Tài liệu LUẬN VĂN: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trướng ở Việt Nam - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong nền kinh tế thị trướng
ở Việt Nam

Lời nói đầu
Thời gian qua cùng với sự hình thành và phát triển của các loại hình doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phát triển một
cách mạnh mẽ, đóng góp một vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của nền
kinh tế nước ta. Tuy nhiên hiện nay chúng ta chưa có một chính sách đồng bộ
nhằm tạo điều kiện cho loại hình doanh nghiệp này phát triển.
Đứng trước yêu cầu trên Nhà nước cần phải đưa ra một hệ thống chính sách
nhằm khuyến khích, tạo điều kiên phát triển loại hình doanh nghiệp này. Về cơ
bản, loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiên nay chủ yếu thuộc
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, vì vậy với đề tài " Phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trướng ở Việt Nam" chủ yếu tập trung
vào nghiên cứu thực trạng, giải pháp nhằm phát triển khu vực doanh nghiệp này.

quan trọng. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa chung, hoàn
chỉnh về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để xác định chính xác loại hình doanh nghiệp
này người ta thường căn cứ vào hai tiêu chí.
Nhóm các tiêu chí định tính bao gồm: chuyên môn hoá thấp, số đầu mối
quản lý ít, không phức tạp. Nhóm yếu tố này phản ánh đúng bản chất vấn đề
nhưng thường khó xác định bởi vậy mà nó mang tính tham khảo, kiểm chứng, ít
được sử dụng trong thực tế.
Nhóm tiêu chí định lượng: Có thể bao gồm số lao đông định biên, giá trị tài
sản, vốn kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận, nhóm tiêu chí này mỗi nước sử dụng
hoàn toàn không giống nhau, có thể căn cứ vào cả lao động, vốn, doanh thu cũng
có thể chỉ căn cứ vào số lao động hoặc vốn kinh doanh.
Hãy xem xét khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên
thế giới để tham khảo.
Hàn Quốc: Là một nước công nghiệp trẻ, đạt được nhiều thành công chính
là nhờ sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hàn Quốc đã có những đạo luật cơ
bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định rõ những tiêu chuẩn để được
công nhận là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những tiêu chuẩn đó còn phụ thuộc vào
lĩnh vực hoạt động cụ thể như sau.
Trong lĩnh vực chế tạo, khai thác, xây dựng: doanh nghiệp có dưới 300 lao
động thường xuyên và tổng vốn đầu tư dưới 600.000 USD được coi là doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này doanh nghiệp nào có dưới 20 lao động được coi
là doanh nghiệp nhỏ.
Trong lĩnh vực thương mại: doanh nghiệp có dưới 20 lao động thường
xuyên và doanh thu dưới 500.000 USD/năm (nếu là bán lẻ) và dưới 250.000
USD/ năm (nếu là bán buôn) được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này
doanh nghiệp nào có dưới 5 lao động thưòng xuyên được coi là doanh nghiệp
nhỏ
nghiệp nhỏ, Nhật Bản quan niệm gần giống với Hàn Quốc, rất thấp so với khu
vực châu á. Phải chăng các nước có tiềm lực kinh tế mạnh, nguồn nhân lực có
hạn, họ quan tâm đến tiêu thức vốn đầu tư nhiều hơn.
Thái Lan: là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, họ
quan niệm doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 200 lao động, doanh nghiệp nhỏ có
dưới 50 lao động
3
. Như vậy Thái Lan chỉ quan tâm đến tiêu thức lao động và
cũng không tính đến tính chất đặc thù của nghành kinh tế (tiêu thức này gần
giống với Việt Nam).
Các nước khác như Phi-lip-pin lại lấy tiêu thức chủ yếu là lao động và giá
trị tài sản cố định; In-đô-nê-xi-a lấy tiêu thức vốn bình quân cho một lao động;
Trung quốc lại lấy tiêu thức sản lượng đầu tư. Mỹ lấy tiêu thức lao động, trị số
hàng hoá bán ra (doanh thu tiêu thụ) đối với doanh nghiệp bán buôn, dịch vụ, đối
với doanh nghiệp sản xuất thì có tính đến yếu tố ngành sản xuất.
ở nước ta, trước đây do chưa có tiêu chí chung thống nhất xác định DNV &
N nên một số cơ quan nhà nước, tổ chức hổ trợ DNV & N đã đưa ra tiêu thức
riêng để xác định DNV & N phục vụ công tác của mình. Theo Công văn số
681/CP-KNT nêu trên, các doanh nghiệp có vốn điều lệ DNV & Nưới 5 tỷ đồng
và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 ngưòi là các DNV & N.
Tuy nhiên, các tiêu chí xác định trong cộng văn 681/CP-KTN chỉ là quy
ước hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hổ trợ DNV & N , là cơ sở để các
cơ quan nhà nước, các tổ chức chính thức của nhà nước thực thi chính sách đối
với khu vực DNV & N. Việc các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính
không có chức năng thực thi các các chính sách Nhà nước đối với DNV & N áp
dụng các tiêu chí khác nhau là được, vì các cơ quan đó có mục tiêu, đối tượng hổ
trợ khác nhau. Việc đưa ra các tiêu thức xác định DNV & N mới chỉ có tính ước
lệ, bản thân các tiêu chí đó chưa đủ xác định thế nào là khu vưc DNV & N ở Việt

