Tình hình thủ cổng nghiệp Việt Nam dưới thời Tự Đức (1848-1883) - Pdf 27

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn để tài
Thủ công nghiệp là nền sản xuẩt trung gian giữa nông nghiệp và công
nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Trong xã hội phong kiến mặc dù
kinh tế thủ công ghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp song nó vẫn giữ vị trí quan
trọng trong nền kinh tế.
Việc nghiên cứu hoạt động thủ công nghiệp dưới thời Tự Đức (1848-1883)
giúp ta hiểu sâu sắc về kinh tế thủ công nghiệp và vai trò của hoạt động kinh tế này
với nhà nước và gia đình. Hiểu toàn diện hơn về tình hình kinh tế xã hội thời Tự
Đức-một giai đoạn lịch sử đặc biệt: phát triển trong điều kiện của cuộc chiến tranh
xâm lược và cuộc đấu tranh chống xâm lược. Đó cũng là thời kì khủng hoảng trầm
trọng của chế độ phong kiến Việt Nam. Hiểu rõ hơn về chính sách kinh tế nói
chung và kinh tế thủ công nghiệp nói riêng của triều đình Tự Đức, từ đó có những
lý giải cho sự phát triển chậm chạp của nền kinh tế nước ta triều Nguyễn nói chung
và thời Tự Đức nói riêng. Đó cũng là nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của cuộc
kháng chiến chống xâm lăng của nhân ta cuối thế kỉ XIX. Từ việc nghiên cứu tình
hình thủ công nghiệp dưới thời Tự Đức sẽ cho ta thấy rõ vai trò to lớn của các thợ
thủ công, công nghệ ở nước ta-những con người góp phần đáng kể cho việc duy trì
và phát triển hoạt động thủ công nghiệp của đất nước, rút ra được những đặc điểm
và kinh nghiệm phát triển thủ công nghiệp.
Nghiên cứu về thủ công nghiệp thời Tự Đức giúp ta có những nội dung-tư
liệu lịch sử, góp phần vào việc nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy, học tập về thời kì
lịch sử-cuối thế kỉ XIX đầy khó khăn và biến động. Khóa luận cũng là tài liệu tham
khảo góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, yêu lao động, tự lực tự cường…của
dân tộc ta cho mọi tầng lớp nhân và thế hệ trẻ.
Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay
với việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, thủ công nghiệp có vai trò quan
trọng. Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư có viết “thủ công nghiệp
1
nước ta có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cần được đặc biệt chú ý
phục hồi và phát triển, mạnh nhất là những nghề thủ công cổ truyền mỹ nghệ ở các

 Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ Việt Nam dưới triều
Nguyễn của Vũ Huy Phúc. Công trình này nghiên cứu một cách khá hệ thống
về tình hình thủ công nghiệp triều Nguyễn trong đó có thời Tự Đức. Tác
phẩm cũng đã khái quát được sự phát triển của một số nghề thủ công truyền
thống nằm trong bộ phận thủ công nghiệp dân gian như nghề gốm, nghề rèn,
nghề dệt…nhưng chưa hoàn thiện.
Tóm lại, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào
về thủ công nghiệp thời Tự Đức (1848-1883).
b. Phạm vi nghiên cứu
Tình hình thủ công nghiệp Việt Nam từ 1848 đến 1883.
3. Đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu:
Thủ công nghiệp Việt Nam dưới thời Tự Đức (1848-1883).
b. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trên cơ sở những tư liệu được chọn lọc và chỉnh lý, đề tài dựng lại thực
trạng nền thủ công nghiệp Việt Nam dưới thời Tự Đức gồm một số vấn đề sau đây:
 Bối cảnh lịch sử và yêu cầu phát triển kinh tế nói chung, thủ công nghiệp
nói riêng.
 Những chính sách, biện pháp của nhà nước phong kiến đối với thủ công
nghiệp.
 Thực trạng hoạt động thủ công nghiệp trong khu vực nhà nước và dân
gian.
Từ đó rút ra những đặc điểm, vai trò, bài học kinh nghiệm và đánh giá vai
trò, đặc điểm của vấn đề nghiên cứu.
c. Đóng góp của khóa luận
3
Đề tài lần đầu tiên trình bày một cách tương đối hệ thống và đầy đủ về thực
trạng thủ công nghiệp Việt Nam dưới thời Tự Đức (1848-1883). Góp phần đánh giá
vai trò của thủ công nghiệp thời kì này và rút ra những đặc điểm, bài học kinh
nghiệm trong hoạt động thủ công nghiệp.

