Nhóm 4
BÀI TẬP NHÓM TÀI CHÍNH HỌC
ĐỀ TÀI:
VAI TRÒ TÀI CHÍNH CÔNG CỦA VIỆT NAM
TỪ NĂM 2008 ĐẾN 2010
DANH SÁCH NHÓM
1. Nguyễn Hồng Nhung
2. Nguyễn Thị Linh
3. Bùi Ánh Tuyết
4. Phùng Thị Thủy
5. Nguyễn Thị Thu Trang
6. Phan Thị Trang
7.Nguyễn Thị Thoa
8.Lương Ngọc Tuấn
9.Nguyễn Bảo Trung
MỤC LỤC
1
Nhóm 4
I. Khái quát về vai trò của tài chính công.
1. Tài chính công là gì?
Xét về hình thức, tài chính công là các hoạt động thu, chi tiền tệ của nhà nước
gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các
nhu cầu thực hiện chức năng của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công
cho xã hội.
Về thực chất, tài chính công phản ánh các quan hệ kinh tế trong phân phối
nguồn tài chính quốc gia phát sinh giữa các cơ quan công quyền của nhà nước
với các chủ thể khác trong nền kinh tế nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội không vì mục
tiêu lợi nhuận.
2. Đặc điểm của tài chính công.
+ Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước. Nhà nước
cho các hoạt động của bộ máy nhà nước thực hiện các chức năng của mình.
Có thể nói rằng đây là vai trò lịch sử của tài chính công xuất phát từ nội tại của
3
Nhóm 4
phạm trù tài chính. Một nhà nước ra đời, để có thể tồn tại duy trì hoạt động và
thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình phải có nguồn lực tài chính để chi tiêu,
thực thi các kế hoạch hành động. Đặc biệt trong thời đại kinh tế xã hội phát triển,
vai trò của nhà nước ngày càng trở nên quan trọng thì hoạt động của nhà nước
càng thêm phong phú, đa dạng, nhu cầu chi tiêu của chính phủ do đó mà không
ngừng tăng lên cả về quy mô và phạm vi. Nguồn để phục vụ cho các hoạt động
chi tiêu đó ở đâu? Chính là từ thu nhập công. Nhà nước tập trung các nguồn lực
tài chính vào ngân sách nhà nước là chủ yếu, ngoài ra còn tập trung vào các quỹ
tài chính khác của nhà nước. Sau đó thực hiện chức năng phân phối và sử dụng
nhằm duy trì một cách hiệu quả hoạt động của mình và thực hiện các chức năng
kinh tế xã hội. Tài chính công là công cụ tài chính mà nhà nước sử dụng để thực
hiện huy động, tập trung các nguồn lực tài chính quốc gia (thu nhập công) nhằm
duy trì hoạt động của mình trên các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an
ninh, quốc phòng…
Vai trò này được thể hiện cụ thể qua các ý đó tài chính công huy động nguồn
lực tài chính cho hoạt động của nhà nước, nhà nước sử dụng nguồn lực đó trong
hoạt động như thế nào?, việc huy động và phân phối nguồn tài chính đó hợp lý
hay chưa?
Tài chính công là công cụ đắc lực để khai thác, động viên và tập trung
các nguồn lực tài chính, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho nhu cầu chi tiêu mà
nhà nước đã dự tính và phát sinh. Bất cứ nhà nước nào cũng sử dụng tài chính
công trong mọi mô hình tài chính công để phục vụ cho công việc quản lý và điều
hành nền kinh tế - xã hội. Tài chính công được sử dụng để huy động một phần
nguồn tài chính của quốc gia thông qua đóng góp bắt buộc hoặc tự nguyện của
các chủ thể trong nền kinh tế tạo lập quỹ tài chính công. Các nguồn lực tài chính
này được nhà nước huy động từ trong nội bộ nền kinh tế quốc dân và từ nước
5
Nhóm 4
các nguồn tài chính trong toàn bộ nền kinh tế. Công cụ thuế với các mức thuế
suất và ưu đãi khác nhau đối với từng loại sản phẩm ngành nghề vùng lãnh thổ…
Tài chính công có vai trò định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế, kích
thích hoặc hạn chế phát triển sản xuất kinh doanh theo từng loại sản phẩm. Với
việc phân bổ nguồn tài chính cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đầu tư vào các
ngành nghề then chốt các công trình mũi nhọn hỗ trợ tài chính cho các thành
phần kinh tế trong các trường hợp cần thiết như trợ giá trợ cấp… tài chính công
góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh hình thành
và hoàn thiện cơ cấu sản xuất cơ cấu kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.
