một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở việt nam - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc CNH - HĐH đất nước hiện nay, Nhà nước ta khẳng định
phải dựa vào nội lực là chính, tuy nhiên xuất phát từ điều kiện của nước ta là
một nước có nền kinh tế yếu kém, điểm xuất phát thấp cơ sở hạ tầng lạc hậu, thu
nhập quốc dân và thu nhập thấp. Vì vậy nguồn vốn để CNH - HĐH trước mắt
phụ thuộc nhiều từ nước ngoài mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Để thu hút đầu tư nước ngoài cho công cuộc phát triển của quốc gia, khu
công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) được đánh giá là một nhân tố quan
trọng. Vì ở đó các công trình hạ tầng cơ sở được tập trung, đầu tư nhanh với
chất lượng cao, hình thành các dịch vụ cần thiết và các thủ tục đơn giản đáp ứng
yêu cầu của các nhà đầu tư. Nhiều nước đã thành công trong công cuộc CNH -
HĐH xây dựng những KCN, KCX như vậy.
Ở Việt Nam hiện nay KCN, KCX đã trở thành những thực thể kinh tế - xã
hội không thể thiếu trong nền kinh tế, KCN,KCX đã góp phần tẳng sản lượng
công nghiệp, tăng xuất khẩu, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập người dân hình
thành cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, có được sự thành công này là do chính sách
rộng mở của Nhà nước ta nhằm thu hút FDI cho phát triển KCN, KCX. Và trên
thực tế lượng vốn FDI chiếm tỷ lệ rất cao trong KCN, KCX.
Như vậy, để tiếp tục phát triển KCN, KCX ở Việt Nam chúng ta cần thu
hút nhiều hơn nữa các nguồn vốn vào KCN, KCX đặc biệt là FDI. Và trong
khuôn khổ đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu về: "Một số giải pháp nhằm tăng
cường thu hút vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam".
1
Mặc dù đã có nhiều sự cố gắng và nỗ lực trong quá trình thực hiện bài
viết. Nhưng chắc chắn bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em mong
nhận được sự góp ý từ phía thầy giáo để bài viết trở nên hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn thầy giáo đã hướng dẫn giúp em hoàn thành đề
tài này!
2
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như đầu tư lợi
nhuận thu được.
1.2. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hơn 10 năm kể từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được có tốc độ
phát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta đóng
góp tích cực và ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, là
một nhân tố góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới kinh tế.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang phạm vi quốc tế. Nó mang
lại lợi ích cho cả hai bên và đồng vốn đầu tư bỏ rất rất hiệu quả.
Đặc biệt là ở các nước đang phát triển nó giải quyết được các vấn đề:
- FDI tăng cường vốn đầu tư bù đắp sự thiếu hụt về ngoại tệ góp phần
tăng khả năng cạnh tranh và tăng xuất khẩu, bù đắp cán cân thnh toán.
- FDI góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động tạo
điều kiện tích luỹ trong nước.
- FDI sẽ chuyển giao công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn,
trình độ quản lý tiên tiến cho nước nhận đầu tư. Xét về lâu dài điều này sẽ góp
phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thúc đẩy các ngành nghề mới đòi
hỏi hàm lượng công nghệ cao như điện tử tin học Chính vì vậy nó có tác dụng
lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tăng trưởng
nhanh của nước nhận đầu tư.
Từ sự chuyên giao này cũng giúp cho các nước chủ nhà có được thuật tiên
tiến, kinh nghiệm trong quản lý, đội ngũ cán bộ lao động được bồi dưỡng đào
tạo nhiều mặt.
- FDI giúp các nước nhận đầu tư trực tiếp tiếp cận được với thị trường thế
giới, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trong xu hướng khu vực hoá toàn cầu hoá.
Ngày nay đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một tất yếu khách quan
trong điều kiện quốc tế hoá nên sản xuất lưu thông. Các quốc gia trên thế giới dù
4
có thể chế chính trị khác nhau đều cần đến vốn đầu tư nước ngoài và coi đó là

