tình hình nợ công của việt nam từ 2007 2012 - Pdf 10


THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 -
2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1Khái niệm 4
1.2Phân loại nợ công 5
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công 5
1.4 Các hình thức vay nợ: 6
1.5. Các công cụ vay nợ 6
1.5.1Vay nợ trong nước: 6
1.5.2 Vay nợ nước ngoài: 7
1.6. Quản lý nợ công 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM TỪ 2007 - 2012 8
2.1 Thực trạng nợ công tại Việt Nam: 8
2.1.1 Về quy mô nợ công 10
2.1.2 Về cơ cấu nợ công 13
2.1.3 Hệ số an toàn nợ giảm 14
2.1.4 Về tính thanh khoản của các khoản nợ 15
2.1.5 Về chi phí vay nợ 16
2.1.6 Về tiền vay nợ 16
2.2 Những tác động tiềm tàng 17
2.3 Nguyên nhân 18
- Sáu là, Kiểm toán Nhà nước với tư cách là cơ quan độc lập về kiểm tra tài chính nhà nước
cần được quy định rõ nhiệm vụ kiểm toán nợ công trong Luật Quản lý nợ công và Luật Kiểm
toán nhà nước. Kiểm toán Nhà nước kiểm tra, xác nhận số liệu nợ, đánh giá tính bền vững của
nợ Chính phủ so với GDP, trong mối quan hệ với bảo đảm an ninh tài chính quốc gia; cơ cấu
nợ, tỷ lệ vay nợ nước ngoài trong tổng số nợ; cơ chế quản lý nợ, mục đích sử dụng các khoản

1.1Khái niệm
Trong quá khứ, khủng hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập kỷ 80
của Thế kỷ XX. Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố không trả được nợ
vay IMF. Đến tháng 10/1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới 240 tỷ USD đã tuyên bố
hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ. Tuy nhiên, đến nay xung quanh khái niệm và nội
hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất.
Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) nợ công là toàn bộ những khoản
nợ của chính phủ và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh.Trong đó:
- Nợ của chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính
phủ và các đại lí của chính phủ;các tỉnh thành phố hoặc các tổ chức chính trị trực thuộc
chính phủ và các đại lí của các tổ chức này, các doanh nghiệp nhà nước.
- Nợ của Chính phủ bảo lãnh là những khoản nợ trong nước và nước ngoài của
khu vực tư nhân do chính phủ bảo lãnh.
Theo quan điểm của quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) nợ công bao gồm nợ của khu
vực tài chính công và nợ khu vực phi tài chính công. Trong đó:
- Khu vực tài chính công gồm: Tổ chức tiền tệ (nhân hàng trung ương, các tổ
chức tín dụng nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay
mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển).
- Các tổ chức phi tài chính công như: Chính phủ, tỉnh thành phố, các tổ chức
chính quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước.
Theo Luật Quản lý nợ công ban hành năm 2009 của Việt Nam quy định nợ công
bao gồm:
- Nợ chính phủ: Là các khoản nợ được kí kết, phát hành nhân danh nhà nước hoặc
chính phủ, các khoản nợ do Bộ Tài Chính kí kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành;
nhưng không bao gồm các khoản nợ do NHNNVN phát hành nhằm thực hiện mục tiêu
chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
- Nợ được chính phủ bảo lãnh: Là khoản nợ của DN, tổ chức kinh tế trong và
ngoài nước, Chính phủ đứng ra bảo lãnh.
Lý thuyết tài chính công Trang 4
- Nợ của chính quyền địa phương: Là các khoản nợ do UBND cấp tỉnh, TP thuộc

