2
Hoạt động đầu tư tài chính của Tổng công ty bảo
hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Lê Hoàng Oanh
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Tài chính ngân hàng; Mã số: 60 34 20
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Trúc
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư tài chính
của doanh nghiệp bảo hiểm. Nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của Công ty
bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam trên các phương diện huy động, tạo lập
và sử dùng vốn đầu tư. Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phát triển hoạt động đầu tư tài
chính của Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.
Keywords: Tài chính; Ngân hàng đầu tư; Hoạt động đầu tư; Bảo hiểm Content
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động bảo hiểm giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế không chỉ góp phần phòng chống, hạn
chế, khắc phục các thiệt hại, tổn thất cho nền kinh tế mà còn đóng vai trò là một trong những tổ chức đầu tư lớn
trên thị trường tài chính. Thực tế kinh doanh bảo hiểm trên thế giới đã chứng tỏ rằng kết quả kinh doanh của
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo
hiểm.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát
triển Việt Nam trên các phương diện huy động, tạo lập và sử dùng vốn đầu tư.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phát triển hoạt động đầu tư tài chính của Công ty bảo hiểm Ngân hàng
Đầu tư và phát triển Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm. Về mặt
lý luận là các vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm. Về mặt thực tiễn, phân
tích và đánh giá thực trạng hoạt động và đề xuất định hướng giải pháp phát triển hoạt động đầu tư tài chính tại
của Tổng công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn hoạt động đầu tư tài chính của Tổng công ty bảo hiểm ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam từ năm 2006 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp và sử dụng các bảng số liệu để
minh họa. Phương pháp nghiên cứu tình huống và nghiên cứu điển hình lấy Tổng công ty bảo hiểm ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp trên cơ sở so sánh với toàn hệ thống
các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam. Bên cạnh đó, luận văn cũng vận dụng kết quả các công trình khoa
học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn hệ thống hóa các quan niệm về đầu tư, từ đó làm rõ bản chất hoạt động đầu tư tài chính tại
các doanh nghiệp bảo hiểm. Luận văn đưa ra ba nguyên tắc đầu tư cơ bản đối với doanh nghiệp bảo hiểm là:
4
nguyên tắc an toàn, nguyên tắc sinh lời và nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên trên cơ sở
phân tích nguồn vốn đầu tư.
Đầu tư tài chính: Là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ
có giá để hưởng lãi suất cố định trước hoặc lãi suất tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
phát hành.
Đầu tư thương mại: Là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hóa và sau đó bán
với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và bán.
Đầu tư phát triển: Là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao
động, trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa, cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng, bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản
này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. 5
1.1.3. Đặc điểm của hoạt động đầu tư tài chính
Hoạt động đầu tư tài chính không tạo ra sản phẩm mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản
chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Đầu tư tài chính có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian
tài chính.
1.1.4. Vai trò của hoạt động đầu tư tài chính
Vai trò nổi bật nhất của hoạt động đầu tư tài chính là hoạt động đầu tư cung cấp một nguồn vốn quan
trọng cho đầu tư phát triển. Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu
chuyển một cách dễ dàng, khi cần có thể rút ra nhanh chóng thông qua việc chuyển nhượng, mua bán các
công cụ tài chính trên thị trường tài chính, điều này đã khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư.
1.2. Hoạt động đầu tƣ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.1. Tổng quan về doanh nghiệp bảo hiểm
Theo điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam ban hành năm 2000 kinh doanh bảo hiểm được
hiểu là “Hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp
nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo
hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm”. Cũng theo điều 3 khoản 5, doanh nghiệp bảo hiểm là “doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và
nghiệp thực hiện các cam kết với khách hàng trong các hợp đồng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Nguyên tắc thứ hai cần đảm bảo là nguyên tắc sinh lời. Nguyên lý đầu tư là rủi ro đầu tư càng cao thì
tỷ suất lợi nhuận đầu tư càng cao và ngược lại. Do đó, nhà quản lý quỹ đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
cần lựa chọn một cơ cấu danh mục cân đối để đảm bảo cả nguyên tắc an toàn và nguyên tắc sinh lời.
Nguyên tắc thứ ba cần đảm bảo là nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên.
