1
Đề tài : Phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam qua các giai
đoạn . Trên cơ sở đó cho biết nguyên nhân và bịên pháp khắc
phục . 2
* * *
Thời gian gần đây chúng ta đang quan tâm nhiều đến vấn đề giá cả . Bởi vì giá
cả có mối quan hệ chặt chẽ đến cuộc sống của chúng ta . Giá cả tăng mà thu nhập
không tăng sẽ dẫn tới mức sống của chúng ta giảm xuống . Do đó mà chúng ta phải
quan tâm đến vấn đề này . Vì chỉ cần chúng ta không chú ý một thời gian , là đã
khác nhau. Một bên là nền kinh tế thị trường tự do, một bên là nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu bao cấp. Do những đặc điểm đặc thù của nền kinh tế nên
giai đoạn này lạm phát hầu như chưa xuất hiện rõ nét .
Sau năm 1975, chúng ta đã giành được độc lập, thống nhất đất nước . Lúc
đó, việc sát nhập hai hệ thống kinh tế, chính trị hoàn toàn khác nhau đã đặt ra
những thử thách lớn cho chúng ta . Miền nam là một nền kinh tế thị trường tự do
tương đối phát triển, có xuất khẩu .Đặc điểm của nền kinh tế miền nam lúc này là
đô thị hoá, phát triển công nghiệp nhẹ và nhập khẩu công nghiệp nặng. Trong khi
đó, ở miền bắc nền kinh tế vẫn còn mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung quan
liêu bao cấp chủ yếu dựa vào viện trợ và nhập khẩu nước ngoài những hàng hóa
tiêu dùng, và tập trung hoá cao tư liệu sản xuất .
1.2. Thời kỳ bắt đầu đổi mới
Trước đổi mới năm 1979, nền kinh tế nứơc ta được thống nhất từ hai mô
hình kinh tế nêu trên vào một nền kinh tế hàng hoá tập trung quan liêu bao cấp với
sự kiểm soát và can thiệp tập trung của chính phủ lên tất cả các hoạt động của nền
kinh tế. Chúng ta chỉ chấp nhận hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và
kinh tế hợp tác xã. Miền bắc với sự hợp tác hoá cao độ, tất cả các công ty đều
thuộc sở hữu nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương. Lĩnh vực nông nghiệp
thì hợp tác hoá và quản lí theo hình thức hợp tác xã. Cả ngành công nghiệp và
nông nghiệp đều dựa vào sự phân bổ vốn và nguyên liệu vật tư sản xuất của Nhà
nước. Sản phẩm làm ra được phân phối theo kế hoạch định sẵn, hàng hoá tiêu dùng
được định lượng dưới dạng tem phiếu. Điều này đã gây ra sự khan hiếm hàng hoá
tiêu dùng. Trong khi đó ở miền Nam nền kinh tế thị trường đã phát triển từ trước
năm 1975, còn nền kinh tế kế hoạch tập trung chỉ mới tồn tại từ sau năm 1975. Sự
sát nhập giữa hai nền kinh tế khác nhau đã tạo nên hiện tượng phân tầng kinh tế.
