kinh tế vĩ mô- phân tích thực trạng tình hình lạm phát ở Việt Nam. - Pdf 66

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt 3 năm học chúng ta đã được học rất nhiều môn từ căn bản đến chuyên
ngành, mỗi môn học đều mang lại cho chúng ta những kiến thức quan trọng tạo nền
tảng vững chắc, trang bị kiến thức cho chúng ta để làm việc thực tế. Trong đó em thích
nhất là môn học kinh tế vĩ mô. Bởi Môn kinh tế vĩ mô cung cấp các kiến thức nền về
kinh tế học trước khi chúng ta học các môn chuyên ngành kinh tế và qua môn học sẽ
giúp cho chúng ta biết được mô hình nền kinh tế quốc dân và hoạt động của nền kinh
tế. Ngày nay nền kinh tế trên thế giới nó chung và nước ta nói riêng luôn gặp phải
những vấn đề lạm phát, suy thoái, thất nghiệp....vì vậy các doanh nghiệp nên có một
cái nhìn đúng đắn về nền kinh tế để hoạch định chiến lược phát triển cho doanh nghiệp
của mình. Chính vì vậy, em chọn môn học kinh tế vĩ mô làm chuyên đề môn học, một
môn học thú vị.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những cơ sở lý luận về kinh tế vĩ mô.
- Phân tích thực trạng tình hình lạm phát ở nước ta
- Đưa ra một số giải pháp để khắc phục tình trạng lạm phát
3. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu môn học kinh tế vĩ mô
- Tình hình lạm phát ở nước ta
4. Phạm vi nghiên cứu
- thời gian thực hiện: từ 5/11/2011 đến 5/12/2011
- phạm vi nghiên cứu : tình trạng lạm phạt ở nước ta, các số liệu của cục thống kê từ
nam 2008 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp diễn dich
6. Kết cấu chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, mục lục đề tài gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Tổng quan về môn học kinh tế vĩ mô

Hố cách suy thoái: chênh lệch của mức chi tiêu mong muốn theo sản lượng toàn
dụng thấp hơn mưc sản lượng toàn dụng.
Hố cách lạm phát: chênh lệch cua mức chi tiêu mong muốn theo mức sản lượng
toàn dụng vượt qua mức sản lượng toàn dụng.
Số nhân đơn giản: là số nhân theo đó một sự thay đổi ban đầu của chi tiêu sẽ tạo ra
một sự thay đổi chi tiêu được hình thành sau một loạt các vòng chi tiêu kéo theo.
Điều chỉnh hố cách:
Theo quan điểm của Keynes cần có sự can thiệp của chính phủ
Theo quan điểm cổ điển không cần sự can thiệp của chính phủ
GDP là chỉ tiêu tốt về phúc lợi kinh tế nhưng nó không phải là chỉ tiêu hoàn hảo về
phúc lợi. Vì một số yếu tố tốt đẹp như thời gian nghỉ ngơi sẽ bị loại bỏ ra khỏi GDP.
Tổng Thu nhập của các gia đình, công ty, chính phủ cung cấp sức mua để mua sản
phẩm. Khi sức mua được sử dụng, GDP cũng được sáng tạo thêm và quá trình sản xuất
mới được tiếp tục.
Chương 3 Chúng ta cùng nhau tìm hiểu về lạm phát – thất nghiệp
Lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền. Điều này cũng đồng nghĩa với
“vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng
tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng
cùng một dịch vụ. Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành
trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp
thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách v.v...). Trong khi đó, số lượng hàng
hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá
cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát. Những ví dụ cùng cực nhất của siêu lạm phát
đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x
106 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary
sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4.19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ
đồng hồ).
Để đo lường tỉ lệ lạm phát, người ta thường dùng hai chỉ số:
• Chỉ số giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index): Đây là chỉ số giá thành sản xuất của
một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu. Mang so sánh với thời kỳ trước để tính ra tỉ lệ tăng

còn thấp. Còn gọi là Phillips Curve - đường cong Phillips. Nói cách khác là khi nhu
cầu kinh tế tăng mà thị trường lao động bị hạn chế sẽ gây lạm phát.
• Lạm phát do đột biến giá cả (Cost-push inflation).Giá cả một số nguyên vật liệu
trọng yếu, ví dụ giá dầu hoả, tăng cao bất thường có thể đưa đến lạm phát vì hiện
tượng dây chuyền, các mặt hàng khác sẽ tăng theo.
• Lạm phát sẵn có tự nhiên (Built-in inflation).Lạm phát sẵn có, liên quan đến hiện
tượng “vòng xoắn giá/lương” (price/wage spiral) nghĩa là hiện tượng công nhân luôn
luôn muốn được trả lương cao hơn (dĩ nhiên rồi), chủ bắt buộc phải trả thêm vì không
tìm đâu ra công nhân nữa, kinh tế phát triển nên ai cũng có công ăn việc làm cả rồi.
Người chủ muốn chuyển chi phí phụ trội này qua người tiêu thụ nên tăng giá sản phẩm
lên. Công nhân, đồng thời là người tiêu thụ, thấy giá lên lại đòi lương cao hơn nữa.
Cái vòng luẩn quẩn này cuối cùng gây ra lạm phát. Cả ba dạng này có thể cộng hưởng
và tạo ra mức lạm phát hiện hành của nền kinh tế của một quốc gia.
Tác hại của lạm phát đối với kinh tế
Đối với các quốc gia đang phát triển, tác hại dễ thấy nhất là lạm phát phủ định (negate)
tăng trưởng kinh tế nếu bằng hay cao hơn tăng trưởng kinh tế. Ví dụ theo World
Factbook, nếu một nền kinh tế tăng trưởng kinh tế ở mức 8.4% nhưng tỉ lệ lạm phát
lên tới 8.3%. Như vậy, trung bình người dân có thu nhập cao hơn 8.4% nhưng đời
sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùng thời kỳ thì coi như cũng không tích lũy được gì.
Tiêu chuẩn đời sống không được cải thiện bao nhiêu. Nếu không có biện pháp ngăn
chận, lạm phát sẽ làm tê liệt dần bộ máy kinh tế vì doanh nhân sẽ không thiết tha hoạt
động sản xuất nữa vì không có lợi nhuận. Tâm lý chung sẽ chỉ mua bán “chụp giựt” và
chuyển tài sản thành kim loại quý hay ngoại tệ mạnh để tránh lạm phát. Điều này rõ
ràng không có lợi cho sự xoay vòng của đồng tiền để phát triển nền kinh tế.
Đối với các quốc gia công nghiệp (industrialized countries) mà xã hội đã chuyển qua
dạng xã hội tiêu thụ rồi thì lạm phát tác hại theo một qui trình 3 bước:
- Lạm phát
- Giảm phát
- Suy thoái kinh tế
Thất nghiệp