lũy ít đi và nguồn vay của Chính Phủ sẽ giảm đáng kể. Còn có thể đi kèm với lạm phát và
thất nghiệp,lúc này những khoản trả nợ vay đến hạn còn phải cấp bù lạm phát.
- Lãi suất ngoại tệ: Lãi suất ngoại tệ thực tế tăng lên thì khoản vay của CP sẽ trở
nên đắt hơn và ngược lại.
- Tỷ giá thực tế: Ảnh hưởng đến những khoản vay và trả đối với nợ công khi có
những khoản vay nợ nước ngoài. Nếu tỷ giá tăng thì khoản trả nợ vay đến hạn sẽ tăng và
ngược lại. Còn khi vay nợ thì tỷ giá tăng đối với khoản vay nợ sẽ có lợi hơn khi tỷ giá
giảm.
1.4 Các hình thức vay nợ:
- Phát hành trái phiếu chính phủ: Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu chính
phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi
là không có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh
toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là
các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ
vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro về tỉ giá
hối đoái.
- Vay trực tiếp: Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương
mại, các thể chế siêu quốc gia (Ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân Hàng Thế Giới
(WB),…). Hình thức này thường được Chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng
thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ
của họ không cao.
1.5. Các công cụ vay nợ
Vay nợ là biện pháp để bù đắp thiếu hụt ngân sách ở tất cả các quốc gia trên thế
giới. Hiện nay, về cơ bản thì các nước đều có 2 hình thức vay là vay trong nước và vay
nước ngoài với các công cụ vay khác nhau. Cụ thể:
1.5.1 Vay nợ trong nước:
Chủ yếu là tín phiếu kho bạc
* Khái niệm: Tín phiếu là chứng chỉ vay nợ loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn
dưới 1 năm (thường là 3,6,9 tháng), dùng để huy động vốn bù đắp thiếu hụt tạm thời ngân
Lý thuyết tài chính công Trang 6

Lý thuyết tài chính công Trang 7
- Thông qua hoạt động vay nợ, Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp đã
huy động được nguồn vốn khá lớn cho đầu tư phát triển, đồng thời vẫn đảm bảo quản lý
nợ trong các giới hạn an toàn.
- Hoạt động huy động vốn trong nước của Chính phủ thông qua phát hành tín
phiếu, trái phiếu Chính phủ cũng đã giúp hình thành thị trường trái phiếu Chính phủ trong
nước, một thành tố khá quan trọng để hình thành thị trường tài chính hoàn chỉnh. Trái
phiếu Chính phủ được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán đã góp phần
làm tăng tính thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ nói riêng và phát triển thị
trường vốn trong nước nói chung.
- Trong công tác quản lý nợ, các văn bản pháp lý ngày càng được hoàn thiện,
đồng bộ hơn và tiến gần đến các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, nhất là trong lĩnh vực
quản lý nợ nước ngoài. Chính phủ đã thực hiện nguyên tắc thống nhất quản lý nợ Chính
phủ, nợ quốc gia trên cơ sở phân công, xác định trách nhiệm rõ ràng hơn giữa các cơ
quan quản lý.
- Công tác trả nợ Chính phủ trong và ngoài nước luôn được thực hiện đầy đủ,
đúng hạn, không để xảy ra nợ quá hạn như những năm về trước. Việc tích cực đàm phán
xử lý các khoản nợ cũ với các chủ nợ nước ngoài (thuộc Câu lạc bộ Pa- ri, Câu lạc bộ
Luân Đôn) đã giúp giảm đáng kể nghĩa vụ nợ của Việt Nam.
Bên cạnh những thành công đạt được, công tác quản lý nợ công ở Việt Nam trước
khi có Luật Quản lý nợ công còn bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là chưa có sự nhất quán
các khái niệm về nợ cũng như phạm vi quản lý nợ trong các văn bản pháp quy hiện hành
như nợ Chính phủ, nợ khu vực công, nợ quốc gia. Việc phân loại, tổng hợp nợ vì vậy
cũng chưa theo các chuẩn mực quốc tế, việc quản lý nợ còn chồng chéo giữa các cơ quan
quản lý nhà nước, chưa có kế hoạch cụ thể để xây dựng và sử dụng cơ sở dữ liệu về nợ
công.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM TỪ 2007 - 2012
2.1 Thực trạng nợ công tại Việt Nam:
Nợ công của Việt Nam đã và đang được dư luận xã hội hết sức quan tâm bởi nó
không chỉ liên quan đến lòng tin của người dân đối với việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn

