LUẬN VĂN:
Muốn tăng thu nhập quốc dân cần phải
sử dụng những biện pháp gì? Liên hệ với
tình hình hiện nay của Việt Nam Lời mở đầu
nước và phần đầu tư ở nước ngoài đem lại.
- Tổng sản phẩm quốc nội GDP: là tổng số sản phẩm mới tạo ra trên lãnh
thổ quốc gia đó.
II. Thu nhập quốc dân (TNQD)
1. Khái niệm: TNQD là tổng số giá trị mới sáng tạo ra trong một năm, hay là
phần còn lại của TSPXH sau khi đã trừ đi số TLSX đã hao phí trong một năm.
TNQD chỉ do người lao động sản xuất vật chất và dịch vụ tạo ra, cụ thể là lao
động trong các ngành CN, NN, XD, DV Những ngành không sáng tạo ra của cải
vật chất như ngân hàng, giáo dục, y tế, nghệ thuật, tín dụng, thương nghiệp thì không
tạo ra TNQD.
Về mặt giá trị, TNQD gồm toàn bộ giá trị mới do lao động tạo ra trong một
năm, tức là bộ phận V+m trong TSPXH.
Về mặt hiện vật, TNQD cũng bao gồm TLTD và một phần TLSX dùng để mở
rộng sản xuất.
2. TNQD gồm có: TNQD sản xuất và TNQD sử dụng.
- TNQD sản xuất: là thu nhập được sản xuất ra trong nước đó.
- TNQD sử dụng: bằng TNQD sản xuất cộng với số tài sản được chuyển
vào trong nước (vay nợ, được trả nợ, thanh toán do xuất siêu và các tài sản vãng lai,
lợi nhuận của những tài sản đầu tư ở nước ngoài, vốn tư bản nước ngoài đầu tư vào
trong nước) trừ đi những tài sản được chuyển ra nước ngoài (trả nợ, cho vay, thanh
toán nhập siêu, đầu tư ra nước ngoài và chuyển lợi nhuận của tư bản nước ngoài đầu
tư vào trong nước về nước họ).
Trong đó, TNQD sử dụng chính là cơ sở quyết định tích luỹ và tiêu dùng của xã hội
3. Những nhân tố làm tăng và làm giảm TNQD
Những nhân tố làm tăng TNQD:
- Mở rộng quy mô sản xuất, tăng số lượng lao động (thêm máy móc tư
liệu, tăng số người lao động, thời gian lao động, cường độ lao động )
- Tăng NSLĐ (tăng ứng dụng KHKT, đào tạo công nhân có tay nghề
cao, tổ chức quản lý )
Thu ngân sách nhà nước so với dự án (%) 74,3 78,9
(8) Thu ngân sách nhà nước (nghìn tỷ đồng) 109,2 133,3
(9) Chỉ số giá tiêu dùng và DV (%) 1,8 8,6
(10) Tạo việc làm mới (nghìn người) 1.050 1.000
Và với số liệu mới nhất về tình hình KT-XH Việt Nam quý I/2005, báo Kinh tế
và dự báo số 4/2005 (Tr 61-62) cho biết: Tình hình KT-XH phát triển tương đối ổn
định, nổi lên một số mặt sau:
- Tổng sản phẩm trong nước ước tăng 7,2 % so với cùng kỳ năm trước, cao hơn
mức tăng 70% quý I/2003 và quý I/2004. Trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ
sản tăng 4,1%, khu vực CN và XD tăng 8,5%, khu vực DV tăng 7%.
- Tổng thu ngân sách nhà nước quý I/2005 ước tính đạt 25,8% ( chủ yếu do giá dầu
thô quý I tăng cao), thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 24,3%.
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước tập trung quý
I/2005 ước thực hiện 10857,3 tỷ đồng, đạt 20,9% kế hoạch năm. Đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong quý I/2005 có 109 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đăng kí
1,31 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, số dự án giảm 9,2%, nhưng số vốn lại gấp
3,1 lần quý I/2004.
- Kim ngạch XK quý I/2005 ước đạt 6,72 tỷ USD, tăng 16,2% so với quý I/2004.
Hoạt động tăng mạnh, số khách đến VN ước tính đạt 877,5 nghìn lượt người, tăng
22,8% so với quý I/2004.
2. Những khó khăn hạn chế
Bên cạnh những mặt tốt đã đạt được, những khó khăn, hạn chế cũng không phải
là ít, nổi bật là:
- Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng, tai nạn giao thông
vẫn còn cao, chưa được ngăn chặn hữu hiệu.