Mặc dù nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung vẫn tồn tại nhưng vẫn có một nền kinh
tế thị trường phát triển ngầm trong đó.Và dù giá hàng hoá đã được Nhà nước quy
định và hàng hóa được phân phối theo kế hoạch và tem phiếu, nhưng ngoài thị
trường ngầm vẫn tồn tại hàng hóa ở một mức giá cao hơn mức giá Nhà nước quy
doanh, để giải quyết tình trạng này chính phủ phải in thêm tiền để các xí nghiệp
quốc doanh mua nguyên vật liệu. Nền kinh tế đã kiệt quệ lại càng khó khăn kiệt
5
quệ hơn. Trước tình hình khó khăn đó, năm 1985 chính phủ đã đổi mới chính sách
tiền tệ và thực hiện đổi tiền với tỷ lệ 10 đồng tiền cũ bằng 1 đồng tiền mới nhằm
giảm bớt lượng tiền trong lưu thông. Đồng thời với đổi tiền là xoá bỏ bao cấp hàng
tiêu dùng và điều chỉnh tiền lương. Giá cả hàng hoá nông nghiệp được tự do hoá
theo thị trường. Cơ chế hai giá dần dần được xoá bỏ, tiến tới giá cả được hình
thành và hoạt động trên cơ sở trao đổi thương mại. Giữa năm 1989 vai trò của khu
vực tư nhân đã được thừa nhận, những quy chế về thúc đẩy và giải phóng mọi tiềm
năng sản xuất của khu vực tư nhân được ban hành. Tuy nhiên sự phát triển của khu
vực tư nhân vẫn còn rất nhiều khó khăn bởi môi trường sản xuất kinh doanh của
chúng chưa được hình thành. Trong nông nghiệp còn nhiều bất cập trong chế độ
khoán sản phẩm, mức đóng góp bắt buộc còn quá cao, chi phí cho sản xuất cao
trong khi giá của lương thực thực phẩm lại thấp. Nên nông dân không muốn tăng
sản xuất của họ. Hơn nữa, bão lũ lại xảy ra ở một số địa phương, sản xuất nông
nghiệp bị đình đốn, nạn đói xảy ra ở một số nơi. Với những hoàn cảnh nêu trên
người dân tích cực tích trữ hàng hoá lương thực, vàng và đô la vì sợ đồng tiền Việt
Nam mất giá, tạo nên cầu giả tạo tăng cao, giá cả tăng vọt. Tất cả những điều trên
là nguyên nhân gây ra lạm phát phi mã, trong khi tăng trưởng thì giảm xuống gần
như không. Năm 1986 tỷ lệ lạm phát lên đến 487,2%, năm 1987 là 301,3%, năm
1988 là 308,2%, năm 1989 tỷ lệ lạm phát ở mức 74,3%. Trong khi tăng trưởng
kinh tế ở những năm này chỉ khoảng 1% đến 2%. Giai đoạn trước 1989 tỷ lệ tăng
trưởng và tỷ lệ lạm phát luôn ngược chiều nhau. Bên cạnh sự đổi tiền là sự phát
hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách, giá cả thì tự do, hàng hoá thì khan hiếm
do sản xuất trong nước không tăng, trong khi nhập khẩu bị hạn chế do cơ chế xuất
nhập khẩu chưa được tự do hoá. Như vậy một mặt tiền thì dư thừa trên thị trường,
nhu cầu hàng hoá cao, cung hàng hoá thấp đưa đến lạm phát tăng nhanh đến chóng
để tiến tới một thị trường tự do đã đạt hiệu quả. Hai cơ chế tỉ giá khác nhau được
thống nhất vào một tỷ giá đã phản ánh một cách tương đối cung cầu ngoại tệ trên
thị trường. Việc thống nhất các loại tỷ giá khác nhau thành tỷ giá thị trường tự do
đóng một vai trò quan trọng trong kìm chế lạm phát. Tiếp theo đó là thị trường
ngoại hối được tự do hoá. Mọi người trước đây tích trữ ngoại tệ thì bây giờ đã giữ
tiền đồng và gửi tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng. Lượng tiền tiết kiệm ngày càng
gia tăng do sự hình thành và phát triển của những quỹ tiết kiệm tư nhân. Lượng
tiền trong lưu thông giảm, lạm phát phi mã giảm xuống. Tuy nhiên, cuối năm 1990
7
đến đầu năm 1991 nhiều quỹ tiết kiệm tư nhân đã phá sản, tình hình kinh tế khó
khăn và tâm lý e ngại gửi tiền tiết kiệm lại tăng lên.