Cùng với việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng tài chính công còn có vai trò quan
trọng trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô như: đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế
hợp lý, duy trì việc sử dụng lao động ở tỷ lệ cao, hạn chế sự tăng giá đột ngột
đồng loạt và kéo dài… Vai trò này được thực hiện thông qua các biện pháp như
tạo lập và sử dụng quỹ dự trữ quốc gia, quỹ hỗ trợ việc làm điều chỉnh thuế điều
chỉnh chi tiêu chính phủ, phát hành trái phiếu…
Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định nền kinh tế vĩ
mô:
Sự ổn định của một nền kinh tế được đánh giá từ nhiều chỉ tiêu như: Đảm
bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý và bền vững, duy trì lao động ở
tỷ lệ cao, thực hiện cân đối cán cân thanh toán quốc tế, bình ổn thị trường và
kiểm soát lạm phát. Để có thể đảm bảo được các yếu tố trên nhà nước cần thực
hiện đồng bộ nhiều biện pháp trong đó biện pháp về tài chính là thực hiện các
công cụ là tài chính công cụ thể: tạo lập các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà
nước và sử dụng nó một các linh hoạt nhằm ứng phó với những biến động của
nền kinh tế, Quỹ dự trữ nhà nước, quỹ bình ổn giá là công cụ điều tiết thị trường,
bình ổn giá cả. Quỹ dự trữ xuất nhập khẩu, quỹ dự trữ ngoại tệ là công cụ nhằm
6
Nhóm 4
thu nhập của những người có thu nhập cao và điều tiết ở mức hợp lý đối với các
cá nhân có thu nhập trung bình hoặc thấp. Bên cạnh đó thuế gián thu như thuế
tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng thuế xuất nhập khẩu có vai trò điều tiết thu
nhập thực tế có khả năng thanh toán của dân cư bằng việc đánh thuế cao với
hàng hóa dịch vụ cao cấp, đánh thuế thấp với các mặt hàng dịch vụ thiết yếu đảm
bảo đời sống dân cư. Với các chính sách trợ cấp trợ giá chi các chương trình mục
tiêu sẽ làm giảm bớt khó khăn của người nghèo những người thuộc diện chính
sách đối tượng khó khăn… thường phát huy tác dụng cao vì đối tượng xác được
hưởng rất dễ xách định. Tuy nhiên điều tiết thu nhập của dân cư cần chú ý duy
trì mức độ chênh lệch vừa phải để tạo điều kiện cho các cá nhân có thu nhập
chính đáng được hưởng thu nhập của mình, không cao bằng thu nhập thông qua
phân phối tài chính.
Như vậy, về mặt xã hội, tài chính công là một công cụ quan trọng được nhà
nước sử dụng để khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường,
hướng tới việc xây dựng một xã hội tiến bộ phát triển, văn minh và lành mạnh.
II. Vai trò của tài chính công ở Việt Nam từ năm 2008 – 2010
1. Đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước
- Tài chính công được sử dụng để huy động một phần nguồn tài chính quốc
gia thông qua đóng góp bắt buộc hoặc tự nguyện của các chủ thể trong nền kinh
tế, tạo lập quỹ tài chính công.
- Bất cứ nhà nước nào cũng sử dụng tài chính công trong mọi mô hình tài
chính công để phục vụ cho công việc quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội.
Tài chính công được sử dụng để huy động một phần nguồn tài chính của quốc
gia thông qua đống góp bắt buộc hoặc tự nguyện của cách chủ thể trong nền kinh
tế tạo lập quỹ tài chính công. Tài chính công phân phối sử dụng nguồn tài chính
huy động từ các quỹ công để phục vụ đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của nhà
8
Nhóm 4
nước. Phân phối sản phẩm quốc dân theo hướng tích lũy để ổn định và phát triển
kinh tế đồng thời cung cấp các nguồn vốn để thỏa mãn các yêu cầu về hàng hóa
tăng. Vậy vấn đề đặt ra là Chính Phủ sử dụng tài chính công thông qua những
hình thức nào để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giữa người
giàu và người nghèo.