1.2.2.3. Vai trò của hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Hoạt động đầu tư ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm. Tỷ suất
lợi nhuận đầu tư cao sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện giảm phí bảo hiểm, đóng góp quan trọng
vào sự tăng trưởng thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm, giúp mở rộng quy mô doanh nghiệp,
tăng cổ tức cho cổ đông, tăng quỹ phúc lợi và thu nhập cho người lao động. Đối với xã hội, vai trò của hoạt
động đầu tư được thể hiện rõ nét nhất thông qua vị trí của doanh nghiệp bảo hiểm trong cấu trúc của hệ thống thị
trường tài chính. Ngoài ra, hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn có tác động không nhỏ đến sự
phát triển của các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần ổn
định xã hội, tăng thu cho ngân sách nhà nước và tăng tích lũy cho nền kinh tế quốc dân.
1.2.3. Các phương thức đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm là hoạt động đầu tư tài chính và chủ yếu được thực
hiện thông qua thị trường tài chính, bao gồm các hoạt động cơ bản sau:
1.2.3.1. Đầu tư tiền gửi
Đầu tư tiền gửi là việc doanh nghiệp bảo hiểm gửi tiền có kỳ hạn tại các Tổ chức tín dụng (ngân
hàng thương mại, công ty tài chính…) để hưởng lãi theo lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng tiền gửi,
chứng chỉ tiền gửi…
1.2.3.2. Đầu tư chứng khoán
Hai công cụ chính trên thị trường chứng khoán là trái phiếu và cổ phiếu.
Đầu tư trái phiếu:
Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ,
xác nhận nghĩa vụ trả nợ (gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái
=
Lợi nhuận đầu tư tài chính
(1)
Tiền & tài sản đầu tư bình quân trong kỳ
Trong đó:
Tiền & tài sản đầu tư bình
quân trong kỳ
=
Tiền & tài sản đầu tư đầu kỳ + cuối kỳ
2
Tài sản đầu tư
=
Đầu tư tài chính ngắn
hạn
+
Đầu tư tài chính dài hạn
+
Ký quỹ, ký cược dài
hạn
1.2.4.2. Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trên vốn
chủ sở hữu
=
Lợi nhuận đầu tư
Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Trong đó:
Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm có ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu danh mục đầu tư. Các doanh
nghiệp bảo hiểm lớn, sẽ có phạm vi lựa chọn đầu tư rộng hơn, có khả năng đa dạng hóa danh mục tốt hơn.
c. Quan điểm đầu tư
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm chịu tác động của nhiều nhân tố, nhưng suy cho cùng,
quyết định đầu tư vào đâu, giá trị đầu tư bao nhiêu… là do người chịu trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư
quyết định trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
d. Chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện đầu tư
Cán bộ thực hiện đầu tư phải có trình độ chuyên môn, được đào tạo chuyên sâu và có kinh nghiệm
thì mới có thể tối đa hóa hiệu quả danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở lựa chọn những
phương án đầu tư có độ rủi ro và mức lợi nhuận hợp lý.
1.2.5.2.Các nhân tố bên ngoài
a. Chính sách thuế
Để khuyến khích tăng đầu tư cho nền kinh tế, các chính phủ thường ưu đãi không đánh thuế hoặc giảm
thuế đối với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nếu lợi nhuận được đem tái đầu tư. Doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ tăng giá trị đầu tư vào những lĩnh vực phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
được nhà nước khuyến khích thông qua việc giảm thuế.
b. Các điều kiện của thị trường tài chính
Quy mô và mức độ phát triển của thị trường tài chính có ảnh hưởng lớn tới sự lựa chọn đầu tư của
các nhà đầu tư nói chung và các doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng. Tại các thị trường tài chính phát triển,
doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều sự lựa chọn hình thức đầu tư và ngược lại.
c. Các ràng buộc về mặt pháp lý đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Việc doanh nghiệp bảo hiểm được phép đầu tư vào những lĩnh vực nào, giá trị đầu tư là bao nhiêu
thông thường đều bị pháp luật các nước khống chế.
1.3. Kinh nghiệm tổ chức quản lý hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm ở một số nƣớc
1.3.1. Mô hình tổ chức quản lý hoạt động đầu tư
Pháp là một ví dụ điển hình cho một thị trường bảo hiểm phát triển để xem xét vận dụng kinh nghiệm. Theo Luật
bảo hiểm của Pháp, hoạt động đầu tư nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm không những chịu ràng
buộc pháp luật, còn đối với hoạt động đầu tư các quỹ dự phòng nghiệp vụ phải tuân theo các quy định sau:
- Nguyên tắc đầu tư: an toàn, sinh lời và khả năng thanh toán thường xuyên.
- Danh mục đầu tư cho phép bao gồm 5 loại: Trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản, cho vay và tiền gửi.