tư kinh doanh ở Việt Nam mà không cần thành lập pháp nhân.
Hình thức này có đặc điểm:
- Không ra đời một pháp nhân mới.
- Cơ sở của hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh. Trong hợp
đồng nội dung chính phản ánh trách nhiệm quyền lợi giữa các bên với nhau
(không cần đề cập đến việc góp vốn).
- Thời hạn cần thiết của hợp đồng do các bên thoả thuận phù hợp với tính
chất mục tiêu kinh doanh và được các cơ quan cấp giấy phép kinh doanh chuẩn
y.
- Hợp đồng phải do đại diện có thẩm quyền của các bên ký. Trong quá
trình hợp tác kinh doanh các bên giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình.
* Doanh nghiệp liên doanh:
Theo khoản 2 điều 2 luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam qui
định "Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa
Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước ngoài
hoặc doanh nghiệp có vốn đầ tư nước ngoài hợp tá với doanh nghiệp Việt Nam
hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở
hợp đồng liên doanh.
Hình thức này có đặc điểm:
- Thành lập pháp nhân mới hoạt động trên nguyên tắc hạch toán độc lập
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Các bên chịu trách nhiệm về phần
vốn của mình
- Phần góp vốn của bên hoặc do bên nước ngoài không hạn chế mức tối
đa nhưng tối thiểu không được dưới 30% vốn pháp định và trong quá trình hoạt
động không giảm vốn pháp định.
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh là hội đồng
quản trị mà thành viên của nó do mỗi bên chỉ định tương ứng với tỷ lệ góp vốn
của các bên nhưng ít nhất phải là 2 người, Hội đồng quản trị có quyền quyết
6

7
Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kết cấu hạ tầng. Sau khi xây
xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các dự
án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý".
2. Một số vấn đề lý luận về KCN, KCX
2.1. Khái niệm, đặc điểm KCN, KCX
a. Khu chế xuất:
KCX - được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nên có nhiều quan
điểm khác nhau đánh giá về KCX
Theo điều 2 khoản 2 qui chế KCN, KCX "Khu chế xuất là khu tập trung
các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu, thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu có ranh giới địa lý
xác định không có dân cư sinh sống được chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ
quyết định thành lập".
Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) trong
tài liệu: "Khu chế xuất tại các nước đang phát triển" ấn hành 8/1990 đã định
nghĩa: "KCX là khu vực tương đối nhỏ phân cách về địa lý trong quốc gia nhằm
mục tiêu thu hút vốn đầu tư các ngành công nghiệp về xuất khẩu, bằng cách
cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch
thuận lợi đặc biệt hơn so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà. Trong đó,
KCX nhập khẩu hàng hóa dịch vụ cho việc sản xuất để xuất khẩu và được miễn
thuế trên cơ sở kho khóa cảng" (kho khoá cảng là khu hàng hóa được nhập vào
tự do mà không chịu thuế tại xuất trừ các loại hàng hóa nhập vào bằng con
đường khác từ thị trường nội địa).
Hiệp hội các KCX (World EPZ Asociation) thì định nghĩa là: "KCX bao
hàm các khu vực, địa bàn do chính phủ nước sở tại cho phép thành lập như cảng
tự do, khu mậu dịch tự do, khu công nghiệp tự do, khu ngoại thương".
Mặc dù có nhiều sự nhìn nhận đánh giá về KCX nhưng nhìn chung thì nó
cùng mang những đặc thù giống nhau và điển hình là:

