Ưu và nhược điểm của vay nợ nước ngoài với thu hút vốn đầu tư trực tiếp ở các nước đang phát triển - Pdf 18

LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ với quy mô ngày càng lớn trong
tất cả mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thanh xu thế chung và
tất yếu đối với tất cả các quốc gia. Trong xu thế ấy, không một quốc gia nào muốn phát triển
lại có thể đứng ngoài cuộc, không tham gia vào quá trình vận chuyển các luồng vốn quốc tế,
bởi hội nhập sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển có thể
tiếp cận với những công nghệ mới, tận dụng các nguồn vốn để phát triển kinh tế quốc gia.
Sử dụng vốn vay nước ngoài hợp lý sẽ đem lại những hiệu quả hết sức to lớn, tạo ra lợi thế
của người đi sau, là sự lựa chọn thông minh để rút ngắn thời gian tích lũy vốn để phát triển
kinh tế. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng việc sử dụng vốn vay cũng chính là tạo cho mình
một khoản nợ đáng kể. Chính vì vậy, Chính phủ các nước đang phát triển cần có những
chiến lược cụ thể, hợp lý để ngăn chặn việc chính những khoản nợ đó lại trở thành rào cản
đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.
Để hiểu rõ hơn về việc sử dụng nợ nước ngoài, nhóm 3 đã nghiên cứu tiểu luận “ Ưu
và nhược điểm của vay nợ nước ngoài với thu hút vốn đầu tư trực tiếp ở các nước đang
phát triển”. Tiểu luận nhằm phân tích những ưu, nhược điểm của hai dòng vốn trên, góp
phần định hướng cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng trong việc
lựa chọn nguồn vốn vay hợp lý để phát triển kinh tế - xã hội.
Về nội dung, tiểu luận được chia làm 3 phần:
Phần I: Tổng quan chung về Nợ nước ngoài và Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Phần II: Ưu và nhược điểm của vay nợ nước ngoài với thu hút vốn đầu tư trực tiếp ở
các nước đang phát triển
Phần III: Phần III: Tình hình thu hút FDI và ODA tại Việt Nam trong những năm gần
đây
1
Phần I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
1.1. Nợ nước ngoài
1.1.1. Định nghĩa
Trong cuốn thống kê Nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng do nhóm công tác
liên ngành của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì khái niệm nợ nước ngoài được hiểu như sau:

nhân tự vay, tự trả.
* Phân loại theo thời hạn vay
- Nợ ngắn hạn: Là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống. Nợ ngắn hạn
thường không thuộc đối tượng quản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn. Tuy nhiên, nếu nợ
ngắn hạn không trả được sẽ gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng. Đặc biệt khi tỷ trọng
nợ ngắn hạn trong tổng nợ có xu hướng tang phải hết sức thận trọng vỡ luồng vốn rút ra đột
ngột có thể gây bất ổn cho nền tài chính quốc gia.
- Nợ dài hạn: Là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc có thời
hạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày hết hạn khoản thanh toán
cuối cùng. Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm, quản lý nhiều hơn do khả năng tác động
đến nền tài chính quốc gia.
* Phân loại theo loại hình vay
- Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA):
Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) hỗ trợ phát triển
chính thức bao gồm các chuyển khoản song phương (giữa các Chính phủ) hoặc đa phương
(từ các Tổ chức Quốc tế cho Chính phủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá trị chuyển khoản là
cho không.
Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức: Vay hỗ trợ phát triển chính thức là
loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn.
Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại. Thời
gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài (cụ thể từ 10, 15 hay 20 năm) và thời gian ân
hạn dài. Do vậy các nước đang phát triển thường hướng tới và tận dụng tối đa nguồn vốn
này cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
3
Tuy nhiên, vay hỗ trợ phát triển chính thức cũng có những mặt trái của nó. Tính ưu đãi
của vay hỗ trợ phát triển chính thức rất rõ rệt. Bên cạnh đó, việc vay nợ hỗ trợ phát triển
chính thức đôi khi kèm theo các điều kiện khiến cái giá phải trả tăng đáng kể.
- Vay thương mại
Khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại không có ưu đãi cả về lãi
suất và thời gian ân hạn, lãi suất vay ân hạn là lãi suất thị trường tài chính quốc tế và thường

