MỞ ĐẦU:
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang là một nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những
thành tựu khá nổi bật như tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao, giảm tỷ lệ đói
nghèo trong dân cư xuống mức thấp, đời sống của người dân đạt được nhiều cải
thiện so với cách đây hơn 20 năm.
Nhưng Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của
nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị trường
hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng
vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh
chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Một trong những
vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát. Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được
nhiều người quan tâm, nghiên cứu và đề xuất các phương án khác. Một số dự báo
thống kê gần đây của ngân hàng phát triển châu Á ADB, hay ngân hàng thế giới
WB đều dự báo rằng con số lạm phát của Việt Nam năm nay chắc chắn sẽ vượt
mức 11%, cụ thể là sẽ vào khoảng từ 12% cho đến 13%. Tuy nhiên con số lạm
phát thực tế còn có thể cao hơn.
Đã từ lâu tiền giấy xuất hiện và chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm
giá tiền và dẫn đến lạm phát. Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi
có lạm phát, giá cả của hầu hết các hàng hóa đều tăng cao và sức mua của đồng
tiền ngày càng giảm nhanh. Bài viết này với đề tài: “ Tình hình Lạm phát ở Việt
Nam trong những năm gần đây” Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần
thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầm quan trọng của lạm phát.
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Khái niệm
- lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh
tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay
giảm sức mua của đồng tiền.
- giảm phát - một sụt giảm trong mức giá chung;
- thiểu phát - giảm tỷ lệ lạm phát;
- siêu lạm phát - một vòng xoáy lạm phát ngoài tầm kiểm soát;
III. Tác hại:
- Tốc độ tăng giá cả thường không đồng đều giữa các loại hàng.
- Tốc độ tăng giá và tăng lương cũng xảy ra không đồng thời.
- Tác hại của lạm phát còn được đo bởi sự phản ứng mạnh mẽ của các tầng
lớp dân cư (hậu quả tâm lý xã hội) thông quan các cuộc điều tra xã hội
học. Sự phản ứng của công chúng xuất phát từ vấn đề kinh tế vĩ mô của
các Chính phủ (đặc biệt các nước phương Tây) là tìm mọi biện pháp
chống lạm phát cho dù cái giá phải trả là khá cao (ví dụ ở Mỹ, để hạ tỷ lệ
lạm phát 1% thì tổn thất của tổng sản phẩm quốc dân có thể lên tới vài
trăm tỷ đôla).
Tuy vậy, Tác hại chủ yếu của lạm phát không phải ở chỗ giá cả đã tăng lên mà ở
chỗ giá cả tương đối đã thay đổi. Những tác hại đó là:
Phân phối lại thu nhập và của cải một cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân, tập đoàn
và các giai tầng trong xã hội, đặc biệt với những ai giữ nhiều tài sản có giá trị danh
nghĩa cố định (ví dụ tiền mặt) và những người làm công ăn lương.
Có những biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinh tế đặc bịêt khi
lạm phát tăng nhanh cùng với sự biến đổi mạnh mẽ của giá cả tương đối. Có những
doanh nghiệp, ngành nghề có thể phất lên và trái lại cũng có những doanh nghiệp
và ngành nghề suy sụp, thậm chí phải chuyển hướng sản xuất kinh doanh.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG
I. Tình hình lạm phát trong khoảng 2009 – 2013
Năm 2009:
Tốc độ tăng CPI theo tháng đạt đỉnh 4 lần trong năm qua, ở các tháng Hai, Sáu,
Chín và Mười hai, với các mức tăng 1,17%; 0,55%; 0,62% và 1,38%.
CPI lên nhẹ 0,32% trong tháng 1/2009. Nhưng đến tháng Hai, giá lương thực, thực
phẩm và nhiều loại hàng hóa, dịch vụ đồng loạt lên mức cao. Ở đỉnh cao thứ nhất, CPI
tăng 1,17%, trước khi đảo chiều giảm âm 0,17% trong tháng Ba ngay sau đó. Tồn kho
hàng công nghiệp chế biến ước tính 5% GDP vào cuối năm 2008. Tuy nhiên, hoạt động
sản xuất vẫn chưa lấy lại được sinh khí mới. GDP quý 1/2009 chỉ tăng 3,1%, thấp nhất
trong nhiều năm trở lại đây. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ, dù vẫn tăng
1/11 đã tăng 0,7%.