trong nền kinh tế
9
Trong thời kỳ CNH, HĐH việc xây dựng các cụm công nghiệp tập trung
là cần thiết và được nhà nước khuyến khích. Từ năm 1994 các KCN được xây
dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện để cho đầu tư nước
ngoài và đặc biệt khuyến khích DN nhỏ và vừa gia nhập các khu công nghiệp.
Lợi ích của việc sản xuất tập trung tại các cụm CN so với phát triển công nghiệp
tản mạn là đảm bảo tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý
môi trường mặt khác cung cấp các dịch vụ thuận lợi. Các KCN, KCX được hình
thành cũng nhằm sự phân tán các cơ sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống, vừa
không thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vừa
gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu dân cư, làm ảnh hưởng đến đời sống
của cộng đồng dân cư trong vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khoẻ của người
dân.
Từ đầu những năm 90 đến nay sau khi xuất hiện những khu công nghiệp
và khu chế xuất ở Việt Nam và kiểm nghiệm lại kinh nghiệm của một số nước
đang phát triển đi trước chúng ta khẳng định được vai trò quan trọng của KCN,
KCX. Việc tập trung các doanh nghiệp chế biến nhằm thu hút vốn đầu tư nước
ngoài và vốn đầu tư trong nước đã nhanh kỹ thuật mới vào sản xuất thúc đẩy
tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng các ngành mũi nhọn nâng cao vị trí chủ
đạo của công nghiệp trong nền chế biến nông lâm hải sản hỗ trợ các ngành này
và phục vụ xuất khẩu phân bố lại các khu vực san xuất và sinh hoạt thực hiện đô
thị hóa nông thôn chuyển dời các cơ sở sản xuất từ nội đô ngoại vi, cải tạo môi
trường sống cho dân cư đô thị, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động thành phố
và nông thôn.
Việc thành lập khu chế xuất, khu công nghiệp là tạo ra các khu vực thuận
lợi hơn cho việc phát triển kinh tế thu hút đầu tư. Chính vì vai trò to lớn của
KCN, KCX rất cần thiết ở nước ta. Chỉ có KCX, KCN mới tạo ra được bước
nhảy vọt, tạo ra nền kinh tế phát triển bền vững. Chọn được địa điểm vị trí và
qui hoạch KCN, KCX cùng các đối tác hợp lý sẽ tạo ra cho nước ta một bộ mặt

ra, chúng ta cũng chủ trương thu hút FDI của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của
nước ngoài vì đó là các doanh nghiệp năng động, thích ứng nhanh với biến động
của thương trường, phù hợp với đối tác Việt Nam về khả năng góp vốn, năng
11
lực tiếp thu công nghệ kinh nghiệm tổ chức quản lý, có điều kiện tạo nhiều việc
làm mới. Khoảng ba phần tư vốn đầu tư nước ngoài là từ các nước NIC
s
Đông á,
ASEAN, Nhật Bản
Tham gia hợp tác đầu tư với nước ngoài hiện nay chủ yếu là các doanh
nghiệp quốc doanh. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện mới có 140 dự án
liên doanh với nước ngoài (chiếm 7,8% dự án) với số vốn đăng ký là 562 triệu
USD (chiếm 1,8% vốn đăng ký). Hình thức đầu tư chủ yếu hiện nay vẫn là
doanh nghiệp liên doanh, chiếm tới 61% số dự án và 70% vốn đầu tư. Do chính
sách của Việt Nam đối xử công bằng giữa các doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài theo hình thức 100% vốn nước ngoài có xu hướng tăng lên, hiện chiếm
30% số dự án và 20%vốn đầu tư. Đầu tư theo 100% vốn của Hàn Quốc, Nhật
Bản, Đài Loan cao hơn các quốc gia khác.
Đến cuối năm 1998 DTNN chiếm 100% công suất khai thác dầu thô, sản
xuất lắp ráp ô tô, xe máy, tủ điện, máy in, máy giặt, tủ lạnh điều hoà nhiệt độ,
máy thu băng, đầu video, sỏi PE, PES, chiếm khoảng 70% chế biến thép và kết
cấu thép, điển hình các loại: gần 43% cán thép,55% kéo sỏi, 40,7% sản phẩm
may mặc, 32% sản xuất giàydép, 21,2% xi măng, 18% chế biến thực phẩm, 14%
hoá chất. Tính chung, đầu tư nước ngoài đã tạo ra 25% giá trị sản xuất toàn
ngành công nghiệp và gần 9% GDPchung của cả nước.
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta đã du nhập những công
nghệ hiện đại trong các lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất, điện
tử…phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước. Một số ngày
sử dụng nhiều, nguyên liệu trong nước như dệt may, sản xuất giày dép cũng có
công nghệ thuộc loại trung bình tiên tiến ở khu vực. Nguồn vốn đầu tư nước