Cải cách kinh tế đã được triển khai trên tất cả các lĩnh vực kinh tế. Doanh
nghiệp Nhà nước đã được tư nhân hoá một phần, những doanh nghiệp quốc doanh
làm ăn không hiệu quả và thua lỗ bị giải thể. Kinh tế hộ gia đình được khuyến
khích phát triển, sản xuất trong nền kinh tế được đa dạng hoá. Các hàng rào thương
mại được bãi bỏ đặc biệt thương mại ở biên giới Việt – Trung được thông thương
không chỉ làm tăng khối lượng hàng hoá xuất khẩu mà còn làm tăng lượng hàng
hoá nhập khẩu. Hàng hoá không còn khan hiếm, nhu cầu hàng hoá được đáp ứng,
lạm phát giảm đáng kể. Năm 1991 tỷ lệ lạm phát còn là 67,5%, năm 1992 tỷ lệ này
giảm xuống còn 17,6%, đặc biệt năm 1993 tỷ lệ lạm phát chỉ còn 5,2%. Trong giai
đoạn này nhờ kiểm soát được lạm phát nên tỷ lệ tăng trưởng tăng lên.
Đến năm 1996, tình hình lạm phát và tăng trưởng đã bắt đầu có thay đổi, tỷ
lệ lạm phát giảm còn 4,5%, tăng trưởng đạt 9,34%, giá cả thị trường trong năm
1996 khá ổn định. Tuy biên động giá trong các tháng còn lớn, nhưng kết quả kiềm
chế lạm phát đã vững chắc tạo sự ổn định cho nền kinh tế. 1991 1992 1993 1994 1995 1996
phát triển. Một số chủ trương, biện pháp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng
và Nhà nước đã bắt đầu đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng. Hoạt động thương
mại và dịch vụ trên thị trường trong và ngoài nước đã đạt kết quả tốt. Trong năm
1997 công tác điều hành chống lạm phát được chuẩn bị chu đáo và chỉ đạo sát sao
nên khi triển khai đã đạt được hiệu quả tốt. Bên cạnh đó đầu năm 1997 tình hình
quốc tế và thị trường thế giới không có những biến động lớn, xu hướng hợp tác
cũng tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Nhưng giữa năm
1997 một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á đã nổ ra gây bất lợi cho nền
kinh tế nước ta. Tình hình thiểu phát kéo dài trong các năm 1999 đến 2003.
3.1. Thời kỳ khởi đầu thiểu phát 1997
Năm 1997 giá cả thị trường trong nước ở mức khá ổn định, chỉ số lạm phát ở
mức 103,6% tăng 3,6% so với cuối năm 1996. Đây là mức lạm phát thấp nhất ở
nước ta cho đến trước năm 1997. Tuy nhiên, cùng với những thành công trong việc
kiềm chế lạm phát đã xuất hiện hiện tượng thiểu phát trong những tháng đầu năm.
Có thể nêu ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên:
9
- áp dụng một số kinh nghiệm kiềm chế lạm phát trong một số năm trước
- sản xuất kinh doanh vẫn được duy trì ở mức độ cao
- hàng hoá trên thị trường đủ đáp ứng mọi nhu cầu của tầng lớp nhân dân
- tốc độ tăng của xuất khẩu có xu hướng chậm lại là một trong những yếu tố
làm giảm giá trong nước
- thực thi chính sách tài chính tiền tệ chặt chẽ
- giá cả thị trường thế giới biến động theo chiều hướng giảm đối với nhiều
loại hàng cũng ảnh hưởng đến mặt bằng giá trong nước
3.2. Thời kỳ chịu tác động khủng hoảng kinh tế khu vực
Sang năm 1998 tình hình kinh tế xã hội trong khu vực có những biến động
dẫn đến lạm phát cũng có nhiều biến đổi, tỷ lệ lạm phát thấp kéo theo tình hình
tăng trưởng kinh tế có chiều hướng không thuận lợi, có những yếu tố tích cực kiềm
năng chững lại làm cho năm 1998 tình hình hàng hoá giảm sút
-Việc tăng cường chống buôn lậu, dán tem hàng nhập làm tăng giá một số
hàng hóa như: rượu, thuốc lá…
- Hậu quả cơn bão ở các tỉnh phía Nam đòi hỏi một lượng chi phí lớn từ
ngân sách Nhà nước để khắc phục hậu quả nên góp phần đẩy giá hàng hóa tăng
3.3. Thời kỳ thiểu phát bắt đầu
Tình hình lạm phát trong các năm từ 1999 đến 2003 diễn ra ở mức thấp và
dấu hiệu thiểu phát kéo dài đến hết năm 2000 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế có
tăng lên, chấm dứt thời kỳ tốc độ tăng trưởng đi xuống. Số liệu cho thấy chỉ số giá
tiêu dùng trong các tháng ở các năm từ 1999 đến 2003 là rất thấp kéo theo tỷ lệ lạm
phát thấp làm tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng ở mức thấp.
