Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào công nghiệp dịch vụ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp - Pdf 13



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI CỦA
NHẬT BẢN VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỊCH VỤ
Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Sinh viên thực hiện
: Lê Thanh Hằng
Lớp
: Nhật 1
Khoá
: 44E
Giảng viên hướng dẫn
: Phan Thị Vân
Hà Nội, 05 - 2009 MỤC LỤC
Lời mở đầu 1

2.3.3. Lĩnh vực đầu tư 47
2.3.4. Địa bàn đầu tư 48
2.3.5. Hình thức đầu tư 49
2.4. Đánh giá 50
2.4.1. Tích cực 50
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân 50
Chƣơng 3: Giải pháp thu hút FDI của Nhật vào ngành
Công nghiệp Dịch vụ 58
3.1. Cơ hội và thách thức đối với thu hút FDI của Nhật Bản vào ngành
Công nghiệp Dịch vụ ở Việt Nam 58
3.1.1. Cơ hội 58
3.1.2. Thách thức 61
3.2. Giải pháp 62
3.2.1. Đổi mới nhận thức 62
3.2.2. Xây dựng kế hoạch thu hút 65
3.2.3. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng 65
3.2.4. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 67
3.2.5. Hoàn thiện hệ thống pháp luật 68
3.2.6. Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý 71
3.2.7. Nâng cao chất lượng của hoạt động xúc tiến đầu tư 73

Kết luận 75
Danh mục tài liệu tham khảo 76

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

1

LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài

dịch vụ, việc định hướng một phần luồng vốn FDI của Nhật vào lĩnh vực này
trở thành một nhu cầu bức thiết, một nhiệm vụ quan trọng. Vậy làm thế nào
để có thể thu hút FDI của Nhật vào ngành công nghiệp dịch vụ một cách hiệu
quả nhất? Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, tác giả lựa chọn đề tài “Thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào ngành công nghiệp dịch
vụ ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp”.
Mục đích của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu xem đầu tư trực tiếp nước ngoài
là gì? công nghiệp dịch vụ là gì? và việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào lĩnh vực này chịu sự chi phối của những yếu tố nào. Trên cơ sở phân tích
thực trạng việc thu hút nguồn vốn FDI của Nhật vào ngành công nghiệp dịch
vụ của nước ta trong những năm vừa qua, tác giả sẽ đưa ra những đánh giá,
nhận xét đối với những kết quả đã đạt được. Đó sẽ là căn cứ quan trọng để
đưa ra giải pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn này một cách hiệu quả
nhất.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngành Công nghiệp Dịch vụ và đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ. Phạm vi nghiên cứu là đầu tư
trực tiếp nước ngoài của Nhật đối với Việt Nam kể từ khi bắt đầu vào Việt
Nam (1989) cho đến nay với trọng tâm là giai đoạn 2000 – 2008.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp: thống kê, tổng hợp số
liệu, phân tích, so sánh, đối chiếu, tham khảo và thu thập ý kiến của nhà đầu
tư để tìm hiểu và làm rõ nội dung nghiên cứu.
Kết cấu của đề tài

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

3


VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỊCH VỤ
1.1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI)
1.1.1. Khái niệm FDI

Có nhiều định nghĩa về FDI nhưng dù theo bất kỳ một cách hiểu nào
đều có thể khẳng định FDI là một hình thức “đầu tư” – quá trình huy động và
sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của cá nhân và xã hội. Đứng trên góc độ một quốc gia để xem xét

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

5

hoạt động đầu tư căn cứ vào sự hình thành nguồn vốn thì FDI là hoạt động
được thể hiện trong sơ đồ ở trên
1
.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund), FDI
(Foreign Direct Investment) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc
gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay
toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct
investment enterprise) trong một quốc gia khác. Ở đây, đặc điểm vượt ra khỏi
biên giới quốc gia và quyền sở hữu lâu dài được coi là trọng tâm của khái
niệm. Như vậy FDI sẽ tạo thành một mối quan hệ lâu dài giữa một công ty
chủ quản (người đầu tư trực tiếp) và một công ty phụ thuộc (doanh nghiệp
FDI) đặt tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty chủ quản. Công ty
chủ quản không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty phụ
thuộc (trong trường hợp công ty chủ quản không chiếm đa số cổ phiếu của
công ty phụ thuộc) và phần FDI chỉ tính trong phạm vi tỷ lệ sở hữu của công
ty chủ quản đối với công ty phụ thuộc.

sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư.
1.1.2. Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dựa vào những tiêu chí khác nhau, có rất nhiều cách để phân loại FDI
như: phân loại theo hình thức đầu tư, phân loại theo động cơ đầu tư, phân loại
theo cách thức xâm nhập…Tuy nhiên, gắn liền với FDI Công nghiệp Dịch vụ
thì người ta thường quan tâm tới cách phân loại theo cách thức xâm nhập. Có
hai loại hình chính đó là
2
:
- Đầu tư mới (Greenfield Investment)
Nguồn FDI được sử dụng để xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc phát
triển thêm các doanh nghiệp sẵn có trong nước. Đây là phương thức các quốc
gia nhận FDI thích nhất vì tạo được thêm công ăn việc làm cho người dân
trong nước, nâng cao sản lượng, chuyển giao kỹ thuật cao cấp đồng thời tạo
được mối liên hệ trao đổi với thị trường thế giới. 2
Ngoài ra còn có loại hình Brownfield Investment: Mua lại một doanh nghiệp nhưng không sử dụng đến các
tài sản của doanh nghiệp đó. Bản chất chỉ là mua lại cái tên.

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

7

Nhưng mặt yếu của đầu tư mới là có thể đe dọa sự tồn tại của ngành
trong nước vì nhờ khả năng cạnh tranh cao hơn về kỹ thuật và hiệu quả kinh
tế, đồng thời làm khô cạn tài nguyên trong nước. Ngoài ra một phần lợi nhuận
quan trọng sẽ chảy ngược về công ty chủ đầu tư.
- Mua lại và sáp nhập (Mergers and Acquisitions)

khoa học mà chỉ có tính chất hướng các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn cách
thức tiến hành đầu tư vào Việt Nam.
1.2. Ngành Công nghiệp Dịch vụ
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm ngành Công nghiệp Dịch vụ
Nếu như ngày xưa, người ta nhắc đên Nông-Lâm-Ngư nghiệp và Công
nghiệp như hai trụ cột chính của một nền kinh tế thì từ vài thập kỷ trở lại đây,
khái niệm “Công nghiệp Dịch vụ” ngày càng được nhắc đến nhiều hơn.
“Công nghiệp Dịch vụ” trong tiếng Anh là “Service Industry” được liên hiệp
công nghiệp dịch vụ Hoa Kỳ CSI (Coalition of Service Industry) sử dụng để
chỉ chung một nhóm các ngành cung cấp cho người tiêu dùng sản phẩm cuối
cùng là các “dịch vụ”
3
. Trong đó, cụm từ “dịch vụ” (service) chỉ một lĩnh vực
rất rộng, bao gồm một loạt các hoạt động và sản phẩm vô hình.
Trong một khái niệm để phân biệt với hàng hóa hữu hình, dịch vụ được
hiểu là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa
không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu
nhằm thỏa mãn ngay lập tức các nhu cầu của sản xuất và đời sống sinh hoạt
của con người. Lao động xã hội là lao động có mục đích, có phương pháp và
bằng một công cụ nào đó của con người. Còn hình thái vật thể là cái hữu hình,
cái mà con người có thể nhìn thấy bằng mắt, có thể sờ được bằng tay như một
cái bàn gỗ, một cái ti vi…Dịch vụ không không là những thứ đó, và Công
nghiệp Dịch vụ cũng không làm ra những thứ đó. Nhưng để làm ra được cái
bàn gỗ, cái ti vi thì cần tới dịch vụ. Đó là dịch vụ vận tải để vận chuyển gỗ 3
http://www.uscsi.org/

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế


Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

10

dịch vụ”, “khu vực dịch vụ” (Service Sector) cũng được tổ chức Thương mại
Thế giới WTO đề cập đến với bản chất giống như “Công nghiệp dịch vụ”
(Service Industry) được hiểu ở trên.
“Công nghiệp dịch vụ” có thể được hiểu hay tiếp cận theo nhiều cách,
dưới nhiều góc độ nhưng hầu hết các tổ chức quốc tế đều thừa nhận những
đặc điểm sau của nhóm ngành kinh tế này.
1.2.1.1. Tính phi vật chất
Có thể nói các sản phẩm của ngành Công nghiệp Dịch vụ là phi vật
chất. Ai đó có thể phản đối khi đưa ra ví dụ về sản phẩm của dịch vụ cung
cấp phầm mềm máy tính khi phần mềm đó được bán bằng một chiếc đĩa CD.
Chiếc đĩa CD ở đây đúng là vật chất hữu hình. Nhưng chiếc đĩa CD đó chỉ là
phương tiện để doanh nghiệp chuyển sản phẩm dịch vụ của mình tới tay
người sử dụng. Sản phẩm của hoạt động này chính là việc phần mềm đó được
cài đặt và chạy được trong máy tính của người sử dụng. Rõ ràng ta không thể
nào sờ vào, cầm nắm được kết quả ấy. Thực tế này chỉ ra rằng, không phải lúc
nào dịch vụ cũng được cung cấp một cách đơn lẻ, mà nó thường đi kèm với
một sản phẩm vật chất cụ thể nào đó. Ví dụ như dịch vụ điện hoa thì phải gắn
liền với “hoa” – một sản phẩm vật chất hữu hình, có kích thước, hình dáng,
màu sắc, khối lượng chính xác.
Tính phi vật chất này còn thể hiện ở việc người ta không thể mua quyền
sở hữu dịch vụ mà chỉ có thể mua được quyền sử dụng dịch vụ.
1.2.1.2. Tính khó xác định chất lượng
Nếu các sản phẩm vật chất có cơ, lý, hóa tính…có các tiêu chuẩn kỹ
thuật như công suất, mức tiêu hao nhiêu liệu…có thể xác định được và có thể
sản xuất theo các tiêu chuẩn của cơ sở, của ngành, của nhà nước và quốc tế thì