đồng/năm
dưới 100 người
Dự án VIE/US/95 (Hỗ
trợ DNV & N ở Viêt
Nam của UNIDU)
+ Doanh nghiệp nhỏ
+doanh nghiệp vừa

Vốn đăng ký dưới 0,1
triệu USD
Vốn đăng ký dưới 0,4
triệu USD

dưới 30 người
Từ 30 dến 500
người
Quỹ hỗ trợ DNV & N
(Chương trình Việt
Nam- EU)
Vốn điều lệ từ 50.000
đến 300.000
Từ 10 đến 500
người
Nguồn: Bộ kế hoạch & Đầu Tư
- Thông thường các doanh nghiêp vừa và nhỏ thường có nguồn tài chính
hạn chế.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu.
Khả năng đổi mới công nghệ hay áp dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào
sản xuất là hạn chế.
- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị
hạn chế rất nhiều.
- Trình độ quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn bị hạn chế.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng suất lao động và sức cạnh tranh
kinh tế thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn.
2. Vai trò và tác động kinh tế-xã hội của DNV & N
Mặc dù có những thế bất lợi nhất định nhưng doang nghiệp vừa và nhỏ
với những tính chất, đặc điểm và lợi thế của nó, nên các doanh nghiệp này có vị
trí và vai trò tác động kinh tế-xã hội rất lớn.
Thứ nhất, các DNV & N có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa số
về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia
tăng mạnh. ở hầu hết các nước doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng trên dưới
90 % tổng số các doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng các doanh nghiệp vừa và nhỏ
nhanh hơn các doanh nghiệp lớn. Hiện nay, chưa có số liệu thống kê về doanh
nghiệp vừa và nhỏ một cách chính thức, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều
cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cũng chiếm khoảng 80-90%
tổng số các doanh nghiệp.
Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự
tăng trưởng của nền kinh tế. chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu
nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở

4
Báo cáo: Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành
chính phát triển DNVVN ở Việt Nam- Trong khuôn khổ dự ánUNIDO-MPI-
US/VIE/95/004, tr 5
5
Báo cáo: Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành
chính phát triển DNVVN ở Việt Nam- Trong khuôn khổ dự ánUNIDO-MPI-
US/VIE/95/004, tr 6

xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn đề huy
động vốn của dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước.
Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển
mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại- dịch vụ phát triển. Sự phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ
và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Các
doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp.
Thứ bảy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào đô thị hoá phi tập
trung và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”. Sự phát triển của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn sẻ thu hút những người lao động thiếu
hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ trong các kỳ
nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp
sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống tại quê hương bản
quán,không phải di chuyển đi xa, thực hiên phương châm “ly nông bất ly
hương”. Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khá tập trung các cơ sở
công nghiêp và dịch vụ ngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành nhứng thị tứ,

