LUẬN VĂN: Kinh tế nông nghiệp và vai trò chủ đạo của nó trong nền Kinh tế thị trường ở Việt Nam - Pdf 30


LUẬN VĂN:
Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam ta hiện nay
Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó
trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay.
I.Tính tất yếu tồn tại thành phần kinh tế nhà nước.
1.Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều đặc điểm, nhưng đặc điểm nổi bật là
cơ cấu của nền kinh tế có kinh tế nhiều thành phần. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tồn
tại không phải do ý kiến chủ quan của nhà nước; nó xuất hiện, tồn tại và phát triển phụ
thuộc vào những tiền đề kinh tế và chính trị khách quan của nền kinh tế. Trong cơ cấu
này, mỗi thành phần kinh tế luôn có vai trò, vị trí và vận động, phát triển theo một xu
hướng nhất định. Xuất phát từ qui luật vốn có của nền kinh tế thị trưòng có thể thấy các
thành phần kinh tế đều vận động hướng tới mục tiêu lợi ích. Sự vận động này cũng có
thể khác hướng, thậm chí ngược chiều nhau tuỳ theo mục tiêu ấy là gì, ai là chủ thể của
lợi ích được tạo ra, việc phân chia và sử dụng lợi ích đó như thế nào.
Trong suốt 15 năm qua, nhất là từ Đại Hội VI đến nay, trên cơ sở tư duy ngày càng
rõ hơn về thực tiễn của đất nước và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã
không ngừng đổi mới quan điểm, chính sách về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế.
Điều này được thể hiện tóm tắt trên 6 điểm lớn:
 Thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần: mỗi thành phần đều có vị
trí quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp cũng đan xen nhiều
hình thức sở hữu, thực hiện sự bình đẳng về cạnh tranh để phát triển.
 Sở hữu nhà nước có thể tồn tại ở nhiều hình thức tổ chức kinh tế, kinh tế nhà
nước có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế vì nó chiếm lĩnh một số ngành, lĩnh vực
rất cơ bản. Do đó nó có thể làm đòn bẩy thúc đẩy nhanh chóng tăng trưởng kinh tế
và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh
tế khác cùng phát triển, làm chỗ dựa để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và

khác nhau tuỳ theo từng giai đoạn phát triển. ở bất kỳ nước nào dù kém phát triển, đang
phát triển hay phát triển thì chức năng kinh tế của nhà nước luôn gắn liền và thể hiện
thông qua các hoạt động kinh tế của nhà nước trên cơ sở tiềm lực vật chất của nhà nước.
Nhà nước còn có lực lượng vật chất mạnh trong tay để chi phối, hướng dẫn, điều tiết sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Lực lượng vật chất này cùng với luật pháp, kế hoạch,
chính sách tạo cho nhà nước một sức mạnh làm cho nền kinh tế phát triển theo đúng
định hướng đã định.
ở nước ta, sau khi đất nước giành được độc lập, chúng ta đã phiến diện và giản đơn
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp
ngày càng tỏ ra không phù hợp, đã bộc lộ rất rõ nét những nhược điểm căn bản làm thui
chột tính năng động sáng tạo, không phát huy tối đa được các tiềm lực tồn tại trong nền
kinh tế.
Trước tình hình đó tại Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng tađã đề ra chủ
trương đối với nền kinh tế một cách toàn diện, chuyển nền kinh tế tập trung sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thừa nhận sự tồn tại khách quan
của 5 thành phần kinh tế, mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất
định.
 Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu
sản xuất. Vệc tổ chức kinh doanh tiến hành theo nguyên tắc hạch toán kinh tế và
tiến hành phân phối theo lao động. Đây là thành phần kinh tế đại diện cho quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
 Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể. Nó bao gồm
những đơn vị do những người lao động góp vốn, góp sức sản xuất kinh doanh theo
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi. Nó được phát triển dưới nhiều hình
thức đa dạng từ thấp tới cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã.
 Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa và sử dụng lao động làm thuê, trả lương như các công ty trách nhiệm hữu