Diễn biến giá cả và tình hình thiểu phát từ năm 1999 đến 2003 có nhiều
nguyên nhân:
- Do khủng hoảng tài chính tiền tệ làm cho nhu cầu tiêu thụ hàng hoá trên thị
trường giảm đi dẫn đến việc xuất khẩu hàng hóa ở nước ta bị tác động không tốt,
hàng hoá đọng lại trong nước tăng lên, tiêu thụ hàng hoá ở thị trường trong nước
tăng chậm, giá hàng hoá giảm.
- Khủng hoảng tài chính tiền tệ làm FDI, du lịch và các loại hình dịch vụ vào
nước ta giảm làm giảm sút đáng kể nhu cầu hàng hoá.
- Các doanh nghiệp trong nước mặc dù còn yếu kém nhưng đã đi vào sản
xuất tạo sản phẩm cho thị trường làm tăng cung hàng hoá.
11
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào hoạt động tạo hàng
hóa trên thị trường .
- Nhu cầu hàng hoá dịch vụ của nhân dân chuyển từ lượng sang chất dẫn đến
việc tiêu thụ hàng hoá chậm lại.
- Chính phủ đã có một số biện pháp khắc phục nhưng triển khai còn chậm
trễ nên hiệu quả không như ý muốn.
- Lượng vốn huy động của ngân hàng tăng cao nhưng lượng vốn cho vay
tế vẫn còn nhiều khó khăn, không chỉ từ nguyên nhân chủ quan mà còn do nguyên
nhân khách quan như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh…
Thoạt nhìn thì điều đập vào mắt mọi người trước tiên về lạm phát là giá cả
các mặt hàng trên thị trường thế giới tăng nhanh dẫn đến tăng giá hàng hóa trong
nước hay nói cách khác đây là lạm phát chi phí đẩy. Tuy nhiên, khi nghiên cứu
chúng ta lại thấy có sự khan hiếm tương đối về hàng hóa trong nước, tổng cung
hàng hoá thấp hơn tổng cầu. Ví dụ: cung nhà đất thấp hơn cầu nhà đất hoặc do dịch
cúm gà dẫn đến tổng cung thực phẩm giảm mạnh. Như vậy, lạm phát ở đây có tính
chất cầu kéo.
Nhìn lại cả một quá trình kích cầu của chúng ta từ ngân sách Nhà nước đến
hệ thống ngân hàng đã bơm ra một lượng tiền đáng kể để kích cầu và vòng quay
tiền tệ đã tăng trở lại nên kết quả hiện nay tổng cung tiền tệ lớn hơn tổng cầu tiền
tệ, giá cả tăng lên là điều khó tránh khỏi.
Nhìn tổng thể sản xuất đầu tư của chúng ta cũng còn nhiều bất cập, đầu tư
dàn trải kém hiệu quả và thất thoát lớn. Trong quản lý điều hành cũng còn nhiều
điểm cần đổi mới và hoàn thiện.
Tóm lại khi lạm phát diễn ra không thể nói chỉ một nguyên nhân riêng lẻ nào
mà phải xem xét toàn diện các nguyên nhân có thể có .
II. Các giải pháp và chính sách vĩ mô
Trong thời kì mà lạm phát là một vấn đề như hiện nay thì những giải pháp
của chính phủ đưa ra dù ít hay nhiều cũng đem lại những kết quả cụ thể .