người ta không thể lưu trữ chúng, quá trình cung cấp sản phẩm và tiêu dùng
sản phẩm phải được thực hiện đồng thời. Nhà cung cấp không thể cất trữ dịch
vụ trong kho rồi tung ra thị trường khi nhu cầu tăng để thu lợi. Ngành công

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

12

nghiệp giải trí cung cấp dịch vụ chiếu phim là một ví dụ. Ta không thể tách
rời hoạt động chiếu phim với hoạt động xem phim. Việc trì hoãn việc công
chiếu một bộ phim lại mà chỉ quảng cáo thôi, nhằm thu hút sự chú ý của khán
giả không được coi là hoạt động lưu trữ. Dịch vụ đang xét đến ở đây là “chiếu
phim” nên đó là việc hoãn cung cấp dịch vụ, dịch vụ chưa hề được thực hiện
chứ không phải là đã được tạo ra rồi cất trữ.
Chính đặc tính này đã đặt ra nhu cầu phát triển tất cả các ngành Công
nghiệp Dịch vụ đối với tất cả các nước trên thế giới. Người ta không thể dựa
sự chuyên môn hóa sản xuất toàn cầu, rồi tiến hành xuất – nhập khẩu các sản
phẩm của Công nghiệp Dịch vụ như vẫn làm đối với các sản phẩm hàng hóa
khác. Mặc dù vẫn có thể tiến hành thương mại dịch vụ quốc tế nhưng xét cho
cùng, để người dân một nước có cơ hội tiêu dùng một dịch vụ nào đó thì dịch
vụ ấy phải được thực hiện tại chỗ, ngay tại nơi có nhu cầu.
1.2.2. Phân loại Công nghiệp Dịch vụ
Hiện nay, việc phân loại các ngành kinh tế chưa có được sự thống nhất
không chỉ ở phạm vi thế giới mà thậm chí trong một quốc gia bởi lẽ có quá
nhiều tiêu chí phân loại cũng như mức độ phân loại. ở hầu hết các nước,
người ta sử dụng cách liệt kê để phân loại các ngành kinh tế nhằm mục đích
điều hành và quản lý hoạt động của doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền
kinh tế.
1.2.2.1. Theo tổ chức Thương mại Thế giới WTO
WTO liệt kê các ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ và xếp chúng thành 12

Dịch vụ cung cấp quyền kinh doanh
Các dịch vụ phân phối khác
Nhóm 5: Các dịch vụ giáo dục
Dịch vụ giáo dục tiểu học
Dịch vụ giáo dục trung học
Dịch vụ giáo dục đại học
Dịch vụ giáo dục người lớn

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

14

Các dịch vụ giáo dục khác
Nhóm 6: Các dịch vụ môi trƣờng
Dịch vụ thoát nước
Dịch vụ thu gom rác
Dịch vụ vệ sinh
Các dịch vụ môi trường khác
Nhóm 7: Các dịch vụ tài chính
Tất cả các dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm
Các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác
Nhóm 8: Các dịch vụ xã hội và liên quan đến sức khỏe
Các dịch vụ bệnh viện
Các dịch vụ y tế khác
Các dịch vụ xã hội
Các dịch vụ khác
Nhóm 9: Các dịch vụ du lịch và lữ hành
Khách sạn và nhà hàng
Các đại lý lữ hành và các dịch vụ hướng dẫn tour
Các dịch vụ hướng dẫn du lịch

Nhóm 35: Quảng cáo
Quản lý kinh doanh
Quản lý giao dịch
Hoạt động văn phòng
Nhóm 36: Bảo hiểm
Tài chính
Tiền tệ
Bất động sản
Nhóm 37: Xây dựng
Sửa chữa
Lắp đặt
Nhóm 38: Viễn thông 4
“Bảng phân loại Nice” là bảng phân loại theo Thỏa ước Nice về phân loại Quốc tế Hàng hóa và Dịch vụ
nhằm mục đích đăng ký nhãn hiệu, được ký tại Nice ngày 16/6/1957 đã được sửa đổi, bổ sung.