- Quốc phòng là một ví dụ về vai trò không thể loại bỏ được của chính phủ -
tài chính công. Tại sao? Bởi vì việc phòng thủ cho một quốc gia là một dạng
hàng hóa hoàn toàn khác biệt so với cam, máy vi tính hay nhà ở: con người
không thể thanh toán cho từng đơn vị hàng hóa mà họ sử dụng mà phải mua một
tổng thể cho toàn bộ quốc gia. Cung cấp dịch vụ quốc phòng cho một cá nhân
không có nghĩa là những người khác ít được bảo vệ hơn, bởi vì trên thực tế tất cả
mọi người đều tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng này cùng nhau. Trên thực tế thì
dịch vụ quốc phòng được cung cấp cho tất cả dân chúng trong một quốc gia kể
cả những người không muốn dịch vụ này, bởi vì không có một cách làm hiệu quả
nào khác. Chỉ có các quốc gia chứ không phải là các làng xã hay các cá nhân có
thể có đủ nguồn lực để sản xuất máy bay chiến đấu phản lực.
- Loại hình hàng hóa này gọi là hàng hóa công cộng, bởi vì không một doanh
nghiệp tư nhân nào có thể bán dịch vụ quốc phòng cho các công dân của một
quốc gia mà vẫn duy trì được hoạt động kinh doanh. Nó chỉ đơn giản là không
thể bán dịch vụ quốc phòng cho những người cần và không bảo vệ những người
từ chối thanh toán dịch vụ đó. Và nếu những người này vẫn được bảo vệ mà
không phải trả tiền thì tại sao họ phải chọn cách thanh toán? Điều này được coi
là vấn đề "kẻ ăn không", và đó là lý do chính giải thích vì sao chính phủ phải
điều hành quốc phòng và dùng thuế để chi cho quốc phòng.
- Không có nhiều hàng hóa công cộng thực sự - những hàng hóa nhiều người
có thể cùng sử dụng và là đối tượng của vấn đề kẻ ăn không - do đó hầu hết các
10
Nhóm 4
hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường đều có thể được các công ty tư
nhân sản xuất và bán trong các thị trường tư nhân. Các ví dụ khác về hàng hóa
công cộng có thể kể đến là chương trình kiểm soát lũ lụt và sâu bọ, và thậm chí
cả băng tần sóng phát thanh và truyền hình được phát sóng rộng rãi trong không
thuế và phí vào ngân sách nhà nước bình quân đạt 22% GDP so với mục tiêu
Chiến lược cải cách hệ thống đến năm 2010 đặt ra là 20 - 21% GDP. Tốc độ tăng
thu từ thuế, phí và lệ phí vào NSNN bình quân hàng năm đạt 19,6%. Cơ cấu thu
NSNN được cải thiện theo chiều hướng tích cực đảm bảo tính ổn định, bền vững,
nguồn thu từ sản xuất kinh doanh trong nước tăng dần qua các năm và ngày càng
chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN, năm 2006 tỷ trọng thu nội địa (không
kể thu từ dầu thô) trong tổng thu NSNN là 52% thì đến năm 2010 đã tăng lên
63,4%. Có thể thấy rằng, sau 5 năm thực hiện, hệ thống chính sách thuế đã được
xây dựng đổng bộ có cơ cấu hợp lý bao quát hầu hết các nguồn thu, thực sự trở
thành công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo
hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay là 25%.
Thuế tiêu thụ đặc biệt với các mức thuế khác nhau tùy thuộc vào từng loại
hàng hóa.
BIỂU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
STT Hàng hoá, dịch vụ Thuế suất (%)
I Hàng hoá
1 Thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá 65
2 Rượu
a) Rượu từ 20 độ trở lên:
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến hết ngày 31 tháng 12 45
12
Nhóm 4
STT Hàng hoá, dịch vụ Thuế suất (%)
năm 2012
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 50
b) Rượu dưới 20 độ 25
3
Bia
70% số năng lượng sử dụng.
Bằng 70% mức
thuế suất áp
dụng cho xe
cùng loại quy
định tại điểm
4a, 4b, 4c và 4d
Điều này
e) Xe ô tô chạy bằng năng lượng sinh học Bằng 50% mức
thuế suất áp
dụng cho xe
cùng loại quy
định tại điểm
4a, 4b, 4c và
4d Điều này
13
Nhóm 4
STT Hàng hoá, dịch vụ Thuế suất (%)
g) Xe ô tô chạy bằng điện
Loại chở người từ 9 chỗ trở xuống 25
Loại chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ 15
Loại chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ 10
Loại thiết kế vừa chở người, vừa chở hàng 10
5
Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh
trên 125cm
3
20
6 Tàu bay 30
7 Du thuyền 30