khoa học của tư liệu.
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm
hai chương.
 Chương 1: Bối cảnh lịch sử và những chính sách của triểu Tự Đức đối
với thủ công nghiệp.
 Chương 2: Thực trạng thủ công nghiệp Việt Nam dưới thời Tự Đức
(1848-1883).
5
CHƯƠNG 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU
TỰ ĐỨC ĐỐI VỚI THỦ CÔNG NGHIỆP
1.1 Bối cảnh lịch sử
Tình hình thủ công nghiệp thời Tự Đức gắn liền với bối cảnh quốc tế và trong
nước những năm của thế kỷ XIX. Bối cảnh lịch sử ấy đã có tác động không nhỏ
đến sự phát triển hay những hạn chế của thủ công nghiệp và quy định đặc điểm của
thủ công nghiệp thời kì này. Tìm hiểu bối cảnh lịch sử chúng tôi chỉ xin được giải
quyết vấn đề đó là: bối cảnh ấy có tác dụng thuận lợi và khó khăn gì cho sự phát
triển thủ công nghiệp thời Tự Đức (1848-1883).
1.1.1 Bối cảnh quốc tế
Vào những năm đầu của thế kỷ XIX, trong khi phong trào cách mạng không
ngừng tiếp diễn thì kinh tế tư bản chủ nghĩa đã có những bước tiến quan trọng. Chủ
nghĩa tư bản phát triển không ngừng và dần chuyển sang chủ nghĩa đế quốc.
Nước Anh vẫn chiếm địa vị hàng đầu trong nền kinh tế thế giới. Từ năm 1830
tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng tăng, việc sử dụng máy móc vào sản xuất
ngày càng nhiều. Ngành luyện kim vầ cơ khí phát triển rất nhanh nhằm đáp ứng
nhu cẩu trang bị kỹ thuật toàn bộ nền công nghiệp. Đồng thời, đường sắt tăng lên
nhanh chóng: năm 1830 đường xe lửa đầu tiên nối liền Manchester và Liverpool
được khánh thành và đến năm 1850 nước Anh đã có tới 10.000 Km đường sắt.
Điều đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường trong nước và tăng cường mối liên hệ

Thị trường trong nước không đủ đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế vì vậy các
nước tư bản Âu, Mỹ tăng cường tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược giành giật
thị trường thuộc địa. Và châu Á trong đó có Việt Nam trở thành một trong những
mục tiêu hàng đầu của quá trình ấy.
7
Cũng chính sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã đặt ra
cho Việt Nam cả thuận lợi và khó khăn. Thuận lợi đó là Việt Nam có cơ hội được
tiếp xúc và học hỏi những thành tựu kỹ thuật khoa học tiên tiến, hiện đại nhằm phát
triển nền kinh tế nói chung và thủ công nghiệp nói riêng. Khó khăn đó là liệu Việt
Nam có tiếp thu và áp dụng thành công những tiến bộ khoa học đó để phát triển
nền kinh tế của mình phù hợp với bối cảnh quốc tế hay không? Tất cả những điều
kiện đó đểu có tác động đến sự phát triển của kinh tế nói chung và kinh tế thủ công
nghiệp nói riêng.
Trước yêu cầu lịch sử như vậy, một câu hỏi đặt ra là vua quan triểu Nguyễn có
nhận thức được yêu cầu đó không và họ đáp ứng yêu cầu ấy như thế nào?
Do yêu cầu phát triển kinh tế, đời sống và quốc phòng, bảo về độc lập của tổ
quốc trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp cần thiết phải cải cách, phát triển kinh
tế trong đó có thủ công nghiệp. Đã có một số đề nghị cải cách về thủ công nghiệp
như: điều trần của Nguyễn Văn Chấn: cấm không được mua hàng nước ngoài để
đảm bảo phát triển hàng nội hóa [18;87].
Năm 1867, Đặng Huy Trứ đi công cán ở Hồng Kông về đã có đề xuất lập cục
cơ khí, mở xưởng đúc gang thép, đóng tàu, đúc súng đạn, mời chuyên gia phương
Tây sang dạy, cử thanh niên tuấn tú đi học ở nước ngoài… Ngoài ra còn rất nhiều
điều trần khác tiêu biểu là điều trần của Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều định Tự
Đức thực hiện cải cách mở cửa thông thương với nước ngoài, học tập kỹ nghệ tiến
tiến phương Tây, phát triển kinh tế-xã hội trong đó có phát triển công nghiệp, thủ
công nghiệp để dân giàu nước mạnh…
Trước những đề nghị cải cách đó, triều đình Tự Đức bảo thủ, không thực hiện
làm cải trở sự phát triển kinh tế thủ công nghiệp.