8/11/2011, Quốc hội đă thông qua nâng trần nợ công Việt Nam đến 2015 không quá 65%
GDP, dư nợ của Chính phủ không quá 50% GDP và dư nợ quốc gia không quá 50%
GDP.
Thách thức thứ hai, điều kiện nợ ngày càng ngặt nghèo hơn: trong tổng nợ công
của Việt Nam, cuối năm 2009 vay ODA chiếm tỷ trọng 74,67%, vay ưu đãi chiếm
5,41%, vay thương mại 19,92% Sang năm 2010, vay nợ với lãi suất thấp 1-2,99%/năm
chiếm khoảng 65,5% tổng dư nợ.
Đặc biệt, các khoản vay có lãi suất cao từ 6-10%/năm trong năm 2010 đã lên tới
1,89 tỷ USD, gấp hơn 2 lần năm 2009. Hiện các chủ nợ chính của Việt Nam vẫn là Nhật
Bản, Pháp, ADB, WB…
Theo công bố của Tạp chí Kinh tế The Economist, tỷ lệ nợ công năm 2011 của
Việt Nam là 50,9% GDP, dự kiến đến năm 2012 tỷ lệ này là 49,9%. Mặc dù tỷ lệ nợ này
vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 60%GDP theo cách tính chỉ tiêu tỷ lệ nợ công trên
GDP của Liên hiệp quốc) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến được khuyến cáo ở các
nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và so với một số nền kinh tế mới nổi như Trung
Quốc (17,4%), Indonesia (25,6%).
Lý thuyết tài chính công Trang 10
Ngoài ra, cũng theo The Economist, mức nợ công tính trên đầu người của Việt
Nam năm 2011 là 638,55 USD, dự kiến 2012 tăng lên 698,71 USD. Nếu so sánh với
817,22 USD (Trung Quốc), 808,52 USD (Indonesia), 4.626,4 USD (Malaysia), 1.195,29
USD (Philippines), 2.261,78 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao.
Tuy nhiên, nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001
xấp xỉ 112 USD; thì trong vòng 10 năm, con số này đã tăng gấp 6 lần, cho thấy gánh
nặng nợ tương lai đổ lên đầu người dân ngày càng tăng.
Tính ra từ năm 2007 đến cuối năm 2011, nợ công của Việt Nam đã tăng khoảng
25% (trung bình 5%/năm). Với khoản nợ này, căn cứ vào thời điểm đáo hạn thì từ nay
đến 2015 mỗi năm Việt Nam phải trả nợ gốc và lãi cho nước ngoài gần 1,5 tỉ USD và
mức trả nợ cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với con số lên đến 2,4 tỉ USD.
Ngày 3/5/2011, tại Hội thảo “Tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp
nhà nước”, Tiến sĩ Vũ Đình Ánh khẳng định quy mô nợ công Việt Nam ngày càng lớn và

Economist.com, tính đến 13h (giờ Việt Nam) (28/9/2012), nợ công của Việt Nam đang ở
mức trên 68,119 tỷ USD; bình quân nợ công theo đầu người là 762,2 USD; nợ công
chiếm 49,9% GDP. Cùng thời điểm, nợ công toàn cầu đang ở mức trên 48.947 tỷ USD.
Thông số nợ công trên Global debt clock lúc 13h ngày 28/9/2012

Lý thuyết tài chính công Trang 12
Trước đó, số liệu mà Economist đưa ra, tổng mức nợ công của Việt Nam nằm
trong nhóm nước có mức nợ công trung bình của thế giới. Cụ thể, lúc 15h30 ngày
4/9/2012, nợ công của Việt Nam vào khoảng 67,6 tỷ USD, tương đương 50% GDP, tăng
11,2% so với năm 2011. Mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam đang là 756,9
USD. Còn nợ công toàn cầu là 48.771 tỷ USD.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cũng cho biết, dịch vụ nợ công Việt Nam
tăng. Tính đến 31/12/2012 nợ công sẽ là 58,4% GDP (trong khi cuối năm 2011 là 54,6%
GDP). Và dự báo năm 2015 mức nợ sẽ lên tới 65% GDP, trong đó nợ nước ngoài và
Chính phủ dưới 50%. Dịch vụ nợ nước ngoài năm 2011 là 12,5% và 2012 là 13,5% tổng
thu ngân sách Nhà nước.
2.1.2 Về cơ cấu nợ công
Trong cơ cấu nợ công Việt Nam, nợ nước ngoài có vai trò quan trọng và chiếm tỷ
trọng cao nhất. Theo bản tin mới nhất của Cục quản lý nợ và tài chính đối ngoại, năm
2010 tính toán trong tổng nợ công so với GDP có 42,2% GDP là nợ nước ngoài, tăng so
với con số 39% của năm 2009 và cao nhất kể từ năm 2006, ước tính năm 2011 là 44,5%.
Con số 42,2% GDP cũng cao hơn nhiều so với mức 38,8% mà Chính phủ đã dự kiến vào
cuối năm 2010.
Với việc dòng vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ quá lớn trong cơ cấu
vốn đầu tư, nền kinh tế Việt Nam sẽ rất dễ bị tổn thương một khi kinh tế thế giới ngưng
trệ, dòng vốn đầu tư nước ngoài bị suy giảm.
Nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các khoản vay ODA.
Theo danh mục nợ công năm 2009 của Bộ Tài chính, 60,3% nợ công là ODA và 29,8%
được tài trợ từ trái phiếu trong nước. Nhiều khoản vay ODA có thời gian vay rất dài với
lãi suất ưu đãi, chẳng hạn vay WB thời hạn là 40 năm, ân hạn 10 năm và lãi suất chỉ có