Năm 2010
Như vậy, lạm phát cả năm 2010 sẽ là 11,75%, ứng với CPI tháng 12/2010 so với
tháng 12/2009, vượt qua mức chỉ tiêu kế hoạch về lạm phát đặt ra cho năm 2010. Lạm
phát bình quân năm là 9,19%.
Vẫn đúng với quy luật tăng cao trong các tháng đầu năm và cuối năm, hai điểm cơ bản
khác biệt của diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm nay là mức tăng có độ vênh lớn, tháng
cao nhất so với tháng thấp nhất lệch nhau đến hơn 1,5%.
Trong khi đó xu hướng diễn biến chỉ số giá khá liền mạch với các bước chuyển chỉ trong
khoảng thời gian ngắn. Ba tháng đầu năm CPI tăng cao nhưng ngay sau đó có liền 5
tháng tăng thấp về gần mức 0%, để rồi lại vượt lên trên 1% trong 4 tháng còn lại của
năm. Những trạng thái này đem đến một nhận định, chính sách điều hành vĩ mô đã đối
mặt một năm khó khăn.
Trong 4 tháng chỉ số giá tăng vượt 1% thì 2 tháng cuối năm CPI đạt mức tăng gần 2%,
tạo thành xu hướng tăng mạnh mẽ, đẩy lo ngại lạm phát những tháng đầu năm 2011 dấy
lên.
Tác động đến các thị trường đầu cơ, bất động sản chưa có dấu hiệu khởi sắc, trong khi
các tài sản tài chính như vàng và USD tăng giảm thất thường.
Những biện pháp thắt chặt tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước cho áp dụng gần đây dường
như chưa phản ảnh hiệu lực trong việc kìm giữ giá tiêu dùng. Liều lượng và hiệu lực phối
hợp chính sách vĩ mô đang gây tranh cãi trong thời điểm hiện nay.
Trở lại với chỉ số giá tiêu dùng, những nguyên nhân đẩy chỉ số giá tăng cao trong
tháng 12 cũng không khác biệt nhiều so với các tháng liền trước, có chăng là mức tăng đã
cao hơn.
Nhóm hàng hóa liên quan đến ăn uống tiếp tục "khuấy đảo" chỉ số giá tháng 12. So với
tháng 11, CPI hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,31%, trong đó lương thực tăng 4,67%;
thực phẩm tăng 3,28%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,68%. Đồ uống và thuốc lá tăng
1,3%.
Thị trường xây dựng vào mùa chạy đua hoàn thiện, nhu cầu trang hoàng cuối năm cũng
đẩy chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tháng này tăng 2,53%. Mua sắm hàng
Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá thấp là thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14%
(Dịch vụ y tế tăng 0,03%); giáo dục tăng 0,09% (Dịch vụ giáo dục tăng 0,05%); giao
thông giảm 0,43%. Nhóm duy nhất giảm giá tiếp tục là bưu chính viễn thông giảm
0,02%.
CPI năm 2012 biến động tương đối thất thường đặc biệt trong tháng 9 khi đạt mức
tăng 2,2% do sự tăng giá đột biến của nhóm thuốc và dịch vụ y tế, giáo dục. Nhưng đến
sau, bằng nhiều biện pháp kết hợp, hiện tốc độ tăng CPI có xu hướng chậm dần, đến
tháng cuối năm chỉ tăng 0,27%. Tuy nhiên mức tăng thấp này lại trái với quy luật bởi CPI
thường tăng vào các tháng cuối năm.
Không nằm trong rổ hàng hóa tính CPI, chỉ số giá vàng tháng 12/2012 tăng 0,46%
so với tháng trước; tăng 0,4% so với tháng 12/2011. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2012
tăng 0,03% so với tháng trước; giảm 0,96% so với tháng 12/2011.
Năm 2013: Chỉ số giá tiêu dùng CPI cả năm 2013 tăng 6,04%
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2013 tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 6,04% so
với tháng 12/2012. Mức tăng 6,04% của giá cả năm nay cũng được ghi nhận là thấp nhất
trong vòng 10 năm trở lại đây.
Từ mức tăng 1,31% vào tháng 2 do các tác động mang tính thời vụ của Tết Nguyên
đán Quý Tỵ, CPI giảm gần như thẳng đứng về mức - 0,19% trong tháng 3, tăng rất khẽ
0,02% vào tháng 4 phần lớn nhờ quyết định hành chính, rồi lại âm trở lại 0,06% ở tháng
5. Khi đó, mối lo giảm phát và sức khỏe nền kinh tế tiếp tục đi xuống đã được nhiều
chuyên gia kinh tế đặt ra trong bối cảnh cả sản xuất và tiêu dùng đều tăng ở mức thấp.