1.1.2 Bối cảnh trong nước

Hai ngành công và thương nghiệp cũng ngày càng thêm bế tắc. Các công
trường xây dựng, công trường sản xuất, cả những thợ giỏi ở các địa phương…đều
9
do triều đình nắm giữ, sử dụng vào việc xây dựng cung điện thành quách, lăng
tẩm…làm đồ dùng và đồ trang sức cho vua chúa. Triều đình giữ độc quyền khai mỏ
trong cả nước, khai thác theo lối thủ công nên năng suất rất thấp. Đối với một số
mỏ cho Hoa kiều hoặc người Việt khai thác thì đánh thuế sản vật rất nặng, lại còn
độc quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá ấn định.
Các nghề thủ công truyền thống trong nhân dân không có điều kiện phát triển.
Triều đình đề ra những luật lệ ngặt nghèo làm thui chột tài năng sáng kiến của
người thợ, buộc họ phải đóng thuế bằng sản vật…Do đời sống nhân dân đói khổ
nên sức mua rất thấp, thị trường trong nước gần như tê liệt, trong khi thị trường
ngoài nước bị ngăn cấm. Tình hình đó ảnh hưởng trầm trọng đến nội thương lẫn
ngoại thương.
Về xã hội, kể từ năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế nhà Nguyễn đã đối
lập găy gắt với nhân dân. Triều Nguyễn thi hành nhiều chính sách bảo thủ và phản
động trên tất cả các mặt càng làm cho mâu thuẫn xã hội thêm gay gắt dẫn tới bùng
nổ quyết liệt. Nhiều cuộc nổi dây của nông dân và các tâng lớp nhân dân khác liên
tục diễn ra suốt các triều vua nhà Nguyễn. Chỉ trong khoảng 10 năm từ khi Tự Đức
lên ngôi (1848) đến khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ (1859) đã có tới 10
cuộc nổi dậy chống lại triều đình Nguyễn. Triều đình đã dập tắt phong trào trong
biển máu. Như vậy có thể nói rằng nền thống trị phong kiến mà nhà Nguyễn xác
lập từ 1802 trên đất nước ta chỉ là sự thắng lợi nhất thời của một tập đoàn phong
kiến lâu đời có tư bản nước ngoài giúp sức đối với phong trào nông dân chống
phong kiến từ hơn một trăm năm trước đó kết tinh bằng phong trào Tây Sơn. Vì
vậy sau khi xác lập quyền thống trị, triều đình Nguyễn đã mang trong lòng nó tính
chất phục thù của các tập đoàn phong kiến vùa mới bị nông dân Tây Sơn quật đổ
đối với quản đại quần chúng nhân dân. Điều này đã chi phối toàn diện các chính
sách thống trị của nhà Nguyễn với kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trong đó có
chính sách với thủ công nghiệp. Một mặt để duy trì sự tồn tại của triều đại, chống

Sau quá trình chuẩn bị lâu dài, sáng sớm ngày 1-9-1859, chiến thuyền của liên
quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đã Nẵng mở đầu cuộc tấn công
xâm lược Việt Nam. Cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã cắt ngang tiến
trình phát triển bình thường của dân tộc. Chiến tranh đòi hỏi nhân dân ta không thể
chỉ tập trung phát triển kinh tế bình thường mà còn phải đấu tranh chống xâm lược.
Cuộc chiến tranh xâm lược và cuộc kháng chiến chống xâm lược cũng đặt ra cho
nền kinh tế nước ta những thử thách mới. Thứ nhất: do chiến tranh thủ công nghiệp
nước ta không những không thể phát triển bình thường mà còn bị tàn phá tiêu diệt
dẫn tới đình đốn. Chiến tranh đi đến đâu là cướp bóc và tàn phá đến đó. Thứ hai:
cuộc kháng chiến chống xâm lăng của nhân dân đòi hỏi chúng ta phải phát triển
nền kinh tế nói chung đặc biệt là kinh tế thủ công nghiệp vừa để đảm bảo đời sống
của nhân dân, nghĩa quân, binh lính vừa đảm bảo phát triển sản xuất và vũ khí, vật
dụng phục vụ chiến tranh. Vì yêu cầu lịch sử như vậy nên mặc dù trong điều kiện
có rất nhiều khó khăn thủ công nghiệp cũng không thể ngừng phát triển. Đó là một
lý do lý giải tại sao trong hoàn cảnh lịch sử đầy thử thách thủ công nghiệp vẫn tồn
tại và có phần phát triển.