nhờ sự tài ba của mình, biết chớp thời cơ, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khéo
điều hành và tổ chức sắp xếp công việc, cần cù,chịu khó, tiết kiệm đã thành đạt,
ngày càng giàu lên, tích luỹ được nhiều của cải, tiền vốn, thường xuyên mở rộng
quy mô sản xuất-kinh doanh, đến một lúc nào đó, lực lượng lao động của gia
đình không đảm đương hết công việc, cần phải thuê thêm người làm và họ trở
thành ông chủ. Ngược lại , một bộ phận nguời sản xuất hàng hoá nhỏ khác, hoặc
do không gặp vận may trong sản xuất-kinh doanh và đời sống, hoặc do kém cỏi
không biết chớp thời cơ, không có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, không biết tính
toán quản lý và điều hành doanh nghiệp đã dẫn đến thua lỗ triền miên, buộc
phải bán tư liệu sản xuất, đi làm thuê cho người khác. Những giai đoạn đầu, các
ông chủ và những người thợ cùng lao động trực tiếp với nhau và những người
làm thuê thường là bà con họ hàng của ông chủ sau đó thì mở rộng dần ra. Các
học giả thường xếp loại này vào phạm trù DNV & N.
Trong quá trình sản xuất- kinh doanh, một số người thành đạt đã phát triển
doanh nghiệp của mình, bằng cách mở rộng sản xuất kinh doanh, và như vậy nhu
cầu về vốn sẻ đòi hỏi nhiều hơn. Nhu cầu về vốn ngày càng tăng, nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất- kinh doanh đã thôi thúc các nhà doanh nghiệp, hoặc một số
người cùng nhau góp vốn thành lập xí nghiệp sản xuất-kinh doanh, hoặc phát
hành cổ phiếu thành lập công ty cổ phần. bằng cách liên kết ngang, dọc hoặc hổn
hợp, nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều doanh nghiệp lớn hình thành và phát triển.
Nền kinh tế một quốc gia là tổng hợp các doanh nghiệp lớn, bé tạo thành.
Phần đông các doanh nghiệp lớn trưởng thành, phát triển từ các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Quy luật đi từ nhỏ đến lớn là con đường tất yếu của sự phát triển bền
vững mang tính phổ biến của đại đa số các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường . Đồng thời, sự tồn tại đan xen và kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp
làm cho nền kinh tế của mỗi nước khắc phục được tính đơn điệu, xơ cứng, tạo
nên sự đa dạng, phong phú, linh hoạt, vừa đáp ứng những nhu cầu phát triển đi

vừa và nhỏ nước ta đang gặp khó khăn đối với thị trường các yếu tố đầu vào, cản
trở không ít tới quá trình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khắc phục vấn
đề này cũng là những đòi hỏi cấp thiết để tạo điều kiện cho sự phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta.
2. Về vốn tài chính
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần vốn tài chính. Qua sự vận động
của vốn có thể xác định được trạng thái hoạt động của doanh nghiệp. điều kiện về
vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay rất hạn hẹp và gặp khó
khăn rất lớn. Sự thiếu vốn của chúng đang diễn ra trên bình diện khá rộng. Bởi
vì, quy mô vốn tự có của nó đều rất nhỏ, hạn hẹp, không đủ tài trợ cho các hoạt
động sản xuất-kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt đối với những doanh nghiệp
muốn mở rộng, phát triển quy mô và đổi mới nâng cấp, phát triển công nghệ. Mặt
khác, thị trường vốn dài hạn, thị trường chứng khoán, về cơ bản nước ta chưa có.
Và nếu có thì khả năng tham gia thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ là rất hạn chế, hiếm hoi. Đồng thời, khả năng và điều kiện tiếp cận
các nguồn vốn trên thị trường tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là
rất hạn chế và gặp khó khăn lớn, là do: không đủ tài sản thế chấp; mức lãi suất
khá cao so với lợi nhuận thu được, khối lượng cho vay ít, thời hạn cho vay quá
ngắn, thủ tục rườm rà phiền hà; hình thức và thể chế tín dụng, nhất là khu vực
nông thôn, còn nghèo nàn, đơn điệụ và hiệu lực pháp lý không cao. Những khó
khăn đó rất cần được giải quyết để tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
3. Về thiết bị - công nghệ
“Bộ ba vốn-thị trường-công nghệ” luôn là vấn đề cốt lõi của mỗi doanh
nghiệp, trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều kiện thiết bị công nghệ sẻ tác
động trực tiếp tới năng suất, chất lượng sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp nâng
cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

