Lời nói đầu
Thời gian qua cùng với sự hình thành và phát triển của các loại hình
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phát
triển một cách mạnh mẽ, đóng góp một vai trò quan trọng vào sự phát triển
chung của nền kinh tế nớc ta. Tuy nhiên hiện nay chúng ta cha có một chính
sách đồng bộ nhằm tạo điều kiện cho loại hình doanh nghiệp này phát triển.
Đứng trớc yêu cầu trên Nhà nớc cần phải đa ra một hệ thống chính sách
nhằm khuyến khích, tạo điều kiên phát triển loại hình doanh nghiệp này. Về
cơ bản, loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiên nay chủ yếu
thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, vì vậy với đề tài " Phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trớng ở Việt Nam" chủ yếu
tập trung vào nghiên cứu thực trạng, giải pháp nhằm phát triển khu vực doanh
nghiệp này. Với mục đích nghiên cứu trên đề tài đợc chia thành ba phần.
Phần I : Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Phần này nghiên cứu một cách khái quát loại hình doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
Phần II : Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị
trờng ở Việt Nam.
Đây là phần chính của đề tài, với phấn này sẻ nêu lên những điếu kiện
để phát triển các doang nghiệp vừa và nhỏ đồng thời nêu lên thực trạng phát
triển loại hình doanh nghiệp này thời gian qua ở nớc ta từ đó đa ra những
kiến nghị về mặt quản lý cùng nh những kiến nghị về mặt tổ chức điều hành
từ phìa các doanh nghiệp.
Phần III : Kinh nghiệm phát triển và quản lý doanh nghiệp vừa và
nhỏ của một số nớc trên thế giới.
1
Với phần này sẻ nêu lên một số kinh nghiệp của các nớc trên thế giời,
từ các nớc phát triển đến các nớc đang phát triển từ đó rút ra những bài học
ứng dụng vào Việt Nam.
2
Phần I
xuyên và doanh thu dới 500.000 USD/năm (nếu là bán lẻ) và dới 250.000
USD/ năm (nếu là bán buôn) đợc coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số
này doanh nghiệp nào có dới 5 lao động thòng xuyên đợc coi là doanh nghiệp
nhỏ
1
(các tiêu thức này đợc xác định từ những năm 70, đến nay tiêu thức về
lao động đã thay đổi từ 2 đến 3 lần và vốn đã tăng hàng chục lần).
Nhật Bản: là một nớc đã tạo nên huyền thoại thần kỳ trong phát triển
kinh tế vào những năm của thập kỷ 50 đến thập kỷ 70. Từ những năm 60,
Nhật Bản có đạo luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định
doanh nghiệp vừa và nhỏ nh sau:
Đối với doanh nghiệp sản xuất: doanh nghiệp có dới 300 lao động và
một khoản t bản hoá (vốn đầu t) dới 100 triệu Yên (tơng đơng với 1. 000. 000
USD) đợc coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này, doanh nghiệp nào
có dới 20 lao động đợc coi là doanh nghiệp nhỏ.
Đối với doanh nghiệp bán buôn: doanh nghiệp có dới 100 lao động
hoặc có một khoản t bản hoá dới 30 triệu Yên (tơng đơng 100.000 USD) đợc
coi là doanh nghiệp nhỏ.
Đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ: doanh nghiệp có dới 50 lao
động hoặc một khoản t bản hoá dới 10 triệu yên (tơng đơng 100. 000 USD)
đợc coi là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Trong số này, doanh nghiệp
nào có dới 5 lao động đợc coi là doanh nghiệp nhỏ (những tiêu thức này nay
đợc xác định từ những năm 60, hiên nay vốn đã tăng lên hàng chục lần)
2
.
Trong khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhật Bản chỉ quan tâm
đến hai tiêu thức là vốn và lao động. Đối với tiêu thức lao động của loại hình
doanh nghiệp nhỏ, Nhật Bản quan niệm gần giống với Hàn Quốc, rất thấp so
1
Thông tin phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, 1/1997, tr 2.
chỉ có tính ớc lệ, bản thân các tiêu chí đó cha đủ xác định thế nào là khu vc
DNV & N ở Việt Nam, bởi vì có rất nhiếu các quan điểm khác nhau về việc
các đối tợng, các chủ thể kinh doanh đợc coi là thuộc về hoặc không thuộc về
khu vực DNV & N. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng cần quy định rõ DNV & N
ở Việt Nam là cơ sở sản xuất có đăng ký, không phân biệt thành phần kinh
3
Thông tin phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, 1/1997, tr3
5
tế, có quy mô về vốn và/ hoặc lao động thoả mãn qui định của Chính phủ đối
với từng ngành nghề tơng ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
Một số tiêu chí xác định DN vừa và nhỏ đã đợc áp dụng ở Việt Nam
Cơ quan, tổ chức đa ra
tiêu chí
Vốn Doanh thu Lao động
Ngân Hàng công Th-
ơng Việt Nam
Vốn cố định dới 10 tỷ
đồng, vốn lu động dới 8
tỷ đồng
dới 20 tỷ
đồng/tháng
Dới 500 ngòi
Liên Bộ Lao Động &
Tài chính
Vốn pháp định dới 1 tỷ
đồng
dới 1 tỷ
đồng/năm
dới 100 ngời
Dự án VIE/US/95 (Hỗ
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần vốn đầu t ban đầu ít, hiệu quả cao, thu
hồi vốn nhanh.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ suất đầu t trên lao động thấp nhiều so
với doanh nghiệp lớn, vì vậy nó có hiệu suất tạo việc làm cao.
- Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ
gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều hành mang tính trực tiếp.
- Quan hệ giữa ngời lao động và ngời quản lý (quan hệ chủ- thợ) trong
các doanh nghiệp vừa và nhỏ khá chặt chẻ.
- Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ảnh
hởng rất ít hoặc không gây khủng hoảng kinh tế- xã hội, đồng thời ít
chịu ảnh hởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền.
1.2 Những bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Bên cạnh những lợi thế kể trên doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có những
bất lợi so với doanh nghiệp có quy mô lớn.
- Thông thờng các doanh nghiêp vừa và nhỏ thờng có nguồn tài chính
hạn chế.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu.
Khả năng đổi mới công nghệ hay áp dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật
vào sản xuất là hạn chế.
- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ bị hạn chế rất nhiều.
7
- Trình độ quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn bị hạn chế.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng suất lao động và sức cạnh
tranh kinh tế thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn.
2. Vai trò và tác động kinh tế-xã hội của DNV & N
Mặc dù có những thế bất lợi nhất định nhng doang nghiệp vừa và nhỏ
với những tính chất, đặc điểm và lợi thế của nó, nên các doanh nghiệp này có
vị trí và vai trò tác động kinh tế-xã hội rất lớn.
Thứ nhất, các DNV & N có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa
5
Thứ t, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm năng động nền kinh
tế trong cơ chế thị trờng, do lợi thế quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh
hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự
kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp đợc với những
đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng.
Thứ năm, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút đợc khá nhiều vốn ở
trong dân. Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân c và yêu cầu về số
lợng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ cố tác
dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng
lớp dân c đầu t vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu t vào
sản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn
đề huy động vốn của dân c theo luật khuyến khích đầu t trong nớc.
Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển
mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thơng mại- dịch vụ phát triển. Sự phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp,
dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu
công nghiệp.
Thứ bảy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào đô thị hoá phi tập
trung và thực hiện phơng châm ly nông bất ly hơng. Sự phát triển của các
5
Báo cáo: Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính phát triển DNVVN ở Việt
Nam- Trong khuôn khổ dự ánUNIDO-MPI-US/VIE/95/004, tr 6
9
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn sẻ thu hút những ngời lao động thiếu
hoặc cha có việc làm và có thể thu hút lợng lớn lao động thời vụ trong các kỳ
nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, rút dần lao động làm nông
khéo điều hành và tổ chức sắp xếp công việc, cần cù,chịu khó, tiết kiệm...đã
thành đạt, ngày càng giàu lên, tích luỹ đợc nhiều của cải, tiền vốn, thờng
xuyên mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, đến một lúc nào đó, lực lợng
lao động của gia đình không đảm đơng hết công việc, cần phải thuê thêm ng-
ời làm và họ trở thành ông chủ. Ngợc lại , một bộ phận nguời sản xuất hàng
hoá nhỏ khác, hoặc do không gặp vận may trong sản xuất-kinh doanh và đời
sống, hoặc do kém cỏi không biết chớp thời cơ, không có sáng kiến cải tiến
kỹ thuật, không biết tính toán quản lý và điều hành doanh nghiệp... đã dẫn
đến thua lỗ triền miên, buộc phải bán t liệu sản xuất, đi làm thuê cho ngời
khác. Những giai đoạn đầu, các ông chủ và những ngời thợ cùng lao động
trực tiếp với nhau và những ngời làm thuê thờng là bà con họ hàng của ông
chủ sau đó thì mở rộng dần ra. Các học giả thờng xếp loại này vào phạm trù
DNV & N.
Trong quá trình sản xuất- kinh doanh, một số ngời thành đạt đã phát
triển doanh nghiệp của mình, bằng cách mở rộng sản xuất kinh doanh, và nh
vậy nhu cầu về vốn sẻ đòi hỏi nhiều hơn. Nhu cầu về vốn ngày càng tăng,
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh đã thôi thúc các nhà doanh
nghiệp, hoặc một số ngời cùng nhau góp vốn thành lập xí nghiệp sản xuất-
kinh doanh, hoặc phát hành cổ phiếu thành lập công ty cổ phần. bằng cách
liên kết ngang, dọc hoặc hổn hợp, nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều doanh nghiệp
lớn hình thành và phát triển.
Nền kinh tế một quốc gia là tổng hợp các doanh nghiệp lớn, bé tạo
thành. Phần đông các doanh nghiệp lớn trởng thành, phát triển từ các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Quy luật đi từ nhỏ đến lớn là con đờng tất yếu của sự phát
triển bền vững mang tính phổ biến của đại đa số các doanh nghiệp trong nền
11
kinh tế thị trờng . Đồng thời, sự tồn tại đan xen và kết hợp các loại quy mô
doanh nghiệp làm cho nền kinh tế của mỗi nớc khắc phục đợc tính đơn điệu,
xơ cứng, tạo nên sự đa dạng, phong phú, linh hoạt, vừa đáp ứng những nhu
cầu phát triển đi lên lẫn những biến đổi nhanh chóng của thi trờng trong điều