- Giới hạn tối đa đối với từng loại tài sản đầu tư như sau:
+ Cổ phiếu và trái phiếu công ty không được quá 65% quỹ dự phòng nghiệp vụ
+ Bất động sản không được quá 40% quỹ dự phòng nghiệp vụ
+ Cho vay có thế chấp không quá 10% quỹ dự phòng nghiệp vụ
+ Trái phiếu chính phủ, tiền gửi vào các tổ chức nhận tiền gửi: không hạn chế
- Hạn chế đối với từng khoản đầu tư:
+ Không quá 5% quỹ dự phòng nghiệp vụ vào cổ phiếu niêm yết và trái phiếu của một công ty.
+ Không quá 10% quỹ dự phòng nghiệp vụ vào một bất động sản
+ Không quá 0.5% quỹ dự phòng nghiệp vụ vào cổ phiếu chưa niêm yết
1.3.3.2. Kinh nghiệm ở Malaysia
Malaysia là một nước trong khu vực Đông Nam Á, có mức độ phát triển thị trường bảo hiểm tương
đối giống Việt Nam, nên có thể coi Malaysia là một kinh nghiệm tốt để vận dụng.
Theo Luật bảo hiểm của Malaysia, những hạn chế đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo
hiểm được áp dụng với cả đầu tư vốn chủ sở hữu và quỹ dự phòng nghiệp vụ, cụ thể như sau:
10
- Nguyên tắc đầu tư: an toàn, sinh lời và khả năng thanh toán thường xuyên.
- Danh mục đầu tư cho phép bao gồm 7 loại: trái phiếu Chính phủ, tiền gửi ngân hàng và các tổ chức
tín dụng, cổ phiếu bao gồm cả niêm yết và chưa niêm yết, quỹ tín thác đầu tư, cho vay bao gồm cả trái phiếu
công ty, bất động sản, cho vay theo đơn bảo hiểm.
- Giới hạn đối với mỗi loại tài sản đầu tư:
+ Trái phiếu Chính phủ: Tối thiểu không dưới 25% tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ và vốn chủ sở hữu
của doanh nghiệp bảo hiểm.
+ Tiền gửi ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Không hạn chế
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của BIC
Mô hình tổ chức cũng như phân cấp quản lý sẽ quyết định tới việc ra quyết định đầu tư, nhất là trong lĩnh
vực đầu tư vào tài sản tài chính. Việc phân cấp quản lý và quyết định đầu tư giúp cho từng bộ phận có thể chủ
động đưa ra các quyết định kịp thời, do đó việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức quản lý của công ty là rất quan trọng.
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của BIC
2.1.3.1. Lĩnh vực hoạt động và các sản phẩm mà công ty cung cấp
Công ty Bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam là công ty bảo hiểm phi nhân thọ, có
chức năng kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm, và hoạt động đầu tư tài chính. Bên
cạnh các lĩnh vực chính trên, BIC còn cung cấp các dịch vụ đại lý khác liên quan như: đại lý giám định tổn
thất, đại lý xét giải quyết bồi thường…
2.1.3.2. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc
BIC đi vào hoạt đông được 7 năm, từ đầu năm 2006 đến nay. Qua 4 năm hoạt động với tư cách là
công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển và từ tháng 10 năm 2010 thì BIC đã chuyển đổi mô hình
thành công ty cổ phần, BIC đã thực hiện được một số các vấn đề cơ bản như sau:
Thứ nhất: Đó là phải kể đến việc chuyển giao thành công từ mô hình một công ty liên doanh sang
công ty một thành viên thuộc hệ thống Ngân hàng Đầu tư và phát triển mà không gây xáo trộn thị trường,
vẫn duy trì được một lượng khách hàng ổn định và tăng trưởng nhanh.
Thứ hai: Trong 6 năm vừa qua, công ty không ngừng nâng cao vị thế của mình trên thị trường bảo
hiểm là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao trên thị trường hiện nay.
Thứ ba: Công ty đã không ngừng triển khai thêm mạng lưới đại lý và chi nhánh trên cả nước. Đến năm
2011, BIC đã triển khai trên tất cả 111 chi nhánh BIDV trên toàn quốc và đã có hơn 1000 đại lý chuyên nghiệp.
Thứ tư: Công ty đã ổn định được mặt nhân sự, đảm bảo được sự phát triển cho công ty, bên cạnh đó
công ty cũng không ngừng đào tạo và tuyển dụng nhân viên.
12
Thứ năm: Công ty đã sơ bộ hoàn thiện về khung pháp lý cho công ty, xây dựng tương đối đồng bộ
các quy định cho công ty.