nghiệp
Sự hoạt động sản xuất-kinh doanh trên thương trường với sức cạnh tranh
khốc liệt đầy cam go, đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải có trình độ kiến thức
cao, năng lực quản lý giỏi, mới có thể thành đạt trong quản lý kinh doanh, đưa
doanh nghiệp của mình ngày càng phát triển. Mỗi chủ doanh nghiệp phải biết thu
thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các loại thông tin kinh tế, kỹ thuật, biết đề ra
những chiến lược đúng đắn và đưa ra những quyết định sáng suốt, kịp thời. Đồng
thời, chủ doanh nghiệp phải biết quản lý, giám sát, điều hành công việc của
những người lao động một cách hợp lý, có hiệu quả, biết đánh giá, động viên,
khuyến khích, thưởng phạt và trả công chính xác, tương xứng với những đóng
góp của họ vào kết quả chung của xí nghiệp.
Nhìn lại đội ngũ các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay cho
thấy, họ có nhiều bất cập với đòi hỏi của kinh doanh trong thương trường hiện
đại. Đại đa số họ chỉ có trình độ kiến thức phổ thông cấp II
(45-50%), một số không nhiều có trình đồ văn hoá phổ thông trung học, cao đẳng
và đại học (30-40%). Còn một bộ phận đáng kể có trình độ tiểu học (10-15%).
Chỉ có rất ít các chủ doanh nghiệp được đào tạo kiến thức quản lý chính quy, một
số ít (20-30%) được tập trung đào tạo ngắn hạn (dưới 6 tháng), còn lại đại đa số
chỉ quản lý doanh nghiệp mình bằng kinh nghiệm. Đây là một điểm yếu rất lớn
và là một khó khăn quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có sự
giúp đỡ từ phía nhà nước và các tổ chức phi chính phủ.
6

6. Về trí thức và trình độ tay nghề của lực lượng lao động
Trình độ tri thức và tay nghề của ngừơi lao động làm việc trong các doanh
nghiệp cũng rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của chúng . Những
người có trí thức, tay nghề sẻ sử dụng tốt các loại thiết bị công nghệ cao, phức

yêu cầu của sản xuất-kinh doanh trong điều kiên thị trường và cuộc cách mạnh
khoa hoc-công nghệ hiện đại.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có bộ phận chuyên trách về thu thập
và xử lý thông tin. Nguồn vốn tài chính có hạn, chúng không đủ kinh phí để mua
sắm các thiết bị phục vụ công tác thông tin nhanh chóng, kịp thời nói riêng và chi
phí cho hoạt động tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin nói chung. Trình độ tri thức
và năng lực thu thập, xử lý thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất
hạn chế. Cho nên, khả năng tiếp cận thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
nước ta hiện rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn, rất cần sự giúp đỡ để cải thiện
tình hình.
8. Về hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước
Hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước tác động tới toàn bộ
mọi mặt trong đời sống xã hội, trong đó có sự hình thành và phát triển của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chúng hoặc là tạo điều kiện thuận lợi, hoặc là gây khó
khăn cản trở đối với sự ra đời, hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong những năm đổi mới, hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến
khu vực ngoài quốc doanh (trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu) đã
được hình thành và đổi mới từng bước với những kết quả tích cưc. Chúng đã tạo
điều kiện khuyến khích, thúc đẩy sự hình thành và phát triển khá mạnh mẽ đối
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên, hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành vẫn còn thiếu đồng
bộ, nhất quán và kém hoàn thiện. Chúng vẫn chưa tạo ra môi trường hoạt đông
thông thoáng và bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiêp, chưa khuyến khích
các doanh nghiệp hoạt đông sản xuất-kinh doanh có hiệu quả và tuân theo pháp
luật, đặc biệt là các chính sách đất đai, thuế khoá, tín dụng và xuất nhập khẩu
Điều đó đòi hỏi phải có sự đổi mới, hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách và
pháp luật của Nhà nước để tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành và phát