Trong khi đó, ông Phong cho biết, nợ công của Thái Lan chỉ có 44,1% GDP và dự
trữ ngoại hối là 176 tỷ USD; Indonesia, Malaysia nợ công chỉ 26,9% GDP, Philippines
47,3%…
Ông Phong cũng dẫn ra rằng, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ, hiện
nay tổng số dịch vụ nợ (trả nợ cả gốc và lãi) của Chính phủ chiếm khoảng 14-16% tổng
Lý thuyết tài chính công Trang 14
thu ngân sách nhà nước. Trong khi đó, theo thông lệ quốc tế, mức dịch vụ nợ an toàn là
không quá 30% tổng thu ngân sách.
Thách thức thứ tư là đầu tư công chưa hiệu quả là nguồn gốc lớn nhất làm tăng nợ
công. Ông Phong lấy ví dụ, Việt Nam hiện có 194 khu công nghiệp, 1643 cụm công
nghiệp, 15 dự án khu kinh tế ven biển, ước tính cần hơn 2000 tỷ USD (bằng toàn bộ đầu
tư cả nước trong 50 năm nữa) để đầu tư.
Năm 2011, cả nước “lọt lưới” 333 dự án mới sai đối tượng sử dụng vốn trái phiếu
Chính phủ. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước đang chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân
hàng.
Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tính đến hết tháng 8/2011, nợ xấu toàn
ngành ngân hàng ở mức trên 76.000 tỷ đồng và đang có xu hướng tăng. Trong đó, các tổ
chức tín dụng có nguy cơ mất trắng khoảng 37.000 tỷ đồng (thuộc nợ nhóm 5). Nợ xấu
của một số ngân hàng cao hơn mức bình quân của toàn ngành là 3,21%/tổng dư nợ.
2.1.4 Về tính thanh khoản của các khoản nợ
Các món vay nợ nước ngoài của Việt Nam phần lớn là vay nợ dài hạn và tính
thanh khoản nợ công hiện vẫn khá tốt, các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp chiếm tới
80% (nghĩa vụ trả nợ đến năm 2013 chiếm khoảng 10% dự trữ ngoại hối quốc gia và nợ
nước ngoài chiếm 20% dự trữ ngoại hối hiện nay). Mặc dù vậy, nợ công của Việt Nam
vẫn có thể xảy ra những rủi ro về tính thanh khoản, khi thời hạn trả nợ bị xáo trộn (khoản
nợ từ trung hạn và dài hạn có thể chuyển thành ngắn hạn – trong trường hợp các chủ nợ
gặp khó khăn hay khủng hoảng kinh tế trong nước). Đặc biệt, tính thanh khoản của
những khoản nợ nước ngoài trong ngắn hạn cũng tiềm ẩn những rủi ro khi tỷ lệ dự trữ
ngoại hối của Việt Nam/tổng dư nợ ngắn hạn đã và đang sụt giảm với tốc độ rất nhanh, từ
mức 100 lần năm 2007 xuống còn 28 lần vào năm 2008, còn 3 lần vào năm 2009 và chỉ