Thứ sáu: Công ty đã thực hiện việc nâng tổng số vốn điều lệ lên 660 tỷ năm 2010 để đáp ứng yêu
298.102
4
Tổng doanh thu
409.383
623.272
875.108
1.068.553
5
Doanh thu phí bảo hiểm
296.37
406.703
553.067
689.576
6
Doanh thu đầu tư tài chính
71.023
141.305
251.93
289.943
7
Tổng lợi nhuận trước thuế
-76.879
80.68
31.548
100.521
8
ROE
-17,34%
15,0%
5,3%
273.632
3
Tỷ lệ phí nhượng tái bảo hiểm
52.3%
59.8%
43.7%
43.9%
4
Phí nhận tái bảo hiểm
27.107
36.620
47.617
65.754
5
Tỷ lệ phí nhận tái bảo hiểm
21.1%
24.6%
16.8%
18.78%
6
Thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm
28.778
63.886
129.523
199.830
7
Chi bồi thường tái bảo hiểm
0.752
3.8
20.456
22.94
13
Cơ cấu doanh thu từ hoạt động tái bảo hiểm
35.9%
45.8%
46.9%
53.7%
(Nguồn: Báo cáo tài chính BIC 2008 - 2011)
13
2.2. Thực trạng hoạt động đầu tƣ tài chính của Công ty Bảo hiểm Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
2.2.1. Tổ chức hoạt động đầu tư tài chính của BIC
2.2.1.1. Quy chế đầu tư tài chính của BIC
Theo điều 1 quy chế đầu tư tài chính của BIC được ban hành kèm theo quyết định số 047/QĐ - HĐQT ngày
08/3/2011 của Hội đồng quản trị thì đầu tư tài chính là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của BIC, sử
dụng các nguồn vốn hợp pháp hợp lệ để đầu tư theo danh mục được pháp luật kinh doanh bảo hiểm cho phép, phù hợp
định hướng phát triển của BIC nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Theo điều 2 của quy chế này thì nguyên tắc đầu tư
của BIC quan trọng nhất là an toàn và phát triển vốn sau đó là đảm bảo yêu cầu thanh toán thường xuyên, tuân thủ các
quy định trong Điều lệ, quy chế tài chính và các quy định Pháp luật trong hoạt động đầu tư tài chính và cuối cùng là
phải hỗ trợ hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nguồn vốn đầu tư là vốn điều lệ đã góp, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ hình thành từ lợi nhuận để lại được phép sử dụng cho hoạt
động đầu tư, nguồn vốn khấu hao tài sản cố định chưa sử dụng, vốn nhận ủy thác từ các tổ chức cá nhân trong và ngoài
nước theo quy định của pháp luật, vốn vay (nếu có) và vốn khác theo quy định của pháp luật.
2.2.1.2. Tổ chức hoạt động của Ban đầu tư tài chính
Ban đầu tư là ban phụ thuộc, trực thuộc Tổng Công ty. Bộ máy nhân sự của Ban Đầu tư gồm có 1
Giám đốc và 5 nhân viên được phân công vào hai phòng chuyên môn : Phòng quản lý dự án ngắn hạn và
phòng quản lý dự án dài hạn. Đội ngũ cán bộ của ban đầu tư phần lớn là cán bộ trẻ, năng động và có trình độ
học vấn. Về cơ sở vật chất, BIC đã ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động ở cập độ toàn công ty nói
chung và ban đầu tư nói riêng khá sớm.
2.2.1.3. Quy trình thực hiện hoạt động đầu tư
Lãnh đạo tổng công ty
Cán bộ nghiệp vụ
Cán bộ nghiệp vụ
Thu thập thông tin
Đánh giá thẩm đị nh
Xem xét
Cho ý kiến đánh giá
Xét duyệt
Xét duyệt
Thực hiện, theo dõi, đánh giá
Thanh lý thanh toán
14
2.2.2. Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính tại Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2.2.2.1. Nguồn hình thành vốn đầu tư
Qua số liệu trên báo cáo tài chính của BIC từ năm 2008 đến năm 2011 ta có bảng 2.6 về nguồn hình
thành vốn đầu tư của BIC trong 4 năm cụ thể như sau:
Bảng 2.6 Nguồn hình thành vốn đầu tƣ của BIC
Chỉ tiêu
9.8
11.6
11.3
19
7. Tỷ trọng nguồn khác trong tổng vốn đầu tư (%)
62.8
54.3
58.3
33.3
8.Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đầu tư (%)
-
(5.8)
46.9
(29.7)
(Nguồn báo cáo tài chính của BIC từ 2008-2011)
a/Nguồn vốn chủ sở hữu
Hiện nay, nguồn vốn chủ sở hữu đang chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của BIC.