thị trường đối tác có tiềm lực tài chính và công nghệ công tác quản lý Nhà nước
đối với hoạt động đầu tư nước ngoài còn những mặt yếu kém, vừa có hiện tượng
buông lỏng, vừa can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp. Một số thủ
tục hành chính còn phiền hà dẫn đến tiêu cực của một số người thừa hành công
vụ.
4. Kinh nghiệm của một số nước trong công cuộc phát triển KCN,
KCX
13
KCN đầu tiên của thế giới thành lập ở Anh vào năm 1986, người ta sớm
nhận ra ưu điểm của hình thức tổ chức này do đó số lượng của khu công nghiệp
được xây ngày càng tăng trên khắp thế giới.
Việt Nam là nước đi sau để thực hiện được mục tiêu "đi tắt đón đầu"
trong phát triển kinh tế đòi hỏi chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm của các nước
đi trước để tiến hành phát triển KCN, KCX cho phù hợp với điều kiện phát triển
của Việt Nam.
4.1. Kinh nghiệm của Thái Lan
Vào những năm 60 luật KCN được ban hành từ đó cho đến nay có 40 khu
công nghiệp hoạt động. Nhà nước Thái Lan qui hoạch phát triển KCN dựa trên
quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Những KCN do Nhà nước bảo
trợ tuy bị lỗ nhưng vẫn xây dựng để đảm bảo cho phát triển như khu công
nghiệp Bắc Thái Lan. Có khoảng 11 KCN được xây dựng tại những vùng không
nằm trong qui hoạch miễn là họ có thị trường.
Diện tích KCN, mặt bằng KCN có thể được mở rộng hơn so với diện tích
được duyệt nếu được thoả thuận của người có đất mà mình được dùng. Về quản
lý do cục quản lý KCN TháiLan và ngoài ra cục còn có chức năng kinh doanh.
Về chính sách đối với xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng, Nhà nước
không ưu đãi cho vốn vay, tuy nhiên Nhà nước đứng ra bảo lãnh cho các Công
ty Nhà nước vay mà không phải thế chấp. Mọi ưu tiên đều dành hết cho các khu
công nghiệp trong nước. Mọi khách hàng muốn đầu tư vào khu công nghiệp họ
sẽ được tạo điều kiện cần thiết để biết về KCN, nạng lưới KCN.

nghiệp nông thôn và ven đô thị. ở các thành phố, thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ
sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài
thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dân
cư". Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trunt ương Đảng khoá VIII
cũng xác định phương hướng phát triển KCN trong thời gian tới là "phát triển
từng bước và nâng cao hiệu quả cá khu công nghiệp".
Để thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển và phân bố công nghiệp,
Nhà nước Việt Nam quyết định chủ trương phát triển công nghiệp tập trung vào
các KCN, KCX theo quy hoạch xác định. Phát triển KCN, KCX nhằm đáp ứng
các mục tiêu tạo đà tăng trưởng công nghiệp, tăng nguồn hàng xuất khẩu, tạo
việc làm và tăng bước phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh tự phát,
phân tán, tiết kiệm đất, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tưe phát triển hạ tầng, hạn
chế ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra. Đồng thời phát triển KCN, KCX
cũng để thúc đẩy các cơ sở sản xuất, dịch vụ cùng phát triển, làm cơ sở cho việc
phát triển các đô thị công nghiệp, phân bố hợp lý lực lượng sản xuất.
Việc phân bố và hình thành các KCN, KCX phải phù hợp với quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở điều kiện tự nhiên, môi trường và xã hội,
16
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đảm bảo hiệu quả cao, phát
triển bền vững, cụ thể là:
- Có khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng thuận lợi, có vị trí, quy mô diện
tích phù hợp.
- Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu, thuận lợi
ch việc vận tải,.
- Thuận lợi trong việc tấp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Có khả năng cung ứng lao động có chuyên môn.
- Có điều kiện đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội.
- Két hợp chặt chẽ phát triển KCN, KCX với quy hoạch đô thị và phân bố
dân cư.
- Đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia.