liên tục trong tái sản xuất xã hội.
 Những ngành kinh tế chiến lược bảo đảm đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ
thuật như: kỹ thuật hàng không vũ trụ, năng lượng nguyên tử, chế tạo ô tô…
 Những ngành thuộc về sản xuất và dịch vụ các loại hàng hoá công cộng cần
thiết cho sinh hoạt xã hội được nhà nước trợ cấp hoặc bù lỗ như: giáo dục, y tế, văn
hoá, bảo vệ môi trường…
Như vậy, dù phát triển theo định hướng nào mỗi nước đều phải có khu vực kinh
tế nhà nước. Sự khác nhau chủ yếu ở mức độ chiếm giữ của sở hữu nhà nước trong các
ngành, các lĩnh vực cũng như mục tiêu và cách thức hoạt động của các doanh
nghiệp nhà nước. 3.Các bộ phận cấu thành kinh tế nhà nước.
Kinh tế nhà nước được thể hiện dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau với các
tổ chức tương ứng như hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, các hoạt động
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội mà ở đó nhà nước được biểu hiện như một chủ
sở hữu, chủ thể kinh doanh, người tham gia. Nghĩa là kinh tế nhà nước có nhiều bộ phận
hợp thành, mỗi bộ phận hợp thành kinh tế nhà nước có chức năng và nhiệm vụ khác
nhau.
a.Nếu xét theo lĩnh vực hoạt động thì kinh tế nhà nước bao gồm các hoạt động kinh
tế của nhà nước trong việc:
Quản lý, khai thác, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên tự nhiên nhằm mục
dích phát triển kinh tế xã hội.
Đầu tư, quản lý và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật như: bến bãi, cảng,
đường xá, các khu công nghiệp tập trung…nhằm tạo điều kiện chung thuận lợi cho nền
kinh tế phát triển.
Các hoạt động kinh tế trong công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ; trong

Hệ thống doanh nghiệp nhà nước: theo luật doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam
năm 1995, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập
và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích, nhằm thực hiện mục tiêu kinh
tế xã hội do nhà nước giao cho. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các
quyền và nghĩa vụ dân sự. Đây là một bộ phận chính yếu của kinh tế nhà nước, đóng vai
trò then chốt là một lực lượng vất chất cơ bản, đảm bảo cho viêc thực hiện các mặt trân
kinh tế xã hội của đất nước.
c.Xét theo mục tiêu hoạt động.
Các doanh nghiệp nhà nước được chia làm ba nhóm với những tiêu chí tương ứng
để đánh giá kết quả hoạt động:
Nhóm I: Nhóm các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Các doanh nghiệp
này hoạt động theo các chính sách xã hội của nhà nước phục vụ cho lợi ích của toàn xã
hội hay lợi ích công cộng, chuyên sản xuất hàng quốc phòng, an ninh, y tế, văn
hoá…Mục đích hoạt động của nhóm này không phải vì lợi nhuận mục tiêu phát triển của
nó là sự ổn định và an toàn xã hội gắn với môi trường kinh tế-xã hội-chính trị.
Nhóm II: nhóm các doanh nghiệp hoạt động bán công ích. Về thực chất, hoạt động
của nhóm này là bán kinh doanh, là loại doanh nghiệp nửa bao cấp nửa kinh doanh. Loại
doanh nghiệp này được nhà nước hỗ trợ một phần.
Nhóm III: nhóm các doanh nghiệp thuần tuý kinh tế. Mục đích hoạ động của nhóm
này là sản xuất và kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Nếu như nhóm II chỉ trong chừng
mực nào đó chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường thì nhóm này hoàn toàn
bình đẳng với các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong cạnh tranh trên
thị trường.
Xuất phát từ những yếu tố trên, đối với mỗi nhóm hay đối với mỗi loại hình doanh
nghiệp cần phải xác định một cơ chế quản lý mang tính đặc thù riêng.
4.Vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước đối với các thành phần kinh tế khác.
a.Giai đoạn trước năm 1986.

