Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên chúng em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Yến đã trực tiếp
hướng dẫn, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng em hoàn
thành tiểu luận.
Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô giáo Trường Đại
học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh thời gian qua đã truyền đạt và trang bị cho em
đầy đủ kiến thức chuẩn bị tốt cho bài tập này.
Tuy đã cố gắng nhiều nhưng do thời gian có hạn, bài tiểu chắc chắn sẽ không
tránh khỏi sai sót. Vì vậy, chúng em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp,
bổ sung của quý thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa nhóm chúng em xin chân thành cám ơn và chúc thầy cô và các
bạn nhiều sức khỏe.
Nhóm 11 - Xin chân thành cảm ơn
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) là bước
phát triển tất yếu của một nền kinh tế thị trường. Việt Nam với nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường cũng đòi hỏi phải có TTCK để làm cầu nối giữa một
bên là các nhà đầu tư (bao gồm các tổ chức kinh tế – xã hội và dân chúng) với
bên kia là các doanh nghiệp cần vốn kinh doanh và Nhà Nước cần tiền để thỏa
mãn các nhu cầu chung của đất nước.
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH
PHOTO QUANG TUẤN
ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176
Gmail: [email protected]; Fabook: vttuan85
Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Đến nay, TTCK Việt Nam đã trải qua 5 năm đầu tiên trong lịch sử phát
triển của mình. Năm năm qua là năm năm làm quen với hoạt động của TTCK,
vượt qua bao khó khăn thử thách để vững bước phát triển thị trường. Bước đầu
công chúng đầu tư đã làm quen với phương thức huy động vốn thông qua TTCK
Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán
NỘI DUNG
Chương 1:Tổng quan về thị trường chứng khoán
1.1. Khái niệm:
Thị trường chứng khoán (TTCK) trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại,
được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán
trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người
mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị
trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị
trường sơ cấp.
Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao
đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm
giữ chứng khoán.
1.2. Chức năng cơ bản của TTCK:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
1.3. Các chủ thể tham gia TTCK
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành các nhóm sau:
tổ chức phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
1.3.1.Tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK.
Tổ chức phát hành là tổ chức cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của
TTCK.
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính
phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
1.4.2.Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
TTCK được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và
phi tập trung (thị trường OTC).
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH
Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán
1.4.3.Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
TTCK cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị
trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh.
- Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu,
bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
- Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đã
được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô
thị và trái phiếu chính phủ.
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và
mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng
quyền, hợp đồng quyền chọn
1.5. Vài nét về một số thị trường chứng khoán trên thế giới:
Vào ngày 17/5/1792 tại Wall Street, 24 nhà môi giới (broker) và thương gia
(merchant) đã chính thức ký thỏa thuận Buttonwood thành lập thị trường chứng
khoán New York (NYSE). Tại phiên họp các thương gia quyết định sẽ gặp nhau
hàng ngày tại Wall Street để giao dịch cổ phiếu và trái phiếu. Và cho đến bây giờ,
chỉ số NYSE vẫn là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá ttck toàn cầu.
Ngày nay, NYSE, AMEX, NASDAQ và hàng trăm các thị trường chứng khoán
khác đã góp phần quan trọng đáng kể vào nền kinh tế quốc gia và toàn cầu.
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của TTCK Việt Nam
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của thị trường chứng
khoán Việt Nam.
2.1.Lịch sử hình thành Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của TTCK Việt Nam
Trong đó:
Pit: Giá thị trường hiện hành của cổ phiếu i
Qit: Số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i
Pi0: Giá thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu i
Qi0: Số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu i
2.2.Qúa trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2.1. Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa
vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày
20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Ở thời
điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM)
với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.
Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơn sốt vào
năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưng
chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết
đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày
25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001. Trong 4 tháng
“hoảng loạn” này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường với lời
nguyền không bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ,
âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận. thì trong 5 năm chỉ số VN-
Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến130 điểm. Lý do
chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng, không
hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi "room" cũng hết.
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN)
chính thức đi vào hoạt động. Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ
lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực
ngân hàng).
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH
trẻ này đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được
với khối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm.
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của TTCK Việt Nam
Năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại
sàn giao dịch TP. Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch
Hà Nội (Hastc) tăng 152,4%
Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so
đầu năm
Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP)
giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD,
chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường.