Nhà nước ta đã đưa ra những chính sách để kiềm chế lạm phát như sau :
1.Một số vấn đề chung
Như trên đã nói, những mất cân đối về kinh tế vĩ mô ( lạm phát , thâm hụt
ngân sách , chênh lệch tỉ giá cao của thị trường không chính thức ) có tương quan
13
ngược chiều rất rõ ràng đối với sự tăng trưởng .Nhiệm vụ của chính sách là làm thế
nào để giảm thiểu được được các tác động làm suy giảm sản lượng , đồng thời tạo
14
Để xử lí tốt các vấn đề trên , cần tiếp tục thực thi các chính sách tiền tệ thận
trọng và hợp lí , song cần phải điều chỉnh linh hoạt kịp thời theo những biến đổi
của thị trường , để góp phần kiềm chế lạm phát , hoặc chống giảm phát . Các công
cụ lãi suất , tỉ giá , hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc ……phải được sử dụng nhạy
bén , phù hợp với diễn biến cung cầu hàng hoá và giá của thị trường .
Cần khống chế mức tăng tổng phương tiện thanh toán ở mức hợp lí , từ đó
tính toán tổng lượng tiền cung ứng của ngân hàng trung ương .
Khống chế dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ở mức vừa phải , bảo đảm sử
dụng vốn có hiệu quả , nâng cao chất lượng tín dụng , tăng tín dụng cho khu vực
ngoài quốc doanh . Cần chuẩn bị phát hành tín phiếu thu hút lượng tiền dư thừa
ngoài thị trường khi bắt đầu có dấu hiệu lạm phát .
Bảo đảm việc mua bán ngoại tệ được thực hiện bình thường , ổn định ở các
tổ chức tín dụng .Tỉ giá phải được điều hành theo cung cầu và diễn biến của thị
trường ở mức hợp lí bảo đảm khuyến khích phát triển sản xuất , kiểm soát nhập
khẩu , ổn định tiền tệ , làm lành mạnh cán cân thanh toán .
Thực hiện tái cấp vốn ở mức hợp lí , mức lãi suất tái cấp vốn cần được thực
hiện theo hướng nâng cao hiệu quả tín dụng và làm cơ sở để điều hành lãi suất thị
trường .
Thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn .
Lãi suất được điều hành một cách linh hoạt , theo sát cung cầu vốn phục vụ
phát triển và tăng trưởng kinh tế , bảo đảm yêu cầu huy động vốn và kiềm chế lạm
phát
Bên cạnh đó cần xúc tiến các biện pháp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng . Lành
mạnh hoá hệ thống ngân hàng để có một sự tăng trưởng bền vững . Cụ thể : tiến
hành đánh giá một cách có hệ thống và kịp thời để sớm vạch ra một kế hoạch sắp
xếp lại, tiến hành cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước . Khắc phục các vấn
đề về vốn và nợ của các ngân hàng hoạt động yếu kém.
Ngoài những chính sách trên còn phải tính đến hàng loạt biện pháp khác về
lãi suất tiền tệ , chính sách đối với người nghèo : hạ lãi suất xuống để khuyến khích
vốn , tăng nhanh khả năng đầu tư , tăng tiêu dùng hợp lí hàng hóa , dịch vụ của các
tầng lớp dân cư . Cụ thể , giải phóng nâng cao hiệu quả của các nhân tố sản xuất ,
nâng cao hiệu quả sử dụng đất , tạo công ăn việc làm, nâng cao trình độ , năng lực
cho người lao động . Nâng cao công suất sử dụng cơ sở vật chất . Mở rộng thị
16
trường , nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường , thúc đẩy hội nhập trên thị trường
quốc tế .Thúc đẩy phát triển đồng bộ hệ thống thị trường , tăng cường hiệu lực các
chính sách kinh tế vĩ mô , đẩy mạnh thu hút nguồn vốn từ bên ngoài .
Để đảm bảo có tăng trưởng cao và lạm phát hợp lí thì phải có tổng hợp một
hệ thống biện pháp hài hoà , thống nhất . Không thể chỉ đơn lẻ một biện pháp nào .
Trong khuôn khổ một bài ngắn không thể suy xét tất cả mọi vấn đề . Nên bài
viết này chỉ đề cập đến một khía cạnh rất nhỏ của lạm phát . Mong rằng thời gian
sau chúng ta có thể được tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này .