Nền kinh tế nhiều thành phần tồn tại với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, trong
đó mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận không thể tách rời, vì nó đều nằm trong tổng
thể của nền kinh tế quốc dân. Các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập mà đan xen
nhau, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ thông qua liên doanh, liên kết và tác động qua
lại lẫn nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn. Tính thống nhất thể hiện ở chỗ các thành
phần kinh tế đều nằm trong cơ cấu thống nhất, luôn biến đổi, phát triển và đều chịu sự
điều tiết vĩ mô của nhà nước. Các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh, vừa hợp tác để
nâng cao hiệu quả kinh tế của các nguồn lực, huy động tối đa sức mạnh và lợi thế của
từng thành phần vào việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước.
Các thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu đặc thù và mục tiêu, lợi ích riêng
mà nó hình thành. Do đó tất yếu sẽ tồn tại những mâu thuẫn, điển hình là mâu thuẫn
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Tuy nhiên mỗi chế độ xã hội bao giờ cũng có một
phương thức sản xuất thống trị. Đó là một sự thật đã từng và sẽ tồn tại trong lịch sử.
Trên cơ sở kinh tế đó mà dựng lên kiến thức thượng tầng, quan trọng nhất là chế độ
chính trị thích ứng với nó, chúng ta đã lựa chọn chế độ chính trị là chế độ xã hội chủ
nghĩa thì tất yếu chúng ta phải có một cơ sở kinh tế đảm bảo cho định hướng đã lựa
chọn.
Chủ nghĩa xã hội vươn tới là sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, thích ứng với nó
chỉ có kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể mới có thể tạo được một nền tảng vững
chắc cho cơ sở kinh tế xây dựng lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sự phát triển kinh tế
nhiều thành phần không phải là phát triển theo bất kỳ xu hướng nào mà phải có định
hướng cụ thể phù hợp với mục tiêu chính trị xã hội mà Đảng và nhà nước ta đã lựa chọn.
Xét trên giác độ này thì kinh tế nhà nước có thể nói là một công cụ đắc lực để nhà nước
thông qua nó hỗ trợ, hướng dẫn định hướng cho các thành phần kinh tế khác cũng phát
triển theo con đường mà Đảng và nhà nước ta đã đề ra.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) đã nêu lên sáu thành phần kinh
tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân,

Trước đây chúng ta lý giải vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế được thể hiện ở
phạm vi của nó chiếm hữu trong nền kinh tế, ở tính hiệu quả hơn, ưu việt hơn hẳn của
nó so với các thành phần kinh tế khác. Nhưng qua quá trình thực tiễn cùng với đổi mưói
tư duy thì thành phần kinh tế chủ đạo phải là thành phần kinh tế chi phối, làm thay đổi
và xác định phương hướng hoạt động của các thành phần kinh tế khác, hướng tới mục
tiêu kinh tế-chính trị-xã hội mà Đảng và nhà nước đã chọn. Vì bản chất cốt lõi của một
chế độ xã hội sẽ quyết định tính chất chủ đạo của nền kinh tế.
Đối với một nước đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội như nước ta thì
kinh tế nhà nước cần và có thể giữ vai trò chủ đạo vì những lý do sau đây:
 Thứ nhất: kinh tế nhà nước dựa trên chế độ công cộng về tư liệu sản xuất, là
chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hoá của lực lượng sản xuất.
 Thứ hai: kinh tế nhà nước đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến trong
nền kinh tế, tạo ra cơ sở kinh tế cho chế độ xã hội mới- xã hội xã hội chủ nghĩa.
 Thứ ba: kinh tế nhà nước nắm giữ những vị trí then chốt, xương sống của nền
kinh tế, do đó nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần
kinh tế khác, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo hướng đã định.
 Thứ tư: kinh tế nhà nước là lực lượng bảo đảm cho sự phát triển ổn định của
nền kinh tế, là lực lượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn giúp đỡ và liên
kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
 Thứ năm: kinh tế nhà nước có thể tác động tới các thành phần kinh tế khác
không chỉ bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế mà còn bằng con đường gián tiếp,
thông qua những thiết chế và hoạt động của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa.
 Thứ sáu: kinh tế nhà nước dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ
hiện đại, tiên tiến. Do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh, đóng góp phần lớn cho
ngân sách nhà nước và sự tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng.
 Thứ bảy: kinh tế nhà nước là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm
kinh tế, đô thị mới, là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí

Thiết lập chế độ công hữu là quá trình lâu dài, không thể tiến hành bằng những biện
pháp chủ quan duy ý trí như trước đây đã từng tiến hành. Nước ta đang trong thời kỳ
quá độ tiến lên xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần.
Định hướng trong kinh tế đòi hỏi phải có vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Với tiềm lực vật chất to lớn, gồm nhiều bộ phận hợp thành mà không một thành
phần kinh tế nào có được và trên nền tảng sở hữu toàn dân và quyền lực chính trị của
nhà nước, kinh tế nhà nước của chúng ta có đầy đủ tiền đề để thực hiện vai trò chủ đạo.
Tuy nhiên trong thực tế, để thực hiện được vai trò chủ đạo, bản thân khu vực kinh tế nhà
nước phải đủ mạnh, có thực lực thật sự. Bởi vì: “lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ
bằng lực lượng vật chất”, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước phải được thông qua lực
lượng vật chất để cải tạo các thành phần kinh tế khác đi theo quỹ đạo chung, không thể
lấy ý muốn chủ quan hay ý trí chính trị áp dụng cho nó. ý chí dó phải được đảm bảo bởi
lực lượng vật chất đủ sức tác động, định hướng, chi phối trực tiếp tới nền kinh tế. Do
vậy, vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước được thể hiện ở các nội dung sau:
 Thứ nhất: kinh tế nhà nước trở thành lực lượng vật chất và là công cụ sắc bén
để nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước với tư cách là một yếu tố, một chủ thể đặc
biệt của nền kinh tế đất nước. Nó có vai trò vĩ mô điều hành trên phạm vi toàn bộ
nền kinh tế, làm cho nền kinh tế được hoạt động thông suốt, tạo lập những cân đối
lớn theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà thị trường không tự điều chỉnh được. Đây
là một trong những vai trò cực kỳ quan trọng của kinh tế nhà nước. Bởi là trong nền
kinh tế thị trường mặc dù sự can thiệp của nhà nước là cần thiết và đúng đắn nhưng
nếu không có một lực lượng kinh tế mạnh làm hậu thuẫn thì trong nhiều trường hợp
sự can thiệp đó có thể bị cơ chế thị trường vô hiệu hoá. Mặt khác, trong cơ chế thị
trường nhà nước thường xuất hiện như một chủ thể kinh tế có lợi ích độc lập với các
chủ thể kinh tế khác và trong một số trường hợp lợi ích của nhà nước có thể mâu

chất xám của thế giới, là nỗ lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tìm kiếm thị trường.
Điểm mới ở đây là kinh tế nhà nước không tiến hành công nghiệp hoá một cách đơn
độc như trước kia mà trở thành hạt nhân tổ chức, thu hút và định hướng để lôi kéo
các thành phần kinh tế khác cùng tham gia vào quỹ đạo công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
 Thứ tư: kinh tế nhà nước nắm giữ các vị trí then chốt trong nền kinh tế nhằm
đảm bảo cân đối vĩ mô của nền kinh tế cũng như tạo đà tăng trưởng lâu dài, bền
vững và hiệu quả cho nền kinh tế. Đó là các khu vực như công nghiệp sản xuất tư
liệu sản xuất quan trọng, các ngành công nghiệp mũi nhọn, kết cấu hạ tầng vật chất
cho nên kinh tế(giao thông, bưu chính, năng lượng…). Các ngành có ảnh hưởng to
lớn đến kinh tế đối ngoại như các liên doanh lớn, xuất nhập khẩu quy mô lớn, hoặc
các lĩnh vực có liên quan đến an ninh quốc phòng và trật tự xã hội. Tuy nhiên quan
điểm nắm giữ vị trí then chốt được hiểu theo một cách linh động, có nghĩa là nhà
nước không độc quyền cứng nhắc trong các lĩnh vực ấy mà cần có hợp tác liên
doanh hợp lý với các thành phần kinh tế khác, nhất là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng,
xuất nhập khẩu và công nghiệp. Hơn nữa, sự cần thiết để nhà nước kiểm soát từng
lĩnh vực cụ thể cũng được xem xét theo từng thời kỳ, đặc biệt là trong lĩnh vực công
nghiệp mũi nhọn. Khi mới thành lập thì đầu tư của nhà nước sẽ là chủ yếu, khi
ngành sản xuất mới đã đi vào ổn định thì không nhất thiết cần đầu tư nhà nước mà
có thể chuyển giao cho các thành phần kinh tế khác đảm nhiệm. Ngược lại cũng có
những lĩnh vực lúc đầu không cần đầu tư nhưng đến lúc nào đó rất cần đầu tư trực
tiếp của nhà nước thì có thể chuyển những cơ sở kinh tế đó sang hình thức sở hữu
nhà nước bằng cách nhà nước đứng ra mua cổ phiếu hoặc quốc hữu hoá có đền bú
cơ sở sản xuất tư nhân đó. Kinh tế nhà nước phải tạo ra lượng hàng hoá và dịch vụ
khả dĩ chi phối được giá cả thị trường, dẫn dắt giá cả thị trường bằng chất lượng và
giá cả sản phẩm dịch vụ do mình cung cấp. Mặt khác trong điều kiện toàn cầu hoá
nền kinh tế, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, để giữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status