cũng có những nhược điểm làm cản trở rất lớn tới sự hình thành và phát triển của
các doanh nghiệp trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và cuộc cách mạng
khoa học công nghệ hiên đại. Đó là tính chất hẹp hòi, đố kỵ, bản kỵ và khép kín
ngay trong từng gia đình giòng họ và làng thôn. chính đó là những tác nhân chủ
yếu làm giam hãm xã hội nông thôn Việt Nam trong lịch sử cho đến ngày nay
chưa vượt qua được vòng cương toả của sự đói nghèo và lạc hậu. Mặc dù hiện
nay, mức độ và phạm vi của những tính chất tiêu cực đó không còn sâu nặng như
trước và đã được giải toả rất nhiều, song sự hình thành và phát triển của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện hiện đại đòi hỏi phải khắc phục và giải
toả hoàn toàn những tính chất tiêu cực nói trên.
II. sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ, có những giai
đoạn phát triển, nhưng mức độ có khác nhau trong từng thời kỳ nhất định.
Theo tôi có thể chia làm hai thời kỳ chính để nghiên cứu về loại hình doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Thời kỳ thứ nhất là những năm 1986 trở về trước và thời kỳ
sau năm 1986. ở thời kỳ thứ nhất loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ nhìn chung
chưa phát triển mạnh, chủ yếu tồn tại và phát triển ở hai loại hình doanh nghiệp
là HTX và DNNN, còn mang nặng tính chất hoạt động của thời kỳ kế hoạch hoá,
tập trung quan liêu bao cấp. ở thời kỳ thứ hai, nhìn chung do chính sách cởi mở
hơn về kinh tế của Đảng và Nhà nước, do sự thúc ép cấp bách về vấn đề giải
quyết việc làm cho người lao động: Tăng trưởng lao động tự nhiên hàng năm dư
thừa lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp, DNNN trải qua giai đoạn cũng cố
sắp xếp lại, sự trở về của hàng vạn lao động từ Liên Xô (cũ) và Đông Âu, hồi
hương của những người di tản Do đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu thuộc
thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ về số lượng, ở các nghành, lĩnh
vực kinh tế và các vùng lãnh thổ, đóng góp rất quan trọng và việc thu hút nguồn
lao động, nâng cao thu nhập cho người lao động và là động lực tăng trưởng nền

90,95
100,00

8,70

91,30
100,008,6691,34

2. Tỷ trọng của khu vực
quốc doanh trong GDP
(%)
32,50 33,30 36,02 39,20 40,20 57,80
3. Tỷ trọng khu vực tư
nhân trong GDP (%)
67,50 66,70 63,80 60,80 59,80 57,80
Nguồn: Tổng cục Thống Kê
Theo số liệu ở bảng 2, cho thấy khu vực kinh tế tư nhân mà chủ yếu là loại
hình doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút một lực lượng lao động với tỷ trọng lớn (
bình quân 90% ), năm sau cao hơn năm trước. Nhưng thực tế tỷ trọng GDP của
khu vực nhà nước lại tăng cao hơn khu vực tư nhân. Mặc dù số lượng doanh
nghiệp nhà nước giảm mạnh từ trên 12.000 doanh nghiệp năm 1995 (trong đó
86% là doanh nghiệp vừa và nhỏ) xuống còn gần 6.000 doanh nghiệp (giảm 50%
tính đến tháng 6 năm 1996).
Theo số liệu thống kê năm 1996 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta gồm