1.2 Những chính sách của triều đình Tự Đức đối với thủ công nghiệp
Tự Đức lên ngôi trong bối cảnh xã hội Việt Nam khủng hoảng trầm trọng. Để
đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và cũng là để củng cố địa vị thống trị của
dòng họ, Tự Đức đã đưa ra nhiều chính sách về kinh tế-chính trị-xã hội phù hợp với
yêu cầu lịch sử. Bên cạnh đó Ông cũng duy trì nhiều những chính sách của các
triểu đại trước để quản lý đất nước. Những chính sách của triều Tự Đức đối với thủ
công nghiệp là một ví dụ. Chính sách của nhà nước đối với thủ công nghiệp thể
hiện tập trung nhất trong chế độ công tượng nhằm thiết lập và điều hành các công
xưởng thủ công nhà nước và chế độ thuế đối với thủ công nghiệp tư nhân. Ngoài ra
còn có những chính sách khác.
1.2.1 Chế độ công tượng
12
Theo Phạm Gia Bền thủ công nghiệm nước ta được chia làm hai bộ phận chính:
thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp dân gian. Từ thời Lý, thủ công

Công quản giữ. Bộ Công cũng đóng vai trò chủ đạo trong quá trình điều phối nhân
công công xưởng. Mọi vấn đè liên quan đến thợ thuyền phải do chính bộ Công tâu
xin tư cho các địa phương. Bộ Công còn là chủ khảo trong việc kiểm tra tay nghề
và sức khỏe của thợ được trưng tập và cấp giấy thông hành cho họ.
CÔNG BỘ
Quy Chế
Ty
Tu Tạo
Ty
Doanh Thiện
Ty
Khám Biện
Ty
Phủ Nội Vụ Ty Vũ Khố Nha Mộc
Thương
Các cơ quan ngoại thuộc
Các
kho
Ty Tiết
Thận
Các
kho
Ty Chế
Tạo
Các
kho
Nha Mộc
Thương
Các tượng cục Các tượng cục Các tượng cục
Các Thanh Lại Ty

Người nào ở sổ dân thì chịu một nửa thuế thân, người nào chọn vào ngạch thợ thị
chia làm ba ban, ban nào đến làm việc thì mỗi tên cấp cho ba quan tiền”[1;232].
Để đảm bảo thường xuyên có số thợ trong ngạch, nhà nước còn đặt ra những
quy định ngặt nghèo. Trong các ngạch thợ, nếu có thợ thiếu khuyết thì dân đinh địa
phương đó phải xung điền vào ngay. Nhà nước buộc chặt số phận thợ thủ công và
con em họ vào nghề nghiệp để phục vụ triều đình bằng những luật lệ hà khắc “các
xã thôn có các hạng thợ lệ thuộc vào kinh không kể hiện là còn sống hay đã chết
các con em người ấy và dân hạng, nguyên theo nghề làm thợ thì lập tức xung điền
ngay ”[1;236].
Vì thế Phan Thanh Giả xin: “trừ ra thực người có tên thì không kể, ngoài ra
không phải chính quán mà đến ở thôn làng ấy người nào bỏ chốn hay chết mà ở
nguyên quán không có con em và dân hạng đều xin miễn cho không phải điền. Về
dân hạng trước đã xung vào ngạch thợ thì cho phép rút về cả cùng chịu phần ra lính
để thư sự cấp bách cho dân” [1.236].
Có trường hợp vì dịch bệnh, thợ ốm chết nên thiếu ngạch địa phương muốn
khỏi phải điền thế do thiếu đinh cũng phải qua các thủ tục trình tâu rất khó khăn với
các cơ quan có thẩm quyền.
