với khu vực kinh tế tư nhân, không có sự phân biệt thành phần kinh tế
các nhà đầu tư được Nhà nước giao đất có trả tiền sử dụng đất được hưởng ưu
đãi về quyền sử dụng đất dưới các hình thức, giảm 50% số tiền phải nộp tùy
từng trường hợp, miễn nộp, tiền sử dụng đất, thuế đất, thuê sử dụng đất đến 15
năm. Nhà nước thực hiện góp vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các
thành phần kinh tế thông qua các DNNN hoặc tổ chức tín dụng Nhà nước. Nếu
dự án của doanh nghiệp có tính khả thi, các quỹ tài chính như quỹ hỗ trợ phát
triển, quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ cho doanh nghiệp vay vốn lãi suất ưu đãi. Nhà
nước thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ bảo lãnh xuất khẩu quỹ hỗ trợ hoặc
khen thưởng xuất khẩu. Các quỹ này bảo lãnh cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc
tiến hành bảo lãnh tiền vay cho các đối tượng ưu tiên. Nhà nước khuyến khích
các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp vay. Các ngân hàng thương
mại thực hiện cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận đã xóa bỏ hoàn toàn sự
phân biệt giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tuân thủ quy luật

Nhà nước đã thực hiện các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển kinh tế
tư nhân. Đầu tiên là các giải pháp về vốn, tín dụng, để tạo các điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân giải quyết các khó
khăn về vốn, cần thực hiện một số giải pháp xóa bỏ tình trạng đối xử không bình
đẳng trên thực tế trong vay vốn giữa các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
tư nhân và các DNNN. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của các doanh nghiệp và ngân
hàng thương mại sao cho nó có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa để giải quyết vướng
mắc trên. Đối với các doanh nghiệp một mặt phải tìm mọi biện pháp nâng cao
hiệu quả kinh doanh và năng lực tài chính, đáp ứng ở mức cao nhất các yêu cầu
về tài sản thế chấp khi vay vốn để đảm bảo nguyên tắc tín dụng. Mặt khác, phải
chủ động xây dựng được các dự án, kế hoạch kinh doanh khả thi vì điều này
quyết định sự thành công của doanh nghiệp và bảo toàn được vốn đối với bên
cho vay. Các doanh nghiệp phải tạo được uy tín của mình bằng chính khả năng
cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp trên thị trường, bằng tính minh bạch của
sổ sách kế toán, đối với các ngân hàng thương mại cần thực sự coi khách hàng,
trong đó các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân là đối tượng phục

15
vụ giúp doanh nghiệp xây dựng các dự án khả thi, cùng tháo gỡ khó khăn, nâng
cao khả năng vay vốn. Các tổ chức tín dụng cũng cần xây dựng chính sách tín
dụng phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. Chủ động tìm kiếm dự án sản
xuất khả thi, có hiệu quả.
Thứ hai là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế tín dụng và đảm bảo tiền
vay để vừa đáp ứng các yêu cầu phát triển của kinh tế tư nhân, phù hợp với thực
trạng xã hội và thị trường. Bổ sung quyền sử dụng đất là tài sản bảo đảm tín
dụng các vấn đề thế chấp về giá trị quyền sử dụng đất, phạm vi bảo đảm tiền
vay, hợp đồng bảo đảm tiền vay, quy định đảm bảo tiền vay hình thành từ vốn
vay cần được xem xét, bổ sung cho phù hợp với điều kiện hiện nay. Xúc tiến
nhanh việc hình thành quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thiết lập và tăng cường mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tư nhân với các tổ

mại, hướng dẫn xây dựng và quản lý đầu tư cho các doanh nghiệp Hỗ trợ
doanh nghiệp đầu tư đổi mới, chuyển giao công nghệ, có thuế xuất ưu đãi đối
với vật tư hàng hóa nhập khẩu cần ưu đãi cho phứp hạch toán chi phí đổi mới,
hiện đại hóa công nghệ được tính vào giá thành sản phẩm. Sớm giảm giá dịch vụ
viễn thông, Internet bằng với mức các nước trong khu vực.
Các chính sách về thuế, kế toán và kiểm toán tiếp tục nghiên cứu hoàn
thiện chính sách thuế theo hướng: đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế, đơn giản, rõ ràng và tạo thuận lợi cho các cơ sở sản xuất
kinh doanh, hạn chế phiền hà, tiêu cực. Thực hiện nghiêm các luật thuế, hóa đơn
chứng từ. Thực hiện chế độ kê khai nộp thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh
đơn giản hơn cho phù hợp với quy mô kinh doanh và trình độ quản lý. Sửa đổi
biểu thuế nhập khẩu theo hướng giảm số lượng mức thuế suất, không phân biệt
thuế suất theo mục đích sử dụng, mở rộng danh mục hàng hóa nhập khẩu để
thuận lợi cho việc áp mã hàng hóa tính thuế. Sửa đổi bổ sung chế độ kế toán và
báo cáo tài chính cho phù hợp với đặc điểm và trình độ doanh nghiệp. Mở rộng
và nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán.
Nghiên cứu ban hành quy chế quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp
tư nhân, tạo cơ sở pháp lý giúp cho việc quản lý của Nhà nước và của doanh
nghiệp.

17
Tuy nhiên việc thực hiện giải pháp tài chính còn có những tồn tại, hạn
chế. Việc tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp nhận đầy đủ, kịp thời
các thông tin về chính sách đầu tư và khuyến khích đầu tư của Nhà nước, đặc
biệt là những quy định về điều kiện được nhận ưu đãi đầu tư. Mặt khác sự thay
đổi thường xuyên về chính sách thuế nhập khẩu cũng gây bị động và thiệt bại
cho người kinh doanh. Những khó khăn trở ngại trong việc vay vốn từ các ngân
hàng thương mại trước hết do một số quy định chưa hợp lý đối với cẩ người đi
vay và các tổ chức tín dụng đồng thời cũng có nguyên nhân từ bản thân người đi
vay đã làm hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn vay của các doanh nghiệp tư


Toàn bộ các phần đã trình bày ở trên đã làm rõ các chính sách, các giải
pháp cụ thể của Nhà nước để thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư nhân. Các chính
sách và biện pháp đó rõ ràng, cụ thể làm cho khu vực kinh tế này ngày một sôi
động, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế trên nhiều phương diện. Điều đó
phản ánh sự linh hoạt, tầm nhìn của Đảng trong việc phát triển nền kinh tế của
đất nước, trong thời buổi cạnh tranh hiện nay, muốn thoát khỏi nền kinh tế kém
phát triển bắt buộc Nhà nước phải có những định hướng đúng đắn mà các giải
pháp trên phần nào biểu hiện tính đúng đắn đó. Vấn đề là sự thực hiện của Nhà
nước và nhân dân như thế nào, hiệu quả ra sao thì thực tế sẽ kiểm nghiệm nhưng
trước mắt thì các cơ chế chính sách đó là phù hợp trong quá trình chuyển đổi của
nền kinh tế còn nhiều bất cập. Là những nhà kinh tế tương lai, chúng ta phải
nắm bắt được chủ trương đó để vận dụng vào đời sống kinh tế sao cho chủ động,
tạo ra những bước phát triển cần phải có. Chúng ta tin tưởng và mong đợi sự đổi
mới cơ chế chính sách của Nhà nước sẽ tạo ra phát triển vượt bậc của khu vực
kinh tế này.

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status