Ngoại trừ chỉ số tồn kho tiếp tục tăng cao ở mức 13,1%, các chỉ tiêu khác như chỉ số
sản xuất công nghiệp tăng 5% thấp hơn con số 5,9% của năm 2012, chỉ số sử dụng lao
động tăng 0,1%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội tăng 4,6% tiếp
tục ở mức thấp trong nhiều năm trở lại đây.
Hai tháng kế tiếp, CPI đã tăng nhẹ trở lại nhờ các đợt điều chỉnh giá xăng dầu, trong
đó đã có thời điểm giá xăng tăng lên mức cao kỷ lục ở mức 24.570 đồng/lít. Nhờ các tác
động này, CPI đã thoát khỏi chuỗi các tháng liên tục âm hoặc tăng thấp để rồi tăng vọt
vào các tháng sau đó, mà đỉnh điểm là mức tăng 1,06% vào tháng 9 do các tác động đến
từ việc tăng học phí các cấp và phí khám chữa bệnh tại các bệnh viện công.
Trong tháng, giá vàng và đô la Mỹ tiếp tục diễn biến trái chiều khi ghi nhận ở các mức
giảm 3,33% và tăng 0,05% so tháng trước.
II. Nguyên nhân:
1 Nguyên nhân khách quan:
Năm 2009 và 9 tháng đầu năm 2011, lạm phát trong nước vẫn nối đà tăng cao của
những năm trước đó. Không thể phủ nhận lạm phát tăng cao như vậy một phần là do
những nguyên nhân khách quan đến từ thị trường thế giới cũng như trong nước:
- Giá nhiều loại hàng hóa, nguyên vật liệu-nhiên vật liệu chủ chốt như xăng
dầu,phôi thép,khí dầu mỏ… trên thị trường thế giới tăng cao đã tác động đến giá
xăng dầu,thép xây dựng,gas,phân bón trong nước tăng cao,điều này ảnh hưởng
đến chi phí sản xuất,hay còn gọi là “chi phí đẩy”.
- Giá vàng trên thị trường thế giới tăng đột biến cũng khiến giá vàng trong nước
tăng mạnh,gây tâm lý tăng giá lan tỏa sang các hàng hóa tiêu dùng khác trên thị
trường.
- Dịch bệnh trên vật nuôi lan rộng và kéo dài ( có thời kỳ cả nước cố 30/63 tỉnh
thành có dịch bệnh) làm giảm mạnh nguồn cung thực phẩm và gia tăng chi phí
chăn nuôi.Ngoài ra, tình hình thời tiết khắc nghiệt trong một số giai đoạn cũng
ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và vì vậy , ảnh hưởng đến nguồn
cung nông sản tại một số thời điểm gây tăng giá hàng hóa.
- Sức hút từ thị trường các nước lân cận (Trung Quốc,Lào,Campuchia) do chênh
lệch giá một số mặt hàng khi trong nước thực hiện các chính sách bình ổn
giá.Thời gian qua, nhiều mặt hàng nhất là các mặt hàng lương thực,xăng dầu,thực
phẩm như thịt lợn,thủy sản đã bị thu gom và xuất khẩu qua biên giới cũng góp
phần làm mất câ đối nguồn cung hàng hóa trong nước.
- Việc điều chỉnh lương cơ bản làm chi phí sản xuất bị đẩy lên gây ra lạm phát.
Ngoài ra,dựa trên nghiên cứu về biến động của giá cả và lạm phát ở Việt Nam thì còn
có nhiều nguyên nhân khác gây ra lạm phát phải kể đến như:
• Do cầu kéo:
Trong những năm qua, nước ta phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường,hàng hóa
và dịch vụ trên thị trường trong nước dồi dào,đa dạng và phong phú.Do đó hầu như
tăng giá dầu hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm trong
nước đó cũng tăng.Lạm phát hình thành do mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
• Lạm phát sinh ra lạm phát:
Cá nhân với dự tính duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ còn tăng nên
đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại.Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát.
• Do chi phí đẩy:
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên thì chi phí sản xuất cảu các xí nghiệp tăng.Các
xí nghiệp muốn bảo toàn mức lợi nhuận sẽ tăng giá thành sản phẩm.Mức giá chung
của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.