Do điều kiện cạnh tranh của thị trường đòi hỏi việc tăng vốn điều lệ qua các năm làm tăng nguồn vốn chủ sở
hữu. Tốc độ tăng vốn chủ sở hữu bình quân qua các năm tại BIC đạt khoảng 18%. Riêng tốc độ tăng vốn chủ
sở hữu của năm 2010 so với 2009 là lớn nhất đạt 31% do năm 2010 là năm mà BIC cổ phần hóa thành công và
nâng cao vốn chủ sở hữu của mình.Tại 31/12/2011, tổng vốn chủ sở hữu đạt 749.898 tỷ đồng, chiếm tới 47.7%
tổng vốn đầu tư.
b/ Dự phòng nghiệp vụ
Quỹ quỹ dự phòng nghiệp vụ được trích lập nhằm chi trả cho những trách nhiệm sẽ phát sinh trong
tương lại từ các hợp đồng bảo hiểm đã ký kết. Với kết quả kinh doanh bảo hiểm đáng ghi nhận với tỷ lệ tăng
trưởng doanh thu phí bình quân của BIC 30%. Vì vậy, quỹ quỹ dự phòng nghiệp vụ của BIC tăng nhanh
chóng đạt gần 1048 tỷ đồng vào năm 2011.
Các Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hiện nay bắt buộc phải trích lập 03 quỹ quỹ dự phòng nghiệp
vụ là dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng bồi thường và dự phòng dao động lớn. Tình hình trích lập chi tiết
của các loại dự phòng như sau:
39.98
58.167
32.84
64.586
25.59
67.332
22.59
DP dao
động lớn
9.953
6.27
18.993
10.72
28.534
11.30
40.641
13.63
Tổng
DPNV
158.812
100
177.138
100
252.42
100
298.101
100
(Nguồn: Báo cáo tài chính BIC)
15
1,572.821
3. Tốc độ tăng của giá trị đầu tư trở lại (%)
-
21.9
33.9
(25.9)
4. Tỷ lệ giá trị ĐT trở lại/Tổng NVĐT (%)
77.3
93.4
91.2
90.4
(Nguồn: Báo cáo tài chính của BIC)
Số liệu bảng 2.8 cho thấy, giá trị đầu tư trở lại nền kinh tế của doanh nghiệp tăng, giảm không đều qua
các năm, tuy nhiên giá trị này có xu hướng tăng lên. Bảng 2.8 cũng cho thấy nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh
tế của BIC đạt cao nhất là 93%. Đây là một tỷ lệ khá cao đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
b. Cơ cấu đầu tư
Chúng ta thấy danh mục đầu tư tại BIC được phân bổ đa dạng vào các hình thức quy định, mỗi hình
thức chiếm tỷ trọng đáng kể theo bảng 2.9.
Xét về cơ cấu danh mục đầu tư theo loại hình tài sản
Trong những năm gần đây BIC tập trung vào hình thức gửi tiền ngân hàng và mua trái phiếu chính
phủ. Hai hình thức đầu tư gián tiếp này có độ rủi ro thấp vì tính thanh khoản cao đáp ứng kịp thời nhu cầu
chi trả thường xuyên của doanh nghiệp bảo hiểm. Tỷ lệ gửi tiền tại ngân hàng của BIC đạt từ 67% - 83% qua
các năm, bên cạnh hình thức gửi ngân hàng, BIC còn tập trung vào mua trái phiếu cả chính phủ và của các
công ty có uy tín. So với tiền gửi ngân hàng thì trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty có lãi suất cao hơn,
độ thanh khoản đang dần được cải thiện nhờ sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Qua 4 năm
2008 - 2011, ta thấy tỷ lệ đầu tư vào cả 2 loại trái phiếu chiếm bình quân khoảng 10% tổng số tiền đầu tư.