- Gần đây, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp: dịch sốt rét, cúm tuýp A-H5N1
và HIV có chiều hướng gia tăng.
- Giá cả của một số mặt hàng như lương thực, thực phẩm, xăng dầu tăng cao.
kĩ thuật sẽ giúp tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu lao động đang không có việc
làm.
2. Tăng NSLĐ
Nền Kinh tế VN đang trên đà phát triển mạnh mẽ cả về chất và lượng, với tốc
độ phát triển không ngừng hiện nay ta càng phải chú trọng đến vấn đề tăng NSLĐ.
a/ Tăng ứng dụng khoa học công nghệ
Kinh tế thế giới đang phát triển rất mạnh mẽ, trình độ khoa học công nghệ hết
sức tân tiến và hiện đại. Hoà vào dòng xoáy ấy, Việt Nam cũng cần phải theo kịp thời
đại bằng cách ứng dụng KHKT vào sản xuất nhằm nâng cao NSLĐ.
Hiện nay, nhà nước ta đang nỗ lực đầu tư mua các trang thiết bị kỹ thuật hiện
đại phục vụ đắc lực cho các ngành kinh tế như: CN, NN…Đây là một việc làm rất
thiết thực và hiệu quả giúp sản lượng trong các ngành CN và NN của nước ta tăng lên
rõ rệt đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Mặt khác, việc phát triển KHKT nên gắn liền với một kết cấu hạ tầng vững
chắc, ổn định. Hiện nay, Việt Nam đang sửa chữa, nâng cấp và xây mới các công
trình tầm cỡ quốc gia như: Thủy điện Sơn La, nhà máy lọc dầu Dung Quất, hầm
đường bộ Hải Vân… phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế của đất nước.
b/ Đào tạo công nhân có tay nghề cao
Hiện nay, nguồn lao động của VN rất dồi dào, chúng ta không hề thiếu lao
động, nhưng lao động có tay nghề cao thì lại chưa nhiều. Vậy phải làm thế nào để
nâng cao, đổi mới, phát triển nguồn lực lớn ấy cả về chất và lượng? Vấn đề trước mắt
đặt ra là phải đào tạo được một đội ngũ lao động lành nghề phục vụ tốt hơn cho đất
nước.
Hiện nay, ngoài các trường ĐH, CĐ, nhà nước ta còn tích cực khuyến khích xây
dựng và thu hút các em học sinh vào học tại các trường trung học chuyên nghiệp và
các trung tâm dạy nghề. Bộ giáo dục cần có những chương trình đào tạo khoa học,
hợp lý để đào tạo ra những lao động có chuyên môn kỹ thuật, có trình độ tay nghề
cao. Ngoài ra, cần khuyến khích các doanh nghiệp cử người sang các quốc gia có nền
KT phát triển học tập kinh nghiệm cũng như cách ứng dụng KHKT vào sản xuất.
từ năm 1988. Năm 1993, chúng ta bình thường hóa quan hệ với các nhà tài trợ.
Luồng vốn đầu tư nước ngoài ùa vào, xuất khẩu tăng mạnh. Nền kinh tế có những
tiến bộ nổi bật, các hiệp định thương mại đa phương và song phương được kí kết đã
mở rộng cơ hội giao thương kinh tế của Việt Nam.
Có thể nói, Việt Nam đã thành công trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Với tổng số vốn đầu tư FDI (nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) lên đến con số
kỷ lục: 46 tỷ USD với 5000 dự án, đảm bảo khoảng 14,1% GDP cả nước. Đặc biệt,
vốn FDI đầu tư vào CN và xây dựng chiếm tỉ lệ cao với 57%, DV là 36%. (Thời báo
Kinh tế hợp tác Việt Nam số 17+18 từ ngày 28/4 – 11/5/2005).
Tính chung suốt giai đoạn 1988 – 2003, vốn nước ngoài chiếm 43,8%, các DN
liên doanh chiếm 43,6, còn lại khoảng 9,3% thực hiện dưới dạng thực hiện dưới dạng
hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) và 3,3% dưới dạng xây dựng vận hành – chuyển
giao (BOT). (Theo thời báo Kinh tế và dự báo số 10/2004, Tr 34).
Thời báo Kinh tế và dự báo số 12/2004 (Tr 5) cũng cho biết: Trong giai đoạn
1993-2003, nguồn vốn ODA vào Việt Nam tiếp tục tăng, đạt mức cam kết trung bình
mỗi năm trên 1,14 tỷ USD. Năm 2005, các nhà tài trợ đã cam kết ngồn vốn ODA là
3,4 tỷ, mức cao nhất từ trước đến nay.
4. Tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm
Nền kinh tế ngày càng phát triển, ngoài mục tiêu cung cấp mặt hàng cho thị
trường tiêu thụ trong nước thì VN còn phải vươn mình xa ra các thị trường trên thế
giới.
Theo số liệu từ báo Kinh tế Châu á- Thái Bình Dương số 17 từ ngày 25/4 đến
1/5/2005 cho biết: Trong 3 tháng đầu năm 2005, kim ngạch XK của Việt Nam là 6,7
tỷ USD, khối lượng XK đạt 4,6 triệu tấn, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm trước nhưng
giá trị XK lại tăng 30,3% do giá dầu thô trên thị trường thế giới đang tăng cao.
Việt Nam còn xuất khẩu gần 3,5 triệu tấn than trị giá 126 triệu USD, phần lớn
các mặt hàng nông nghiệp và lâm nghiệp chủ chốt đều đạt mức tăng trưởng cao kỉ lục
trong quý I/2005, trong đó XK hạt điều tăng 53,2% đạt 88 triệu USD, chè tăng 36,3%
đạt 16 triệu USD, rau quả tăng 26,8% đạt 50 triệu USD, đồ gỗ tăng 17,9% đạt 264
Mặt khác, hiện nay Việt Nam vẫn đang trong tình trạng thừa thầy thiếu thợ, vì
thế nhà nước ta đang tích cực mở các trường đào tạo tay nghề cho thanh niên, học
sinh nhằm đào tạo ra những lao động có tay nghề cao phục vụ tốt hơn trong các
ngành kinh tế của đất nước. Ngoài ra, Nhà nước cần phải tạo điều kiện cho mọi người
làm kinh tế bằng cách cho vay vốn, đầu tư để người dân tự kinh doanh…
c/ Khắc phục hậu quả chiến tranh
Việt Nam đã trải qua hai cuộc chiến tranh để lại hậu quả nặng nề là cơ sở hạ
tầng bị phá hỏng, cơ sở vật chất thiếu thốn trầm trọng, máy móc thiết bị lạc hậu. Vì
thế, nhà nước đã và đang đầu tư mua trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ đắc lực
cho phát triển CN và NN, nâng cao NSLĐ và khối lượng sản phẩm.
Kết luận
Nền kinh tế nước ta có thể nói là đã có những bước chuyển biến rất mạnh mẽ
và vững chắc trong những năm gần đây với tốc độ tăng trưởng KT khá cao. Nhưng
quan tâm đến tốc độ tăng trưởng KT chúng ta cần chú trọng hơn nữa đến chất lượng
tăng trưởng (cụ thể như hiện nay chúng ta đã và đang phát triển nhiều ngành CN, DV
chất lượng tương đối cao, trình độ công nghệ tiên tiến, điển hình như lĩnh vực viễn
thông, dầu khí, xây dựng CN, mạng lưới các nhà máy điện, mạng lưới giao thông…).
Tuy mức độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang ở mức ổn định và khá cao so
với khu vực và thế giới nhưng chúng ta không nên vội vàng tự hào với những gì
chúng ta đã đạt được vì Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo. Chúng ta cần nỗ lực
hơn nữa trong công cuộc phát triển kinh tế bằng cách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,
giảm chi phí sử dụng hạ tầng thiết yếu, gọn nhẹ thủ tục hành chính… Song, cũng
phải thừa nhận rằng những gì mà Việt Nam đã làm được trong những năm qua đã và
đang tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, nâng cao mức
sống người dân, tiếp tục phát triển bền vững.
Năm
Số người có việc làm
(nghìn người)
Mức gia tăng so với năm trước
Lao động (nghìn người) tỉ lệ tăng (%)
2000
* 36.701,8 726,0 + 2,0
2001 * 37.676,4 974 + 2,6
2002 * 38.715,5 1.093,0 + 2,7
2003 ** 42.114,4 3.398,8 + 7,8
2004 ** 43.252,3 1.139,1 + 2,7
Nguồn: * Tổng cục thống kê: KT-XH VN 3 năm 2001-2003, NXB thống kê, H.,
2003.
** Số liệu điều tra của ban chỉ đạo điều tra trung ương: “Bức tranh L
Đ và
việc làm năm 2004- VNECONOMY” cập nhật 1/1/2004. Mục lục
TRANG
Lời mở đầu 1
Phần I: Lý luận cơ bản về TNQD 2
I. Tổng SP XH 2