Bảng 2: KCN thành lập theo năm
Năm Số KCN được thành lập Diện tích (ha)
1991 1 300
1992 1 62
1994 5 714
1995 5 1201
1996 12 1937
1997 22 3107
1998 15 2805
1999 2 152
2000 1 698
2001 1 918
2002 9 3210
2003 1 112
Tổng cộng 76 15216
(Nguồn: Vụ quản lý KCN, KCX - Bộ kế hoạch và đầu tư)
Diện tích KCN được thành lập trong các năm bao gồm cả diện tích mở
rộng của các KCN đã được thành lập trước đó.
19
Bảng 3: Số các KCN được thành lập tại các vùng
(đến hết tháng 2.2003)
STT Vùng Số KCN Diện tích (Ha)
1 Vùng trung du miền núi phía Bắc 2 139
2 Vùng Tây Nguyên 1 181
3 Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long 5 824
4 Đồng bằng sông Hồng 14 2121
5 Vùng duyên hải miền Trung 14 1972
6 Vùng Đông Nam Bộ 40 9977
Tổng cộng 76 15214
(Nguồn: Vụ quản lý KCN, KCX - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

đây, do thực hiện đồng bộ nhiều chính sách ưu đãi, cơ sở hạ tầng được chuẩn bị
sẵn…cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, nên việc thu hút vốn đầu tư vào
các KCN và KCX đã có bước chuyển biến mạnh mẽ. Năm 2003 tổng vốn đầu tư
mới và đầu tư tăng thêm vào các KCN và KCX là 1,5 tỷ USD, tăng 20% so với
năm 2002, vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ở các KCN, KCX cũng tăng cao đạt
856 triệu USD tăng 71% so với năm 2002. Trong khi số dự án nước ngoài vào
nước ta năm 2003 giảm 18%, thì số vốn xin tăng thêm của các dự án đầu tư
nước ngoài vào các KCN và KCX vẫn tăng thêm 34%. Đến cuối năm 2004 các
nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào các KCN và KCX với 1,442 dự án (không
kể 19 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng), có tổng vốn đầu tư là 11,390 triệu USD,
chiếm 36,20% số dự án và chiếm tỷ trọng 29% vốn đăng ký của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp phép trong cả nước. Trong đó có
10 nước và vùng lãnh thổ có số dự án, số vốn đầu tư lớn: Nhật Bản, Đài Loan,
21
Hàn Quốc, Singgapo, Hồng Kông, Thái Lan, Hoa Kỳ, Malaisia…Nếu chỉ tính
riêng cho các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ sản xuất công nghiệp (trừ
dầu khí, du lịch, khách sạn, khu đô thị, khu vui chơi giải trí, bệnh viện, trường
học, tài chính, ngân hàng, trồng rừng…) thì tỷ trọng này chiếm trên 40%. Các
dứan có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công nghiệp
đầu tư vào KCN, KCX chủ yếu là các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài với hơn 1000 dự án chiếm trên 80% số dự án. Các dự án đầu tư vào các
KCN và KCX triển khai nhanh và thuận lợi hơn so với các dự án ngoài KCN và
KCX. Có thời gian xây dựng tương đối ngắn từ 1- 2 năm, cá biệt có những dự án
chỉ thực hiện trong vòng 6 tháng sau khi cấp giấy phép đầu tư đã đi vào hoạt
động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, cơ cấu đầu tư của các dự án đầu tư vào
các KCN và KCX còn chưa đa dạng ngành nghề, mà chủ yếu tập trung vào các
ngành công nghiệp nhẹ như: dệt, sợi, may mặc…và công nghiệp chế biến thực
phẩm là các dự án thu hút nhiều lao động và có tỷ trọng xuất khẩu cao. Còn các
dự án công nghiệp tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực lắp ráp các sản phẩm
điện tử và sản xuất hàng tiêu dùng, còn các ngành công nghiệp nặng như vật liệu