Hình thức trưng tuyển thợ và cách thức tổ chức công tượng dưới thời Nguyễn
phong phúc, chặt chẽ hơn các triều đại trước. Thủ công nghiệp thời Tự Đức cũng
vẫn giữ được điểm tích cực ấy. Nhà nước đồng thời sử dụng ba hình thức trưng
dụng thợ thủ công. Thứ nhất là theo ngạch với quy chế bắt buộc cho các địa
phương. Công việc này diễn ra thường xuyên vào tháng chạp mỗi năm. Nhà nước
sẽ ước lượng số thợ cần tuyển vào trong năm tới ở các ngạch để phân bổ cho các
địa phương. Số thợ này sẽ được triệu đến các tượng cục làm việc vào tháng riêng
năm sau. Từ tháng bảy trở đi, tùy công việc còn nhiều hay ít, các Ty tượng trước
giảm số thợ cho về. Thứ hai là tuyển mộ theo quy chế tự nguyện. Tháng 11 năm Tự
Đức 22 (1869) triều đình cho tuyển mộ rộng rãi “những người biết thuật chế tạo
đạn, sửa chữa máy móc, tàu thủy, xẻ gỗ, đúc đồng và đúc súng ở mọi nơi mà không
16
phân biệt ngoại tịch hay nội tịch để đưa về sở đốc công làm việc”[27;130]. Hình

nhau. Để điều hành hoạt động của công xưởng, nhà nước sử dụng đội ngũ ty tượng,
tượng mục là những thợ cả giỏi nghề được phong hàm (bát, cửu phẩm) giao nhiệm
vụ quản lý thợ, giám sát công trường, điều hành công việc sản xuất và có chế độ
lương bổng riêng. Các chánh, phó ty tượng chịu hoàn toàn trách nhiệm về cả số
lượng, tổ chức thợ thuyền lẫn công việc mà triều đình giao phó.
Thợ thuyền trưng dụng theo ngạch đựơc phân ban tuy vào từng ngạch thợ. Có
thể phân ba hay phân hai ban vào thời gian làm việc mỗi ban từ 4, 6 đến 12 tháng.
Quá trình sản xuất từ quy chế mẫu mã, cách tiến hành, thủ tục xuất nhập nguyên
vật liệu và sản phẩm đều chặt chẽ theo như luật nhà binh. “mỗi ngày ở công sở
quan coi thợ phải lập danh sách mỗi thợ rõ ràng, đưa cho quan coi cửa, quan thủ vệ
đứng kiểm điểm rõ mặt. Đến giờ thân lại phải xem xét tình trạng kiểm điểm người
cho ra” [20;420].
Lương của thợ cũng được cấp theo ngạch, tùy công việc nặng, nhẹ và thời gian
làm. Lương trả theo tháng (đối với thợ chính thức, làm thường xuyên, lâu dài) hoặc
trả công ngày (đối với thợ trưng dụng làm việc trong khi công xưởng nhiều việc và
cần gấp). “các cục thợ thuộc xưởng đốc công, phủ nội vụ thì trừ ngoại lệ của ty
tượng và tượng mục theo lệ lương mà chia cấp. Còn lại thì đều cấp lương hàng
tháng” và “thợ mộc, thợ xẻ, thợ đóng thuyền mỗi người một tháng đều được cấp
cho tiền một quan, gạo một phương”[24;29]. “Những thợ gọi đến làm việc như thợ
lược, thợ nung than, thợ thuộc da...mỗi tháng chỉ được cấp 1 phương gạo, không có
việc thì thôi”[24;29]. Đối với loại công tượng thường xuyên làm việc trong các
công xưởng thì được miễn trừ thuế thân, binh dịch và lao dịch. Thợ làm việc nặng
hoặc những công việc đặc biệt như đúc tiền mức lương sẽ cao hơn một chút.
Chế độ lương như vậy cũng như việc quản lý kiểu binh lính, chủ yếu là đảm
bảo khẩu phần lương thực tối thiểu cho một người thợ (1 bát gạo/1 ngày) “thợ công
việc nặng: mỗi tháng 3 quan tiền, một phương gạo, thợ công việc vừa mỗi tháng 2
18
quan tiền 1 phương gạo, thợ công việc nhẹ mỗi tháng 1 quan tiền 1 phương gạo”.
Lương của một người thợ bình thường cũng gần tương đương với lương của một
lính tượng cơ thời bấy giờ. Còn thợ làm công việc nhẹ lương còn ít hơn. Như thế,

quản lý chặt chẽ của nhà nước với xưởng thủ công và hình thức hoạt động phong
phú cũng có tác dụng tích cực trong việc tạo ra khối lượng sản phẩm lớn đáp ứng
phần lớp nhu cầu của triều đình và mục tiêu quốc phòng. Nhưng xét cho cùng việc
trưng tập thợ khéo, giỏi theo chế độ công tượng đã làm cho thủ công nghiệp gia
đình hoặc địa phương bị đình đốn, không phát triển lên được.