Nam sẽ phải dành một lượng USD lớn hơn nhiều để mua đồng Yên trả nợ. Và chỉ riêng
biến động này này đă làm gia tăng tổng số nợ nước ngoài và nợ công của chúng ta.
Như vậy, mặc dù mức nợ công so với GDP của Việt Nam vẫn được đánh giá là an
toàn nhưng nợ công đang ẩn chứa nhiều rủi ro. Khi nợ công quá cao, bên cạnh những hậu
Lý thuyết tài chính công Trang 16
quả về mặt kinh tế, quốc gia còn phải đối mặt với nguy cơ suy giảm chủ quyền, khi phải
chịu những áp lực to lớn từ phía các chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế, nguy cơ bất
ổn về xã hội khi Nhà nước không đảm bảo được những vấn đề về an sinh xã hội cho
người dân. Thông thường, đó là những sức ép về việc thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm
trợ cấp xã hội, khó khăn trong giải quyết thất nghiệp và xa hơn nữa là những yêu cầu về
cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thay đổi các định hướng kinh tế theo hướng tự
do hoá nhiều hơn. Ngoài ra, việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nợ nước ngoài
cũng sẽ làm giảm vị thế của quốc gia trong các mối quan hệ song phương cũng như đa
phương với các đối tác là các nước chủ nợ.
Mặt khác, mối quan ngại về sự già hóa dân số sẽ làm cho nợ công tăng vọt trong
những thập kỷ tới. Nguyên nhân là do lực lượng lao động bị thu hẹp sẽ làm cho nguồn
thu thuế của chính phủ bị sụt giảm, trong khi đó số người nghỉ hưu tăng lên sẽ gây áp lực
cho việc tăng chi tiêu chính phủ trong các khoản lương hưu và chăm sóc sức khỏe…do
vậy, quản lư nợ công thế nào cho hiệu quả là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu tại Việt
Nam hiện nay.
2.2 Những tác động tiềm tàng
Vấn đề nợ công của Việt Nam rõ ràng đang gây ra hàng loạt các mối lo ngại từ
quy mô, đến tính an toàn và khả năng tài trợ nợ công.
Khả năng tăng trưởng kinh tế có thể sẽ bị giảm xuống nếu các biện pháp can thiệp
quá nhanh và quá mạnh, có thể làm vô hiệu những chính sách kinh tế vĩ mô.
Rõ ràng, nợ công ở Việt Nam đang tăng nhanh trong khi thâm hụt ngân sách đã trở
thành căn bệnh kinh niên, đầu tư không ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất tăng
cao khiến cho việc tài trợ nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ và tạo áp lực tín dụng dài
hạn. Nếu Chính phủ phải in thêm tiền để mua trái phiếu sẽ có thể khiến lãi suất các loại
trái phiếu dài hạn tăng cao thay vì hạ thấp đi và tất nhiên, tiếp tục gây áp lực lạm phát.

Thông qua các chương trình đầu tư công, nợ công của Việt Nam được chuyển tải
vào các dự án đấu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế
bền vững. Tuy nhiên, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam không đạt hiệu quả cao, thể
hiện ở hai khía cạnh sau:
Lý thuyết tài chính công Trang 18
Thứ nhất, tình trạng chậm trễ trong giải ngân vốn
Tình trạng chậm trễ trong giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và nguồn
vốn trái phiếu Chính phủ diễn ra khá thường xuyên. Theo báo cáo của Kho bạc Nhà
nước, hết tháng 10/2009, mới giải ngân được 26.586 trong số 64.000 tỷ đồng vốn trái
phiếu Chính phủ, bằng 47,5% kế hoạch năm. Tình trạng dự án, công trình thi công dở
dang, chuyển tiếp, kéo dai, chậm tiến độ vẫn chậm được khắc phục. Điều này cùng với sự
thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp Nhà
nước cũng như các tập đoàn lớn, dẫn đến đầu tư dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở
tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư.
Thứ hai, hiệu quả đầu tư thấp
Năm 2009, trong khi tổng mức đầu tư toàn xã hội lên tới 42,2% GDP, thì tốc độ
tăng trưởng lại chỉ đạt 5,2%. Chỉ số ICOR năm 2009 đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so
với 6,6 của năm 2008. Điều này có nghĩa là, nếu năm 2001 Việt Nam cần 5.24 đồng vốn
để tạo ra được 1 đồng sản lượng , thì giờ đây cần phải đầu tư thêm gần 3 đồng vốn nữa.
Các hệ số an toàn của nợ công Việt Nam tuy vẫn còn trong giới hạn nhưng đã tiệm
cận ở mức cao. Dư nợ công tăng lên trong thời gian qua là do các khoản vay nợ trực tiếp
trong và ngoài nước của Chính phủ để bù đắp cho bội chi ngân sách nhà nước và do sự
gia tăng nghĩa vụ nợ được Chính phủ bảo lãnh của một số tập đoàn và tổng công ty nhà
nước.
Việc duy trì chi đầu tư từ ngân sách nhà nước ở mức cao trong giai đoạn vừa qua
đã làm gia tăng bội chi ngân sách. Bội chi ngân sách ở Việt Nam tăng ở mức trung bình
4,0% GDP giai đoạn 1996 - 2000 lên 4,9% giai đoạn 2001 - 2005 và 5,5% giai đoạn 2006
- 2011. Năm 2011, bội chi đã giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm qua là nhờ kết quả
của việc thực hiện Nghị quyết 11 về những giải pháp chủ yếu ổn định kinh tế vĩ mô.
Bội chi ngân sách kéo theo hệ quả trực tiếp là dư nợ công tăng và làm tăng chi phí