tạo nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đã đa dạng hoá thành phần các
doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư, góp phần hấp dẫn trong việc thu hút các
nhà đầu tư trong nước và ngoài nước.
Số doanh nghiệp Vốn đăng ký
Doanh nghiệp trong nước 307 1,38 tỷ USD
Doanh nghiệp ngoài nước 543 6,1 tỷ USD
Tổng 850 7,48 tỷ USD
Nguồn: Ban quản lý KCN Việt Nam tính đến năm 2004.
Tính đến năm 2004 đã có 850 doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt
động trong các khu công nghiệp với tổng số vốn đăng ký 7,48 tỷ USD trong đó
có 543 doanh nghiệp nước ngoài đăng kí 6,7 tỷ USD và 307 doanh nghiệp trong
nước vốn đăng ký 16,998 tỷ đồng. Vốn đã thực hiện khoảng 40% tổng vốn đăng
kí.
Đã có 24 nước, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào khu công nghiệp. Phần
lớn các đối tác nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp thuộc các nước đông á
và đông nam Châu Á. Các Công ty của Nhật Bản đã thực hiện các dự án đầu tư
23
có công nghệ tiên tiến và giá trị xuất khẩu lớn như dự án sản xuất các thiết bị vi
điện tử như Công ty FUJILSU, động cơ nhỏ MABUCHI, người máy rorze
robotech…Các Công ty của Đài Loan, Hàn Quốc quan tâm đến công nghiệp
điện tử, giầy da dệt, chế biến nông sản phục vụ sản xuất công nghiệp. Các đối
tác châu Âu và Mỹ có các dự án đầu tư gắn liền với công nghiệp chế biến khí và
công nghiệp hoá chất. Các KCN phía nam thực hiện đa dạng hoá các dự án đầu
tư trong khi các khu công nghiệp ở Hà Nội và Hải Phòng tập trung vào hai đối tá
là Nhật Bản và Hàn Quốc.
Nếu như những năm trước đây, đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ cao trong
khu công nghiệp (chiếm khoảng 50% vốn đầu tư phát triển hạ tầng, gần 90% số
dự án đầu tư và 93% vốn đầu tư của doanh nghiệp hoạt động trong khu công
nghiệp) thì từ năm 1998 đến nay hình thức đầu tư trong nước nhích dần. Đây là
một hiểu hiện tốt. Riêng 9 tháng đầu năm 1999 các KCN đã thu hút được 183 dự

sở dịch vụ trong vùng. Các khu công nghiệp được thành lập trong thời gian qua,
ngoài việc đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá tại các trung tâm công nghiệp lớn, đã bắt
đầu có tác động lan toả tích cực trong việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn của các vùng phụ cận.
d. Tập trung xử lý chất thải bảo vệ môi trường.
Do tập trung các cơ sở sản xuất nên các khu công nghiệp có điều kiện
thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường. Các khu
công nghiệp còn là địa chỉ tốt để đi đôi các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, phục vụ
mục tiêu phát triển bền vững. Đây là một trong số các mục tiêu quan trọng hàng
đầu đặt ra đối với việc thành lập khu công nghiệp.
e. Về cơ chế quản lý.
Cơ chế quản lý mở cửa, tại chỗ đã được các ban quản lý khu công nghiệp
cấp tỉnh thực hiện một cách có hiệu quả và được đánh giá cao. Bằng cơ chế uỷ
quyền, các ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh có thể giải quyết các vướng
mắc của doanh nghiệp trong thời gian ngắn nhất, tiết kiệm chi phí cho đầu tư.
3.2. Những tồn tại
25

Trích đoạn Tạo ra quy hoạch KCN,KCX hợp lý Phát huy dân chủ trong hoạt động kinh tế Tạo mối quan hệ hợp lý giữa Nhà nước và KCN, KC Xây dựng, hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý, thực hiện nguyên tắc một cửa, tại chỗ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status