Hàng ngày có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những cổ
phiếu được phát hành theo Luật Doanh nghiệp là chính. Trên thị trường phi tập
trung, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch
trên Hastc.
Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193
công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so
với 6 năm trước. Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ
hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006.
Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở
nước ta mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những
người mua, bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiện
tượng “bong bóng” là có thật
Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng
12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư
mới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên
120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản
của nhà đầu tư nước ngoài.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm. Với
TTGDCK Hà Nội thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khối
lượng giao dịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương với
tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khối
lượng và 15,8 lần về giá trị giao dịch so với năm 2006. Quy mô giao dịch tăng
trưởng mạnh khi mức giao dịch bình quân năm 2007 đạt 255 tỷ đồng/phiên trong
khi năm 2006 chỉ đạt 19 tỷ đồng/phiên.
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH 11
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của TTCK Việt Nam
Các giai đoạn phát triển của thị trường
Nhìn nhận khách quan từ góc độ thị trường, bên cạnh những thành công,
TTCK qua một năm hoạt động cũng ghi lại dấu ấn cho những giai đoạn thăng
trầm nhất định khi thị trường trải qua những biến động trồi sụt thất thường: giai
đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm, thị trường bắt đầu hạ nhiệt và
điều chỉnh mạnh vào 5 tháng giữa năm, tiếp đến là một đợt phục hồi trước khi đi
vào thoái trào trong 4 tháng cuối năm .
• Giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm 2007:
Đây là giai đoạn thị trường có những đợt sóng cao, khiến Index của cả 2 sàn
giao dịch đều lập kỷ lục: chỉ số VNIndex đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm sau 7
năm hoạt động và Hastc – Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 năm hoạt
động. Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng với tốc độ lớn
nhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giao dịch.
Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thị
trường trong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng. So với tổng giá trị
vốn hóa 492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đã chiếm
tỷ trọng 4/5. Nhưng điều quan trọng góp phần gia tăng giá trị vốn hóa của thị
trường không phải do số lượng chứng khoán niêm yết gia tăng mà do yếu tố giá
cổ phiếu tăng mạnh.
Trong giai đoạn này, giá các cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồng loạt
các cổ phiếu từ Blue – chip, Penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trên sàn… tất
cả đều đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá giao dịch đầu năm, trong
thái mất cân bằng và liên tục sụt giảm mạnh khiến giai đoạn đầu Tháng 8, thị
trường xác lập mức đáy 883,9 điểm của VNIndex (6/8/2007) và 247,37 điểm của
Hastc - Index (23/08/2007).
Vào giai đoạn thị trường xuống sâu nhất (khoảng đầu Tháng 8), sàn HCM có
những phiên giao dịch chỉ có hơn 3 triệu cổ phiếu được khớp lệnh (ngày
30/07/2007 chỉ có 3.296.340CP được giao dịch), sàn HN cũng chỉ có vẻn vẹn
600.000 CP được chuyển nhượng thành công (ngày 8/8/2007 khớp lệnh 603.100
CP).
Giai đoạn này, các NĐTNN cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượng giao dịch của khối
này trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh. Giá trị giao dịch bình quân của
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH 13
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của TTCK Việt Nam
khối NĐTNN trong giai đoạn này đạt khoảng 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so
với giai đoạn đầu năm.
• Giai đoạn phục hồi của thị trường vào những tháng cuối năm
Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầu
tháng 9 đến cuối Tháng 10/2007.
Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướng phục hồi nhanh chóng, đặc biệt là các
mã cổ phiếu blue – chip trên cả 2 sàn đều lấy lại được những gì đã mất trong 6
tháng giữa năm, tuy nhiên sức bật của các cổ phiếu không đủ mạnh để đưa các cổ
phiếu trở về mức giá đỉnh thiết lập vào tháng 3. Trong giai đoạn này, VNIndex đã
có những phiên giao dịch vượt lên trên ngưỡng 1.100 điểm (1.106,6 điểm vào
ngày 3/10/2007), Hastc – Index cũng gần chạm trở lại ngưỡng 400 điểm (393,59
điểm ngày 01/10/2007).
Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ở nhóm
các cổ phiếu blue – chip như DHG, FPT, VIC… tại HOSE và nhóm cổ phiếu
Sông Đà: S99, SDA, S91…. tại HASTC. Lượng giao dịch bình quân phiên tại
HOSE luôn ở trên mức 10 triệu CP (phiên giao dịch kỷ lục đạt 19.047.000 CP vào
ngày 01/10/2008), sàn HASTC cũng đạt lượng giao dịch bằng 1/2 sàn HOSE với
trung bình phiên có 5 triệu CP được chuyển nhượng.
Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đ ầu tư trong giai đoạn này chủ yếu
xuất phát từ nội tại nền kinh tế. Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát, chính
sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức ép giải chấp
từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu tư vào TTCK.
Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều hành
bắt đầu đưa ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:
(1) UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch;
(2) SCIC tham gia mua vào cổ phiếu;
(3) NHTM được vận động ngừng giải chấp;
(4) Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ.
Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn,
và thị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừng tác động
tới tâm lý các nhà đầu tư. Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có tới 71
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH 15
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của TTCK Việt Nam
phiên VNIndex giảm điểm. Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên VN-Index giảm điểm
liên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008. Sau 103 phiên giao
dịch,VNIndex giảm mất 550,52 điểm- tương đương 59,77%. Bình quân trong mỗi
phiên, toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng, tương đương
khoảng 482 tỷ đồng.
Trong đợt suy giảm này, nhóm cổ phiếu chịu nhiều tác động nhiều nhất là
nhóm cổ phiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp (chủ yếu là các
doanh nghiệp BĐS).
Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải can
thiệp vào thị trường bằng các biện pháp mạnh tay nhiều như năm 2008. Tổng
cộng trong năm 2008, UBCKNN đ ã có 04 lần thay đổi biên độ dao động giá trên
cả 2 sàn chứng khoán. Nhằm hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị tr ường, ngăn đà
suy giảm mạnh của các chỉ số chứng khoán, ngày 04/03/2008, Chính phủ đã đưa
ra nhóm 19 giải pháp ứng cứu thị trường: Cho phép SCIC mua vào cổ phiếu trên
thị trường,kêu gọi và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp niêm yết mua vào cổ
đặc biệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác n ước ngoài, cả hai sàn chứng khoán
đã có được những phi ên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này. VNIndex và Hastc-
Index liên tiếp vượt qua các ngưỡng cản tâm lý quan trọng và thường xuyên có
được những chuỗi tăng điểm kéo dài. Đây cũng là giai đoạn thị trư ờng hoạt động
sôi động nhất. Sức cầu mạnh, kéo theo khối lượng giao dịch v à giá trị giao dịch
thường xuyên ở mức cao. VNIndex tăng được 168,55 điểm, tương đương
45,52%. Khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu CP&CCQ, tương đương
599,18 tỷ đồng/phiên.
Trong giai đoạn này, nhóm cổ phiếu được ưa thích nhất là nhóm cổ phiếu dầu
khí (tăng 80,33%), nguyên vật liệu v à công nghệ (tăng 89,78%). Các đại diện
tiêu biểu cho nhóm cổ phiếu n ày bao gồm: PVS, PVD, PTC, HPG, FPT…
• Giai đoạn 3: Từ tháng 09 tới tháng 12 - Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm do
tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Đây là thời kỳ VNIndex rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ đáy
thiết lập được trong giai đoạn đầu của năm 2008. Tổng kết cả giai đoạn này,
VNIndex m ất 223,48 điểm, tương đương 41,45%. Khối lượng giao dịch trung
bình đạt 15,82 triệu CP&CCQ, tương đương 497,58 tỷ đồng/phiên.
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH 17
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của TTCK Việt Nam
Nguyên nhân tác động lớn nhất tới TTCK trong giai đoạn này chính là sự lan
tỏa mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới. Hòa cùng xu thế
giảm điểm của TTCK các nước, 02 chỉ số chứng khoán tại sàn HoSE và HaSTC
liên tiếp giảm điểm. Trong 86 phiên giao dịch tại HoSE, 49 phiên VNIndex mất
điểm. Đáy mới thiết lập trong giai đoạn này là 286,85 điểm vào ngày 10/12/2008.