nguyên thiên nhiên rẻ, dồi dào, nguồn lao động dồi dào và giá nhân công thấp vì thế các nhà
đầu tư tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở các nước tiếp nhận như giá nguyên liệu
rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện, nước, chi phí thông tin liên lạc, giao
thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, điều kiện pháp lý…
- Cũng vì những yếu tố như trên mà các nước đầu tư có thể tạo dựng được thị trường
cung cấp nguyên vật liệu dồi dào, giá rẻ ở nước nhận đầu tư.
- Tăng sức mạnh kinh tế và khả năng ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế nhờ
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và tránh được hàng rào bảo hộ của nước tiếp nhận đầu
tư. Các nước đầu tư tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước
và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực
và toàn cầu.
* Đối với các nước nhận đầu tư
- Bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố
vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn
hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này muốn có cả vốn từ nước ngoài,
trong đó có vốn FDI.
- FDI đẩy nhanh tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn
cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thế huy động được phần nào bằng chính sách “thắt lưng
buộc bụng”. Tuy nhiên công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách
đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và
bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và
bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý
đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
- FDI tạo nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với
nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân
sách quan trọng.
5
- FDI góp phần tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục
đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ

phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm). Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện
trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA. Chính vì thế, các nước đang
phát triển có thể tận dụng nguồn vốn này để phát triển cơ sở hạ tầng, qua đó tạo ra môi
trường thuận lợi để thu hút các nguồn vốn đầu tư khác, trong đó có FDI, hay các nguồn vốn
tài trợ của các công ty, tổ chức kinh tế quốc tế khác.
Ngược lại, FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài được đầu tư để sản xuất,
kinh doanh nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Khi đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư không những
góp vốn mà còn đứng ra quản lí dự án đó. Tuy nhiên việc quản lí này đôi khi không hiệu quả
do sự khác biệt giữa các quốc gia.
7
2.1.2. ODA tập trung vào mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia trong khi FDI
chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế
ODA giúp các nước ĐPT phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường. Một lượng
ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo
dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước
cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước ĐPT. Bên cạnh đó, một lượng
ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ
cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc tế, các nước ĐPT đã gia tăng đáng kể chỉ
số phát triển con người của quốc gia mình.
Trong khi đó, FDI chủ yếu vì mục đích kinh tế, do đó các nhà đầu tư nước ngoài ít
quan tâm hơn về vấn đề môi trường, dẫn đến hậu quả là ô nhiễm nguồn nước, bầu không
khí, các khu công nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường của nước sở tại.
- ODA giúp các nước ĐPT xoá đói, giảm nghèo. Xoá đói nghèo là một trong những
tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát
triển chính thức. Mục tiêu này biểu hiện tính nhân đạo của ODA. Trong bối cảnh sử dụng có
hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ
lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh. Và nếu như các nước giầu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu
được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo.
- ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các
nước ĐPT. Đa phần các nước ĐPT rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi

có hiệu quả. Kết quả là đã sử dụng một lượng vốn ODA lớn nhưng lại không tạo ra những
điều kiện tương ứng để phát triển kinh tế. Nước đi vay không trả được lãi và vốn vay theo
đúng cam kết và để lại gánh nặng nợ nước ngoài cho thế hệ sau.
Một cơ cấu nợ mà chiếm tỷ trọng lớn nhất là những khoản vay thương mại “nóng”, lãi
cao, và bằng những ngoại tệ không ổn định theo xu hướng “đắt” lên sẽ chứa đựng những
xung lực lạm phát mạnh. Những xung lực này càng mạnh hơn nếu vốn vay không được quản
lý tốt và sử dụng có hiệu quả, buộc con nợ phải tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới, với
những điều kiện có thể ngặt nghèo hơn – chiếc bẫy nợ sập lại, con nợ rơi vào vòng xoáy
mới: Nợ-vay nợ mới-tăng nợ-tăng vay… Vòng xoáy này sẽ dẫn con nợ đến sự vỡ nợ hoặc
vòng xoáy lạm phát: Nợ-tăng nghĩa vụ nợ-tăng thâm hụt ngân sách-tăng lạm phát. Lúc này
dịch vụ nợ sẽ ngốn hết những khoản chi ngân sách cho phát triển và ổn định xã hội. Hơn
9
nữa, việc “thắt lưng buộc bụng” trả nợ khiến nước nợ phải hạn chế nhập và tăng xuất, trong
đó có hàng tiêu dùng mà trong nước còn thiếu hụt, do đó làm tăng mất cân đối hàng tiền,
tăng giá, tăng lạm phát. Nợ nước ngoài có thể làm sụp đổ cả một chính phủ, nhất là ở những
nơi tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm là phổ biến của giới cầm quyền, đi kèm với
việc thiếu những giải pháp xử lý mềm dẻo khôn ngoan với nợ (đàm phán gia hạn nợ, đổi nợ
thành đầu tư, đổi cơ cấu và điều kiện nợ, xin xoá nợ từng phần…)
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ an toàn hơn, vì với hình thức này, các nhà đầu
tư nước ngoài sử dụng trực tiếp nguồn vốn của mình để đầu tư, xây dựng và phát triển các
cơ sở sản xuất kinh doanh vào nước sở tại. Vì vậy, vốn này vẫn thuộc sở hữu của họ. Các
nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh,
hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Chính vì vậy mà FDI không để lại gánh nặng
nợ cho Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư như ODA hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài
khác như vay thương mại, phát hành trái phiếu ra nước ngoài…
2.2.2. Vốn ODA mang tính ràng buộc cao so với FDI
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng
thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh – quốc phòng hoặc
theo đuổi mục tiêu chính trị… Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực
mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình

doanh nghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, vì nhà đầu tư không dễ dàng
rút vốn ra khỏi nước sở tại. Trong tình huống xấu nhất khi gặp rủi ro thì các đối tác nước
ngoài sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các công ty của nước sở tại. Do vậy, FDI là hình
thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu
tư.
Như vậy, có thể thấy ODA và FDI là hai dòng vốn quan trọng không thể thiếu đối với
các nước đang phát triển. Thực tế cho thấy ODA gắn liền với nhiều ràng buộc và tính ưu
việt thấp hơn so với FDI, chính vì vậy mà các nước đang phát triển ngày càng thu hút và sử
dụng FDI nhiều hơn trong công cuộc phát triển kinh tế. Tuy nhiên, ODA lại là nguồn vốn
không thể thiếu để theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững, giải quyết những vấn đề an sinh,
phúc lợi xã hội mà FDI không thể làm được. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn ODA
để đầu tư cải thiện sẽ tạo điều kiện để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp
vào nước sở tại.
11
PHẦN III: MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN VỀ TÌNH HÌNH VAY VỐN ODA VÀ THU
HÚT FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
3.1. Tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA
3.1.1. Quy mô thu hút ODA trên cả nước
Hội nghị bàn tròn về viện trợ dành cho Việt Nam diễn ra tại Paris (Pháp) từ ngày 9-
10/11/1993 đã đặt nền tảng cho quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và cộng đồng tài
trợ quốc tế dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau, tin cậy và xây dựng. Kể từ đó, một diễn đàn đối
thoại thường niên về chính sách phát triển và viện trợ giữa Chính phủ Việt Nam và các nhà
tài trợ được thiết lập với tên gọi là Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt
Nam (gọi tắt là Hội nghị CG).
Hiện có khoảng 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cung cấp
nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội của Việt Nam.
(Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư)
Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-
2012 với khoảng 19,81 tỷ USD. Pháp đứng thứ hai với 3,91 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ
ba với 2,33 tỷ USD. WB đứng đầu trong nhóm 6 ngân hàng phát triển với khoảng 20,1 tỷ