1.2.2 Chính sách thuế biệt nạp
Nếu như chế độ công tượng là hình thức quản lý thợ thủ công trực tiếp áp dụng
với bộ phận chủ yếu là thủ công nghiệp nhà nước thì chính sách thuế biệt nạp là
hình thức khống chế gián tiếp thợ thủ công tự do và nửa tự do ở các tỉnh thành,
làng xã.
Chính sách thuế biệt nạp hay thuế sản vật được đặt ra từ lâu. Nó đã trở thành
một ngạch thuế quan trọng và là nguồn thu lớn của nhà nước. Thuế biệt nạp là loại
thuế đánh vào các thợ thủ công chuyên nghiệp thường là theo thôn, phường chuyên
thủ công. Theo chính sách này, mỗi năm người thợ phải nộp cho nhà nước một số
lượng sản phẩm nhất định. Có thể nộp thay bằng tiền. Nhà nước sẽ miễn trừ thuế
thân, nghĩa vụ binh dịch và lao dịch cho những thợ đó. Đến thế kỉ XIX, nhà
Nguyễn cho áp dụng rộng rãi chế độ thuế thổ sản đối với các thợ thủ công chuyên
nghiệp trong cả nước và thống nhất gọi là thuế biệt nạp.
Dưới thời Tự Đức chính sách thuế biệt nạp vẫn được sử dụng rộng rãi. Nhà
nước quản lý thợ thủ công gián tiếp thông qua các làng xã và tổ chức tượng cục.
Các tượng cục này là tổ chức của những người thợ thủ công chuyên nghiệp ở các
tỉnh, thành hay các làng nghề. Nó khác hoàn toàn với các tượng cục được thành lập
trong các công xưởng của nhà nước. Thợ thủ công chuyên nghiệp trong dân gian
đều được phép cùng nhau tổ chức thành những tập đoàn sản xuất theo nghề gọi là
20
các cục. Các cục được thành lập bởi những người thợ lành nghề có uy tín. Các thợ
thủ công khác có thể ghi tên ra nhập các cục ấy. Hàng năm cục trưởng hay hội
trưởng thợ các cục lập danh sách, họ tên, tuổi, quê quán các thành viên, mức thuế
dự kiến của từng cá nhân, tổng số sản lượng và tổng số thuế dự kiến của cục trình
lên quan bố tránh duyệt. Cục trưởng hay hội trưởng thợ các cục này được nhà nước

nay chuẩn nộp 2 lạng 5 đồng cân” [1;157]. “Chuẩn cho giảm thuế hộ biệt nạp bằng
vàng ở tỉnh Quảng Nam. Nguyên lệ trước tráng hạn mỗi người nộp 3 đồng 3 phân
vàng, dân đinh người già, người tàn tật phải nộp một nửa. Đến đây lấy cớ là khí
vàng hao giảm chuẩn cho mỗi người tráng hạng nộp 2 đồng 8 phân vàng, ngoài ra
theo y lệ nộp một nửa”[1;288]. “Giảm thuế hộ khai vàng ở Bình Định. Lệ trước,
mỗi người đinh tráng mỗi năm nộp thuế 3 đồng cân 3 phân, dân đinh già ốm phải
chịu một nửa. Đến bây giờ vì mở ấy chất vàng hao kém cho mỗi tráng hạng được
giảm mỗi năm 2 đồng cân 3 phân. Còn các người khác theo lệ nộp một nủa” [3;61].
Với hộ làm bạc “giảm lệ thuế mỏ bạc ở Thái Nguyên. Mỏ Ngân Sơn đồng niên
thuế nộp bằng bạc 300 lạng, giảm cho 80 lạng. Mỏ Tống Tĩnh thuế 100 lạng giảm
cho 35 lạng, mỏ Bông Ngân thuế 180 lạng giảm cho 30 lạng” [1;286].
Với hộ làm giấy “năm 1848 nhà nước giảm thuế cho 2 phường. Nguyên lệ
trước hai phường An Thái và Hồ Khẩu (Hà Nội) đồng niên mỗi tên nộp các hạng
giấy 5.500 tờ nay chuẩn định nộp 4.300 tờ” [24;38]...