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

16

Nhóm 39: Vận tải
Đóng gói và lưu trữ hàng hóa
Du lịch
Nhóm 40: Xử lý vật liệu
Nhóm 41: Giáo dục
Đào tạo
Giải trí
Các hoạt động thể thao và văn hóa

Như vậy, cách phân loại Công nghiệp Dịch vụ ở Việt Nam đang tỏ ra
thiếu thống nhất khi tồn tại đồng thời 2 cách như trên. Mặt khác, trong tiến
trình hội nhập, Việt Nam buộc phải sử dụng cách phân loại của WTO để thực
hiện việc mở cửa các ngành dịch vụ theo tiến trình đã cam kết. Điều này cho
thấy nhu cầu cần thống nhất sử dụng một cách phân loại để tạo thuận lợi cho
hoạt động thống kê, nghiên cứu thị trường, hoạt động đăng ký đầu tư … cũng
như tạo thuận lợi cho việc thương lượng và ký kết các cam kết quốc tế sau
này.
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng tới khả năng thu hút FDI vào ngành
Công nghiệp Dịch vụ
1.3.1. Khung chính sách về FDI
Trước hết đó là hệ thống luật pháp liên quan trực tiếp và gián tiếp đến
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các quy định của luật pháp và
chính sách về việc thành lập doanh nghiệp FDI (cho phép, hạn chế, cấm đầu
tư vào các ngành nghề lĩnh vực nào đó; cho phép hoạt động tự do hay có điều
kiện…); các tiêu chuẩn đối xử đối với FDI (phân biệt hay không phân biệt đối
xử giữa các nhà đầu tư có quốc tịch khác nhau…); các quy định về thuế; quy

Lê Thanh Hằng - Lớp Nhật 1 - K44E - Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế

18

định liên quan đến việc sử dụng lao động (thời gian làm việc, chế độ nghỉ có
tính lương, chế độ bảo hiểm bắt buộc…); quy định liên quan đến việc sử dụng
đất đai và các bất động sản khác; các quy định thuộc chính sách khuyến khích
hay hạn chế đầu tư vào một số ngành nghề hoặc địa bàn nhất định… Các quy
định này ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng và kết quả của hoạt động FDI.
Các quy định thông thoáng, có nhiều ưu đãi, có ít hoặc không có các rào cản
hạn chế sẽ góp phần tăng cường thu hút FDI và tạo thuận lợi cho các dự án
FDI trong quá trình hoạt động. Ngược lại, hành lang pháp lý và cơ chế chính

trực tiếp từ các quy định trong hiệp ước quốc tế đa phương và song phương
mà nước nhận đầu tư tham gia ký kết. Những quy định này thường tạo điều
kiện thuận lợi cho FDI vì nó bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và thường
hướng tới mức độ “mở cửa” cao hơn so với các quy định của luật pháp trong
nước. Có rất nhiều ví dụ chứng minh rằng mức độ “mở cửa” của một nền kinh
tế tỷ lệ thuận với khả năng thu hút FDI trong đó Singapore và HongKong là 2
ví dụ quan trọng. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế Giới WEF công
bố hồi trung tuần tháng 6 năm 2008 thì HongKong và Singapore lần lượt
đứng đầu và thứ 2 danh sách các nền kinh tế hấp dẫn nhất thế giới do có thị
trường cởi mở.
5

Đồng thời, theo Báo cáo Đầu tư Thế giới WIR 2007 (World
Investment Review) của diễn đàn liên hợp quốc về thương mại và phát triển
thì HongKong va Singapore cũng lần lượt giữ vị trí số 2 và 3 trong top 10
quốc gia thu hút FDI nhiều nhất với số vốn đầu tư lần lượt là 43 tỷ USD và 34
tỷ USD, chỉ sau Trung Quốc 69 tỷ USD.
6

Ngoài ra, được xếp vào nhóm “khung chính sách về FDI” còn có đặc
điểm môi trường chính trị hay môi trường văn hóa. Đây là những yếu tố tạo
ảnh hưởng dài hạn và lâu bền tới quá trình thu hút FDI.
1.3.2. Các yếu tố của môi trường kinh tế 5
http://vneconomy.vn/62797P0C99/hong-kong-singapore-la-hai-nen-kinh-te-tu-do-nhat-the-gioi.htm
6
http://www.unctad.org/Templates/Page.asp?intItemID=1465


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status