Đây là một tỷ lệ khá an toàn đối với BIC. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay tính thanh khoản của trái phiếu
chính phủ còn thấp. Đối với các doanh nghiệp mua trái phiếu chủ yếu để giải quyết tình trạng ứ đọng vốn
hoặc đầu tư dài hạn. Do thị trường tiền tệ Việt Nam chưa phát triển nên việc mua bán trái phiếu chính phủ và
trái phiếu công ty đem lại hiệu quả chưa cao. Cho vay và uỷ thác đầu tư cũng được BIC lựa chọn tuy với tỷ
ngắn hạn vẫn chiếm ưu thế với tỷ trọng bình quân đạt xấp xỉ 90% và có xu hướng tăng lên. Trong khi đó tỷ
trọng đầu tư tài chính trung và dài hạn lại có xu hướng giảm đi. Điều này cho ta thấy khả năng đầu tư của
BIC còn chưa có kinh nghiệm nên chỉ tập trung vào việc đầu tư ngắn hạn nhằm đảm bảo tính thanh khoản,
đồng nghĩa với nó là tỷ suất sinh lời sẽ thấp hơn các hình thức đầu tư dài hạn.
Tóm lại, qua việc phân tích danh mục đầu tư của BIC, chúng ta thấy đây là một danh mục có phạm
vi khá rộng, đáp ứng được các hình thức đầu tư mà Bộ tài chính quy định. Tuy nhiên, việc phân bổ vốn đầu
tư của các doanh nghiệp còn quá tập trung vào hình thức gửi tiền ngân hàng và trái phiếu chính phủ còn rất
dè dặt trong đầu tư cổ phiếu. Điều này đòi hỏi cả về phía BIC cũng như chính phủ phải có chính sách phù
hợp để nâng cao hiệu quả đầu tư vốn nhàn rỗi. 17
Bảng 2.9. Bảng cơ cấu danh mục đầu tƣ của BIC
Đơn vị : Tỷ đồng
TT
Nội dung
31/12/2009
31/12/2010
31/12/2011
Giá trị (VND)
Tỷ
trọng
Giá trị (VND)
Tỷ
trọng
Giá trị
(VND)
Tỷ trọng
I
80.12%
5
Tiền gửi USD 7.733
0.23%
39.573
2.78%
6
Trái phiếu công ty ngắn hạn 62.625
3.07%
69.790
4.91%
7
Dự phòng giảm giá chứng
khoán (11.826)
-0.58%
(22.353)
-1.57%
II
Đầu tƣ dài hạn
226.838
15.93%
3.52%
Tổng cộng danh mục
1,424.106
100%
2,040.906
100%
1,422.214
100%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của BIC ) 2.2.2.3. Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính tại BIC
Để đánh giá về hiệu quả đầu tư của BIC luận văn xem xét sự đóng góp của hoạt động đầu tư vào
tổng lợi nhuận và đánh giá hiệu suất sinh lời của đồng vốn đầu tư.
Qua bảng số liệu 2.10 cho thấy, trong những năm gần đây lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đóng vai
trò quan trọng và chiếm tối ưu trong tổng lợi nhuận của BIC. Năm 2008 là năm hoạt động thua lỗ của BIC
trong tất cả các hoạt động từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm đến hoạt động đầu tư tài chính. Đến năm
2009, lợi nhuận hoạt động kinh doanh bảo hiểm bị thua lỗ và lợi nhuận của toàn công ty là do đầu tư tài
chính. Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính so với tổng lợi nhuận tăng đều qua các năm, đạt
đỉnh điểm vào năm 2011 là 1,52 lần. Qua đó chúng ta thấy vai trò tuyệt đối của hoạt động đầu tư đối với
sự phát triển của doanh nghiệp, đầu tư tài chính là nguồn chính tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp giúp
doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính của mình, đây cũng là xu hướng chung của các doanh nghiệp
bảo hiểm hiện nay. Có thể nói hoạt động đầu tư đã mang lại nguồn lợi lớn cho doanh nghiệp bảo hiểm
góp phần nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, trong một số trường hợp còn bù đắp
những tổn thất thuộc trách nhiệm của bảo hiểm xảy ra tạo điều kiện cho doanh nghiệp bảo hiểm tăng năng
lực ký kết hợp đồng và giảm phí bảo hiểm. Điều này đòi hỏi BIC phải sử dụng nguồn vốn đầu tư hiệu quả
hơn nữa để tồn tại và phát triển trong điều kiện thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Qua việc phân
tích kết quả của hoạt động đầu tư tài chính tại BIC, chúng ta thấy nó đóng góp vai trò lớn trong việc tạo
nên nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Lợi nhuận thuần từ hoạt
động kinh doanh bảo hiểm
(37.782
) (5.807)
-7.20
(7.055)
-22.36
(52.020
)
-51.75
2
Lợi nhuận hoạt động đầu tư
tài chính
(39.300
)
-
89.678
111.15
37.215
117.96
(6.715)
-21.28
2.565
2.55 liên kết
3
Lợi nhuận thuần từ hoạt
động khác
0.203 (3.191)
-3.96
1.389
4.40
(0.103)
-0.10
4
Tổng lợi nhuận trƣớc thuế
(4=1+2+3)
(76.879
I
Số liệu của BIC
1
Lợi nhuận hoạt động đầu tư tài chính
39.300
89.678
37.215
152.644
2
Vốn đầu tư bình quân
500.000
500.000
580.000
660.000
Số đầu năm
500.000
500.000
500.000
660.000
Số cuối năm
500.000
500.000
660.000
660.000
Số cuối năm
1,746.107
1,813.015
2,501.042
1,870.011
5
Tỷ suất lợi nhuận đầu tư = (1)/(2)
7.86%
17.94%
6.42%
23.13%
6
Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH = (1)/(3)
8.16%
18.64%
6.21%
21.35%
7
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản = (1)/(4)
3.19%
5.04%
1.73%
6.98%
8
Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận
-
128.19%
-58.50%
310.17%
(Nguồn: Báo cáo tài chính BIC 2008-2011,Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2008-2011 và số liệu từ Cục QL và
GS bảo hiểm - BTC và Tổng cục thống kê)
Năm 2009, Chính phủ đã thực hiện hàng loạt giải pháp kích cầu nhằm khôi phục lại nền kinh tế.