Những chính sách nói trên của triều đình Tự Đức đã phần nào khuyến khích
hoạt động thủ công nghiệp phát triển đồng thời cũng thể hìện tư tưởng “an dân” của
vương triều này. Tuy nhiên, mặc cho nhà nước đã rất cố gắng đưa ra những chính
sách có phần tiến bộ tình trạng lưu vong vẫn diễn ra trầm trọng. Theo nghiên cứu
của các học giả phương Tây về Việt Nam cuối thế kỉ XIX thì vào thời điểm bấy giờ
mức thuế biệt nạp của các phường thôn chuyên thủ công ở Hà Nội nhiều khoảng
gấp 5 lần thuế thân của một suất binh thừơng.
22
Bên cạnh lệ nộp thuế sản phẩm các thợ thủ công còn phải chịu thêm gánh nặng
do lệ tiến cống và thu mua của nhà nước. Nhằm đáp ứng yêu cầu của triều đình,
nguyên vật lỉệu cho hoạt động của các công xưởng, chính quyền nhà Nguyễn nói
chung và triều Tự Đức nói riêng thường xuyên trưng mua sản phẩm thủ công hay
vật liệu mà nó mang nặng tính cưỡng bức. Hơn là “thuận mua vừa bán”. Nhà nước
thường mua các loại quý hiếm như đồi mồi, xà cừ, vỏ ốc, vây cá, thuốc nhuộm hay
các vật liệu như: gỗ, bông, vỏ gai, tre, lứa, gạch gói... với giá cả được ấn định trước
thường rẻ hơn nhiều so với thị trường. “Chuẩn cho 6 tỉnh có thổ ngơi chăn tằm

và những điểm tiến bộ của triều đình Tự Đức đối với hoạt động thủ công nghiệp.
Nhưng những biện pháp chính sách trên chưa làm thay đổi cơ bản nội dung, tính
chất thủ công nghiệp.
Tóm lại, một số chính sách, biện pháp của triều Tự Đức có tác dụng nhất định
đối với hoạt động của thủ công nghiệp nước ta nửa cuối thế kỉ XIX. Nhưng những
chính sách đó đều cũ kỹ, lạc hậu, lỗi thời, bảo thủ chủ yếu duy trì nghề thủ công
truyền thống, gắn với nông nghiệp chưa tách ra khỏi nông nghiệp. Thủ công nhgiệp
chưa mang tính chất sản xuất hàng hóa để trao đổi buôn bán trên thị trường mà chỉ
đáp ứng yếu cầu tự cung tự cấp. Vì thế kinh tế thủ công nghiệp không phát triển
được. Nguyên nhân cửa sự cũ kĩ bảo thủ trong những chính sách của triều đình Tự
Đức đó là tư tưởng Nho giáo lỗi thời không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử.
24
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỦ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM DƯỚI THỜI TỰ
ĐỨC (1848-1883)
Dưới chế độ phong kiến thủ công nghiệp Việt nam được chia làm 2 bộ phận
chính đó là : thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp dân gian. Vì thế khi
ngiên cứu thực trạng thủ công nghiệp Việt Nam dưới thời Tự Đức chúng tôi sẽ tìm
hiểu dựa trên sự phân chia ấy.
2.1 Thủ công nghiệp nhà nước
2.1.1 Công xưởng đúc tiền
Bất cứ triều đại nào, sản xuất và quản lí tiền tệ là công việc hết sức quan trọng
không chỉ vì ý nghĩa kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị lớn lao. Sau khi lên
ngôi vua, thiết lập vương triều Nguyễn, Gia Long đã khẩn trương lập lại cục đúc
tiền mới nhằm khảng định quyền lực của triều đại mình. Dưới thời Tự Đức về cơ
bản nhà nước vẫn nắm độc quyền đúc tiền qua hai công xưởng lớn là Bảo Tuyền
Cục và Bảo Hóa Kinh Cục. Bảo Tuyền Cục được xây dựng vào năm 1803 tại
Thăng Long. Thợ đúc trong Bảo Tuyền Cục được tuyển theo chế độ gia công thu
thuế và làm thuê. Một số Hoa kiều giàu có cũng xin tự mua kim đúc tiền. Thời Tự
Đức, buổi đầu nhà nước vẫn đầu tư mở rộng xưởng đúc tiền này nhưng vể sau do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status