Cùng với nỗ lực giải cứu nền kinh tế của Chính phủ và động thái từ NHNN,
xen lẫn giữa những phiên giảm điểm , TTCK Việt Nam vẫn có những phiên phục
hồi mạnh. Tuy nhiên, các “con sóng” trên thị trường thường rất ngắn và không ổn
định. Kết thúc giai đoạn này, VNIndex giảm mất 239,52 điểm, tương đương
43,15%
Tốc độ giảm mạnh nhất trong giai đoạn này thuộc nhóm cổ phiếu các ngành
Sàn giao dịch chứng khoán TPHCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội chỉ là
13 triệu USD. Tổng giá trị vốn hoá thị trường rơi xuống mức khoảng 10 tỷ USD,
không một cổ phiếu niêm yết nào có giá trị vốn hoá thị trường lớn hơn 1 tỷ USD
và chỉ có 4 cổ phiếu có giá trị vốn hoá hơn 500 triệu USD.
Nhà đầu tư nước ngoài đã giảm bán, sau khi bán ra số cổ phiếu với tổng giá
trị 127 triệu USD trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến hết tháng 12/2008,
nhà đầu tư nước ngoài chỉ bán ra lượng cổ phiếu có giá trị khoảng 2 triệu USD từ
đầu năm đến nay. Nguyên nhân chính cho điều này là phần lớn tiền đầu tư của
nhà đầu tư nước ngoài, nếu không tính đến những quỹ đóng, đã rút hết khỏi thị
trường Việt Nam (Quỹ đầu tư chứng khoán PXP Vietnam Emerging Equity Fund
mới đây cho phép nhà đầu tư rút cổ phiếu ra và sau đó họ có thể bán số cổ phiếu
này).
Chưa hết thông tin về lợi nhuận các công ty không mấy tích cực. Tăng trưởng
doanh số khoảng 40% so với cùng kỳ năm trước nhưng lợi nhuận hoạt động chỉ
tăng 8%. Thua lỗ ở các khoản đầu tư địa ốc và chứng khoán đẩy lợi nhuận ròng
giảm 25%. Trong số 329 công ty niêm yết, 23 công ty thua lỗ, trong đó có cả một
số công ty trước đây từng được nhà đầu tư nước ngoài hết sức ưa chuộng như
Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE), Công ty cổ phần Gemadept (GMD) và Công
ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông (SAM).
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH 19
Chương 2: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của TTCK Việt Nam
Tuy nhiên cũng có một số công ty công bố lợi nhuận ấn tượng, đây là những
công ty có hoạt động kinh doanh đi theo hướng thế mạnh và không đầu tư vào thị
trường bất động sản và ngân hàng.Một số nhà đầu tư mạo hiểm có thể tiếp tục
tham gia vào thị trường với mục tiêu dài hạn, họ có thể mua một số cổ phiếu của
các công ty tốt. Tuy nhiên theo đánh giá của HSBC thị trường chứng khoán Việt
Nam năm nay sẽ vẫn khó khăn.
Suốt 2 tháng đầu năm 2009, thị trường chứng khoán luôn trong tình trạng ảm
đạm, èo uột. Cảnh vắng lặng tại sàn giao dịch cho thấy thị trường chứng khoán đã
không còn sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong thời điểm này. Bởi trong suốt
trường và nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan quản lý
nhà nước.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được thìLuật Chứng khoán vẫn còn
hẹp về phạm vi điều chỉnh, mới chỉ bao hàm những nội dung cơ bảnvà chưa bao
quát mọi hoạt động trên TTCK theo thông lệ quốc tế; một số quy định của văn
bản hướng dẫn Luật Chứng khoán còn chồng chéo, chưa thống nhất với các văn
bản pháp luật khác; việc ban hành các quy định pháp lý nhìn chung đều có độ trễ
so với mục tiêu đề ra, đồng thời, nhiều quy định tại Luật Chứng khoán chưa
được hướng dẫn thực hiện,…
3.1.2.Về quy mô và hàng hóa (nguồn cung) của thị trường
Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước
đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong suốt thời kỳ từ 2000-
2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP. Quy mô thị trường đã có
bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức
trên 43% vào năm 2007. Trước biến động của thị trường tài chính thế giới và
những khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm
liên tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH 21
Chương 3: Kết quả đạt được, chiến lược phát triển và tầm nhìn của TTCK VN
còn 18%. Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý
II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các
công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng. Giá trị vốn hóa thị
trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP. Ước tính đến cuối
năm 2010 sẽ đạt khoảng từ 40-50% GDP.