Với sự phục hồi của thị trường chứng khoán thì năm 2009 là một năm thành công của BIC trong hoạt
động đầu tư tài chính. Lợi nhuận hoạt động đầu tư tài chính đạt 89.678 tỷ đồng, tăng 128.19% so với năm
2008. Tỷ suất lợi nhuận đầu tư đạt 17.94% trong khi số liệu trung bình của các doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ chỉ đạt 8.05% và tỷ lệ lạm phát là 6.52%. Đây là năm mà các doanh nghiệp bảo hiểm đều hoạt
động đầu tư tài chính hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận đầu tư thuần (đã tính yếu tố lạm phát) đều dương và BIC đã
đạt hiệu quả rất cao. Năm 2010, thị trường chứng khoán Việt Nam tương đối ảm đạm, ảnh hưởng tới hiệu
quả của hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và BIC nói riêng. Mặc dù,
doanh thu từ hoạt động tài chính đạt 251.93 tỷ đồng tăng 78% so với năm 2009 nhưng lợi nhuận chỉ đạt
37.215 tỷ giảm 58.5% so với năm 2009. Bên cạnh các yếu tố bất lợi về thị trường thì việc BIC cổ phần hóa
và thực hiện bàn giao doanh nghiệp vào tháng 10/2010 cũng ảnh hưởng đáng kể tới lợi nhuận từ đầu tư tài chính do việc hạch toán, tính toán lại giá trị các khoản đầu tư khi xác định giá trị doanh nghiệp. Do những
yếu tố đó tỷ suất lợi nhuận đầu tư năm 2010 của BIC giảm xuống 6.42% thấp hơn số liệu trung bình của các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 7.25%, đây là năm mà hoạt đồng đầu tư tài chính của BIC đạt hiệu quả
thấp. Năm 2011 là năm đầu tiên BIC hoạt động với mô hình Tổng Công ty Cổ phần. Trong bối cảnh nền
kinh tế có nhiều khó khăn và thách thức, việc trở thành Công ty đại chúng, đặc biệt là sau sự kiện niêm yết
cổ phiếu trên sàn Chứng khoán tập trung từ ngày 6/9/2011 với các yêu cầu minh bạch, công khai mọi thông
tin hoạt động, bảo đảm tối đa quyền lợi cổ đông thông qua việc nâng cao hiệu quả kinh doanh và giữ được
giá cổ phiếu là áp lực lớn, buộc BIC phải thay đổi chính sách kinh doanh một cách mạnh mẽ. Nhờ sự linh
hoạt và nhạy bén trong việc nắm bắt tình hình thị trường, đặc biệt là xu hướng lãi suất tiền gửi tăng cao
trong năm 2011, hoạt động đầu tư và dịch vụ tài chính của BIC đã thu được thành công ngoài dự kiến. Lợi
nhuận từ hoạt động đầu tư và dịch vụ tài chính đạt 152.644 tỷ đồng, hoàn thành 158% kế hoạch cả năm,
tăng gấp 3 lần so với năm 2010. Mức lợi nhuận này cũng được đóng góp đáng kể từ các nguồn cổ tức của
các khoản đầu tư dài hạn và cơ cấu lại các khoản đầu tư dài hạn. Nhờ đấy tỷ suất lợi nhuận năm 2011 đạt
mức cao nhất từ trước đến nay 23.13%. Tuy nhiên năm 2011 tỷ lệ lạm phát tương đối cao 18.13% nên tỷ
suất lợi nhuận đầu tư thuần chỉ đạt 5%. Đây là một tỷ lệ không cao, điều này đòi hỏi BIC phải nỗ lực hơn
nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn và sinh lợi với chủ trương đúng đắn tập trung vốn về Tổng công ty để
đầu tư, tránh đầu tư manh mún và dễ dàng hơn cho công tác kiểm tra, kiểm soát đối với nguồn vốn các
công ty thành viên; để tăng cường hiệu quả hoạt động đầu tư BIC chuyển dần từ dự trữ phương tiện thanh
toán sang đầu tư sinh lời. 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của BIC, bên cạnh những kết quả đạt
được BIC cần khắc phục những hạn chế sau:
Thứ nhất, danh mục đầu tư của BIC khá rộng tương đương như danh mục đầu tư ở các nước. Tuy
nhiên, cơ cấu danh mục đầu tư chưa hợp lý quá tập trung vào hình thức tiền gửi ngân hàng và các hình
thức đầu tư ngắn hạn, đầu tư chứng khoán còn ít. Với cơ cấu đầu tư không hợp lý này đã phần nào làm
giảm hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp BIC.