tới cách dùng thuế và chi tiêu chính phủ như thế nào để đạt được kết quả vĩ mô như mong
muốn. Mục tiêu của chính sách tài chính là lấp đầy khoảng cách GDP, khi sử dụng chính
sách tài chính thì ngân sách của chính phủ có thể thăng dư, thâ hụt hay cân bằng một cách
ngẫu nhiên.Trong thực tế, đôi khi chính sách tài chính sẽ gây ra sự khó khăn trong nền kinh
tế chính vì vậy một số nhà kinh tế cho rằng nên sử dụng cơ chế tự ổn định như thuế và trợ
cấp để hạn chế phần nào sự biến động của nền kinh tế.
Chương 5: Tiền tệ ngân hàng và chính sách tiền tệ
Tiền: một cách khái quát, là những gì được thừa nhận chung để làm trung
gian cho việc mua bán hàng hóa.
Sử dụng tiền: trung gian trao đổi, dự trữ giá trị, đơn vị tính toán
Loại tiền: tiền hàng, tiền pháp lệnh
Trong nền kinh tế thị trường, tiền tệ đảm nhận chức năng cơ bản trong việc tạo
thuận lợi cho việc trao đổi và chuyên môn hóa, do vậy cho phép tăng sản lượng. Ngân hàng
trung ương có năng lực tạo ra tiền tệ bằng cách cho vay. Trong việc cấp các khoản vay,
ngân hàng tạo nên các khoản tiền gửi giao dịch mới mà chúng sẽ trở thành một phần của
cung tiền tệ. Tiềm năng tạo tiền của mỗi ngân hàng đều bị giới hạn bởi các qui định của
chính phủ. Ngân hàng TW kiểm soát tiền tệ của mỗi quốc gia bằng 3 công cụ cơ bản đó là
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở.
Theo quan điểm của phái Keynes, nhu cầu về tiền là quan trọng. Nhu cầu này phản
ánh mong muốn giữ tiền cho các mục đích giao dịch, đầu tư và dự phòng. Tác động qua lại
giữa cung và cầu tiền tệ quyết định lãi suất cân bằng.
Chính sách tiền tệ là khái niệm dùng để chỉ việc chính phủ thay đổi cung tiền hoặc
lãi suất để ổn định hoạt động của nền kinh tế. Cơ quan hoạch định chính sách tiền tệ là
chính phủ hoặc ngân hàng TW, nhưng cơ quan thực thi chính sách tiền tệ luôn luôn là ngân
hàng TW.
Sự gia tăng cung ứng tiền làm giảm lãi suất cân bằng, ngược lại giảm cung ứng tiền
sẽ làm tăng lãi suất cân bằng. Để chính sách tiền tệ phát huy hết tác dụng, lãi suất phải thể
hiện được hết những thay đổi trong cung tiền và chi tiêu đầu tư phải phản ứng được với
những thay đổi trong lãi suất. Không có điều kiện nào được đảm bảo. Trong tính trạng bẫy
thanh khoản, người ta muốn giữ tiền không hạn chế ở mức lãi suất thấp nào đó. Lãi suất sẽ

gia cần được bảo hộ nhằm đề phòng các mối quan hệ xấu về chính trị giữa các nước.
Có 3 loại tỷ giá: tỷ giá thả nổi, tỷ giá cố định, tỷ giá thả nổi có quản lý. Trong cơ
chế tỷ giá cố định, nếu ngân hàng TW muốn tăng tỷ giá thì phải mua ngoại tệ vào và ngược
lại. Tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ tác động đến xuất nhập khẩu hàng hóa, giá hàng hóa trong
nước và nợ nước ngoài.
Chương 7: Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng thực. Trong đó tăng trưởng ngắn hạn
có thể là do sự gia tăng trong việc sử dụng năng lực sản xuất. Tuy nhiên, trong dài hạn cần
phải có sự gia tăng trong bản thân năng lực. Các thước đo cơ bản của tăng trưởng kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status