III. Những giải pháp nhằm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt
nam

8
Tham khảoTạp chí: Kinh tề & Dự báo- số 9 năm - 1998 Tác giả Đổ Văn
Hải
1. Những giải pháp quản lý
Trên cơ sở kinh nghiệm nước ngoài và thực tế những khó khăn, yếu kém
của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, có thể nêu
lên một số vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp vừa và
nhỏ: khó khăn về vốn, chi phí vận chuyển cao, công nghệ kỹ thuật thấp, nhu cầu
đào tạo chưa được đánh giá đúng, khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào, hạn
chế về cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất kinh doanh
Để giúp các doang nghiệp vừa và nhỏ vươn lên khắc phục khó khăn phấn
đấu giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị
trường, thì cần phải có sự hỗ trợ, theo hướng hoàn thiện, đổi mới chính sách quản
lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, tôi nêu lên một số giải pháp quản
lý để phát triển loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau:
1.1 Thiết lập hệ thống luật pháp và tổ chức quản lỳ DNV&N
Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động
bằng cách nghiên cứu ban hành các bộ luật và các văn bản pháp quy để bổ sung,
hoàn chỉnh môi trường pháp luật về kinh doanh: Luật thương mại, Luật ngân
hàng, Luật kiểm toán, Luật về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chính phủ thống nhất quản lý, kiểm tra, giám sát, hổ trợ và cấp giấy phép
cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động thông qua một cơ quan quản lý với một
tổ chức bộ máy, có thể gọi là cục quản lý hỗ trợ DNV & N thuộc Bộ Kế họach &
Đầu tư, theo thủ tục “một cửa” về mặt quản lý hành chính nhà nước.

được khấu trừ trước khi tính thuế cả năm. Nên có chính sách thuế ưu đãi theo
quy mô doanh nghiệp và theo một số nghành mà nhà nước khuyến khích các
doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển đồng thời cần phải thống nhất các ưu đãi về
thuế, không phân biệt loại hình doanh nghiệp.
Hiện nay tỷ lệ vốn tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ
rất thấp, vì vậy nên có quy định về việc các ngân hàng phải tăng tỷ lệ cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vay trong tổng dư tín dụng. Thông thường các doanh
nghiệp vừa và nhỏ không có khả năng thế chấp để vay vốn, do đó cần thành lập
một quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quỹ này sẽ bảo lãnh
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với phần vốn vay còn thiếu thế chấp tại các
ngân hàng. Nguồn của quỹ này có thể lấy từ nguồn đóng góp của các ngân hàng,
tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp và hiệp hội. Các quỹ này này bảo lãnh không
chỉ phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà còn tạo điều kiện để các
ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoạt động tốt hơn trong lĩnh vực cung cấp tài
chính vì họ được chia sẽ rủi ro. Sự tồn tại của hệ thống tài chính phi chính thức
làm cho chi phí giao dịch tín dụng và rủi ro cao. Vì vậy hệ thống ngân hàng và
các tổ chức tài chính trung gian cần được phát triển mạnh hơn để các doanh
nghiệp vừa và nhỏ dựa vào đó phát triển thay vì phải dựa vào khu vực tài chính
phi chính thức như hiện nay.
1.3 Chính sách thị trường và cạnh tranh
Nhà nước cần có những biện pháp thị trường cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
thông qua một chính sách chung dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, không phân
biệt thành phần kinh tế. Chính sách này trước hết phải bảo đảm sự cạnh tranh
bình đẳng, không có hiện tượng độc quyền, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trước doanh nghiệp lớn. Trong vấn đề thị trường và cạnh tranh, sự hỗ trợ của Nhà
nước có thể tiến hành thông qua một số biện pháp sau:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào dự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status