• Do tâm lý dân chúng:
Khi thị trường bất động sản ở Việt Nam đang rối loạn,giá cả một số mặt hàng
đang leo thang hàng ngày,gây tâm lý bất ổn trong dân chúng.
Tuy nhiên nếu lập luận cho rằng đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình
trạng lạm phát cao thì hoàn toàn sai lầm,do:
- Thứ nhất, khi so sánh lạm phát Việt Nam với lạm phát của các nền kinh tế
khác,ta có số liệu ở bảng dưới:
Tính đến tháng 9 năm 2011,tốc độ tăng CPI của Việt Nam đã lên đến 16,63% tiệm cận
mục tiêu 18% đặt ra cho cả năm,cũng là cao hơn các nước khác rất nhiều.Các nước trên
thế giới đều chịu tác động tiêu cực đến từ các thị trường xăng dầu hay thị trường
vàng,vậy tại sao lạm phát của Việt Nam cao hơn một cách đáng xấu hổ như vậy?
- Thứ hai, bão lũ,dịch bệnh đúng là có khắc nghiệt hơn trong những năm gần
đây.Nhưng đây là những yếu tố cố hữu ở Việt Nam,năm nào cũng có,không thể
vì lý do này mà lạm phát lại tăng cao đột biến như vậy.
- Thứ ba,việc điều chỉnh tăng lương cơ bản cũng không phải là việc mà trong giai
đoạn 2010-2011 mới thực hiện:
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
CPI 9.5 8.4 6.6 12.6 19.9 6.52 11.75 18,13
GDP 7.34 7.79 8.44 8.23 8,46 6.18 6.32 6.78
Lương tối
nước là còn nhiều bất cập.Thí dụ,đến khi giá thuốc tân dược leo thang hằng ngày và
được bán ở mức rất cao,gây rối loạn thị trường thuốc chữa bệnh,lúc đó chúng ta mới
nghĩ đến vấn đề dự trữ quốc gia về thuốc tân dược.
• Cung ứng tiền tệ , tín dụng của ngân hàng Nhà nước:
Mức cung tiền trong những năm qua có sự nới lỏng quá mức là một trong những
nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao ở nước ta. Nếu như năm 2000 tổng
phương tiện thanh toán (M2) của Việt Nam chỉ ở mức dưới 60% GDP, thì đến cuối
năm 2010 đã lên đến trên 130% GDP (tổng dư nợ tín dụng trên 110% GDP). Tốc độ
tăng cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế đã tồn tại trong thời gian
dài. Vào năm 2007, tốc độ tăng trưởng M2 là 43,7%, tín dụng là 53,9%; mức tăng
kỷ lục này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm
2008.
• Cơ chế quản lý của Nhà nước:
- Do bộ máy quản lý còn kém hiệu quả; vai trò điều tiết của nhà nước còn nhiều
hạn chế: chưa cung cấp những thông tin cần thiết về diễn biến cung cầu trên thị
trường nội địa và quốc tế, dẫn đến sản xuất nhiều khi còn tự phát, không gắn với thị
trường, các biện pháp nới lỏng tiền tệ kích cầu diễn ra trong thời kỳ đang chiếm lĩnh
kỷ cương lành mạnh hóa các ngân hàng thương mại (NHTM) nên các NHTM tỏ ra
thận trọng khi cho vay, người dân đa số có xu hướng tiết kiệm để chi tiêu vào việc
gì đó chứ không phải nhằm mục đích đầu tư.
- Rõ ràng rằng Ngân hàng nhà nước(NHNN) không “ngây thơ” khi tình hình lạm
phát căng thẳng mà vẫn phải tiếp tục “bơm” tiền vào cho nền kinh tế. Nguồn gốc
sâu xa của lạm phát chính là đến từ các chính sách tài khóa mở rộng của Chính
phủ,mà cụ thể là tập trung quá nhiều vốn cho hoạt động chi tiêu công kém hiệu quả,
yếu tố này cùng với sự thiếu độc lập của NHNN đã tạo nên sức đẩy cho mức giá cả
chung của nền kinh tế. Cộng thêm nữa là sự thiếu bài bản trong chính sách điều
hành nền kinh tế như: tăng giá đồng loạt nhiều mặt hàng quan trọng, phá giá tiền tệ
một cách giật cục đã góp phần khuếch đại tình trạng lạm phát của Việt Nam.
• Lạm phát do vay mượn vốn nước ngoài:
- Vì chạy đua với con số tăng trưởng nên nền kinh tế Việt Nam trong những năm