Hoạt động phát hành huy động vốn trên TTCK thực tế chỉ mới phát sinh
từ năm 2006 trở lại đây. Trong năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hiện việc
chào bán hơn 203 triệu cổ phiếu và đến năm 2007, hoạt động phát hành mới
thực sự bùng nổ, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng
thương mại được đăng ký với UBCKNN với tổng lượng vốn huy động lên đến
cho TTCK. Hoạt động phát hành TPCP còn nhiều bất cập, công tác kế hoạch
hoá phát hành trái phiếu chưa tốt, cơ chế phát hành trái phiếu còn nhiều bất cập,
chưa có các tổ chức tạo lập thị trường TPCP đúng nghĩa để đảm bảo thành công
cho các đợt phát hành cũng như tạo tính thanh khoản cho thị trường thứ cấp.
Thiếu đường cong lợi suất chuẩn và tổ chức định mức tín nhiệm.
3.1.3.Về niêm yết và giao dịch chứng khoán
Năm 2000, với 02 công ty niêm yết khi đưa TTGDCK TP.HCM vào hoạt
động, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khan
hiếm, chỉ số VN Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày
25/6/2001. Sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó, trước
khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003. Năm 2005, sau khi TTGDCK Hà Nội
đi vào hoạt động, tổng số các công ty niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công
ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, nhìn chung, giai
đoạn 2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm của TTCK Việt Nam.
Kể từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã có bước
tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch.
Tính đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả hai
SGDCK và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, với tổng giá trị niêm yết đạt
127,489 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5 lần so với cuối năm 2005. Tổng giá trị vốn hóa
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH 23
Chương 3: Kết quả đạt được, chiến lược phát triển và tầm nhìn của TTCK VN
thị trường tính tại thời điểm ngày 31/12/2009 ước đạt 620,551 ngàn tỷ đồng
tương đương với gần 38% GDP cả năm 2009.
Thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêm
yết mà cả về tính thanh khoản của thị trường. Nếu như năm 2005, bình quân có
667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên
2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu trong
hai năm sau đó. Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng
từ 0.43 lần (năm 2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0.68 lần (năm 2008) và ước đạt
1.13 lần (năm 2009).
đến tỷ lệ giá trị niêm yết so với GDP giảm xuống và chỉ còn khoảng 10,81% vào
cuối năm 2009. Tuy nhiên, nếu so sánh với tổng dư nợ trái phiếu phát hành là
16,9% GDP thì vẫn còn một lượng khá lớn trái phiếu chưa được đưa vào niêm
yết và giao dịch trên các SGDCK. Số trái phiếu này phần lớn là trái phiếu doanh
nghiệp phát hành trong thời gian gần đây.
Trước năm 2006, TPCP được giao dịch đồng thời tại HoSE và HNX. Tuy
nhiên, từ ngày 24/9/2009, hệ thống giao dịch TPCP chuyên biệt với gần 30
thành viên, trong đó, có nhiều ngân hàng thương mại và các công ty chứng
khoán lớn đã chính thức hoạt động. Hệ thống này tách biệt khỏi hệ thống giao
dịch cổ phiếu và với nhiều đặc điểm mới, được phát triển phù hợp với các đặc
thù của giao dịch trái phiếu đã khắc phục một số hạn chế của hệ thống giao dịch
trái phiếu trước đây.
Mặc dù đã có những bước phát triển nhảy vọt nhưng thị trường giao dịch
cổ phiếu còn nhiều biến động và hạn chế về tính thanh khoản đặc biệt khi thị
trường có dấu hiệu suy giảm. Bên cạnh đó, hàng hóa niêm yết trên TTCK chưa
đa dạng, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư và phòng ngừa rủi
ro của nhà đầu tư (chưa có các sản phẩm phái sinh, các sản phẩm đầu tư tập thể).
Các dịch vụ tiện ích cho nhà đầu tư trên thị trường còn nghèo nàn (chưa có
nghiệp vụ bán khống, vay ký quỹ, bán trước ngày hoàn thất giao dịch), tính
minh bạch của thị trường chưa đáp ứng nhu cầu của công chúng đầu tư.
3.1.4.Về hệ thống cơ sở nhà đầu tư (cầu đầu tư):
Thực hiện: Nhóm 11 – Lớp NCKT4BTH 25