khả năng thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi phí. Muốn
vậy, cần thiết lập ngưỡng an toàn nợ công; đồng thời thường xuyên đánh giá các rủi ro
phát sinh từ các khoản vay nợ Chính phủ trong mối liên hệ với GDP, thu ngân sách nhà
nước, tổng kim ngạch xuất khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính,
quỹ tích lũy để trả nợ…
- Ba là, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay để cho vay lại và các khoản vay được
Chính phủ bảo lãnh. Chính phủ vay để cho vay lại và bảo lãnh vay thường phát sinh khi
doanh nghiệp cần huy động một lượng vốn lớn trên thị trường vốn quốc tế, nhưng không
đủ uy tín để tự mình đứng ra vay nợ. Khi đó, Chính phủ có thể giúp doanh nghiệp tiếp
cận được với các nguồn vốn quốc tế với quy mô lớn, lãi suất thấp. Các khoản vay và bảo
lãnh này thực chất là nghĩa vụ ngân sách dự phòng, làm nảy sinh nguy cơ ngân sách nhà
nước phải trang trải các khoản nợ khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc mất khả năng
thanh toán. Do đó, việc vay về cho vay lại và bảo lãnh vay cần hết sức thận trọng, chỉ nên
ưu tiên cho các chương trình, dự án trọng điểm của Nhà nước hoặc thuộc các lĩnh vực ưu
tiên cao của quốc gia. Kiểm soát chặt chẽ các khoản vay nợ nước ngoài được Chính phủ
bảo lãnh và việc cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay nợ trong nước; khuyến khích
phát triển mô hình hợp tác công - tư (PPP).
- Bốn là, nâng cao hiệu quả và tăng cường kiểm soát việc sử dụng vốn vay, vốn
được Chính phủ bảo lãnh. Đây là vấn đề cốt yếu đảm bảo cho khả năng trả nợ và tính bền
vững của nợ công. Chính phủ là người đứng ra vay nợ, nhưng không phải là người sử
dụng cuối cùng các khoản vốn vay, mà là các chủ dự án, các đơn vị thụ hưởng ngân sách,
Lý thuyết tài chính công Trang 21
các doanh nghiệp ; trong mọi trường hợp, ngân sách nhà nước phải gánh chịu hậu quả,
rủi ro trong toàn bộ quá trình vay nợ. Để bảo đảm hiệu quả trong việc vay vốn và sử dụng
vốn vay cần phải tuân thủ 2 nguyên tắc cơ bản là: không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn,
vay thương mại nước ngoài chỉ sử dụng cho các chương trình, dự án có khả năng thu hồi
vốn trực tiếp và bảo đảm khả năng trả nợ; đồng thời kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường
xuyên quá trình sử dụng các khoản vay nợ, các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, nhất
là tại các đơn vị sử dụng trực tiếp vốn vay như: tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước,
ngân hàng thương mại, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status