được nguồn vốn ODA đứng thứ ba với tổng trị giá ký kết khoảng 8,85 tỷ USD (ODA vốn
vay: 7,43 tỷ USD, ODA viện trợ không hoàn lại: 1,42 tỷ USD).
3.1.3. Về quy mô thu hút ODA theo vùng:
(Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư)
Hiện vẫn tồn tại tình trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA không đồng đều giữa
các tỉnh trên địa bàn các vùng trong cả nước trong đó vùng đồng bằng sông Hồng tiếp nhận
nguồn vốn ODA lớn nhất với 10,42 tỷ USD và vùng Tây Nguyên tiếp nhận nguồn vốn
ODA thấp nhất với 1,36 tỷ USD
15
Chính phủ Việt Nam có chính sách sử dụng ODA để hỗ trợ các ngành, lĩnh vực và địa
phương ưu tiên, nhất là đối với những địa bàn có nhiều khó khăn trong từng thời kỳ phát
triển
3.1.2 Những hạn chế và yếu kém khi thu hút ODA tại Việt Nam:
Qua 20 năm tiếp nhận ODA, thực tế cũng đã chỉ ra còn nhiều hạn chế trong việc tiếp
nhận, sử dụng hiệu quả nguồn lực này, thể hiện ở những điểm sau:
- Năng lực hấp thụ nguồn vốn ODA còn kém, chưa đáp ứng được yêu cầu. Có thể
nhìn nhận thực trạng này thông qua tỷ lệ giải ngân so với nguồn vốn ODA đã ký kết trong
20 năm qua chỉ đạt khoảng 67%. Riêng thời kỳ 2006-2010, khoảng 7 tỷ USD vốn ODA đã
ký kết, nhưng chưa giải ngân, trong đó có nhiều chương trình, dự án được hưởng các điều
kiện tài chính ưu đãi cao phải chuyển tiếp sang thời kỳ 2011-2015.Nhiều chương trình và
dự án chậm tiến độ, nhiều trường hợp phải xin gia hạn. Do chậm tiến độ thực hiện, mà một
số dự án bị cắt giảm, hủy một số hạng mục, hoặc phải tái cấu trúc toàn bộ dự án, gây ảnh
hưởng xấu tới hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
- Thiết kế của một số chương trình, dự án ODA chưa sát với thực tế Việt Nam nói
chung và của các địa phương nói riêng. Một số dự án ODA thí điểm những mô hình phát
triển, như: tín dụng quy mô nhỏ, quản lý và kinh doanh nước sạch, phát triển sinh kế, bảo
vệ và phát triển rừng , nhưng chỉ hoạt động khi còn dự án, mà không nhân rộng được và
áp dụng trong thực tế sau khi dự án kết thúc. Đồng thời, trong cùng một lĩnh vực như xóa
đói giảm nghèo, các nhà tài trợ áp dụng các mô hình khác nhau, dẫn đến trùng lặp, kém
hiệu quả và lãng phí nguồn lực của địa phương, cũng như của các nhà tài trợ.

tư đối với kinh tế Việt Nam bắt đầu được khôi phục. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cả
năm ước đạt 21,6 tỷ USD, tăng 54,5% so với cùng kỳ năm trước;vốn thực hiện ước đạt
11,5 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2012.
3.2.2. Về tỷ trọng đóng góp FDI so với các khu vực kinh tế khác
Bảng 1: Chỉ số phát triển vốn đầu tư theo giá so sánh năm 2010, %
Giai
đoạn
Nền
kinh tế
Khuvực
nhà nước
Khu vực ngoài
nhà nước
F
DI
2006-
2009
114.6 108.4 116.8
13
3
2010-
2012
101.2 97.6 107.3
98
.9
2006-
2012
108.8 103.8 112.7
11
8.4

kim ngạch xuất khẩu của khối này) góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng thâm hụt cán
cân thương mại của khối này. Bởi vậy, cần thúc đẩy công nghiệp phụ trợ trong nước.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status