Thứ hai, cơ cấu đầu tư theo thời gian của BIC chủ yếu tập trung vào đầu tư ngắn hạn nhằm đảm
bảo tính an toàn và khả năng thanh toán.
Thứ ba, tỷ suất lợi nhuận đầu tư thực tế đạt kết quả âm cho thấy việc xác định hình thức đầu tư
chưa phù hợp, bên cạnh đó BIC cũng chưa đánh giá được thực tế lạm phát của thị trường để có phương án
đối phó.
Bên cạnh những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả đầu tư kể trên thì một nguyên nhân chủ
quan quan trọng nữa, đó là BIC cung chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của hoạt động đầu tư mà
mới chỉ chú trọng khi thác và mở rộng thị trường bảo hiểm. Như vậy, tuy là một doanh nghiệp bảo hiểm
được thành lập mới và có ưu thế là công ty bảo hiểm của tập đoàn tài chính lớn là BIDV nhưng có thể nói
cơ cấu danh mục chưa phù hợp, hiệu quả đầu tư chưa có thì hoạt động đầu tư chưa thực sự là một hoạt
động quan trọng đóng vai trò chiến lược đối với một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ như BIC.
Trong Chương 2, chúng ta đã phân tích thực trạng hoạt động đầu tư của BIC trên các mặt huy
động và sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư. Trên cơ sở phân tích đó, chương 3 sẽ đưa ra những giải
pháp cụ thể nhằm phát triển hoạt động đầu tư tài chính của BIC.
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của BIC
Bên cạnh việc phát triển quy mô, BIC cũng cần nâng cao nâng cao chất lượng của hoạt động đầu
tư một cách nghiêm túc. Những vấn đề chính cần thực hiện:
- Xác định cơ cấu danh mục đầu tư hợp lý trên cơ sở giới hạn quy định của Luật kinh doanh bảo
hiểm và Chiến lược phát triển của công ty trong từng thời kỳ nhằm gia tăng mức sinh lợi và đảm bảo an
toàn trong hoạt động. Trong giai đoạn trước mắt, cơ cấu đầu tư có thể tập trung nhiều vào các công cụ có
thu nhập cố định như trái phiếu, sau đó dần có sự điều chỉnh phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế để
đảm bảo có một cơ cấu đầu tư hợp lý giữa cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản và các lĩnh vực đầu tư khác. - Xây dựng quy trình phân tích đầu tư theo phương pháp từ trên xuống, từ phân tích vĩ mô nền
kinh tế đến phân tích ngành, phân tích doanh nghiệp. Phân tích rủi ro và ra quyết định đầu tư; theo dõi
đánh giá và quản lý sau đầu tư. Trong quy trình đầu tư cần đặc biệt lưu ý đến việc phân tích rủi ro vì đây
là vấn đề quan trọng khi xác định giá cả của các công cụ tài chính đầu tư và hạn chế, phòng ngừa các rủi
ro có thể phát sinh.
- Xây dựng bộ máy chuyên nghiệp trong quản lý đầu tư. Cán bộ quản lý đầu tư phải là chuyên gia
có kiến thức sâu về chứng khoán và đầu tư tài chính. Từng bước chuyển Ban đầu tư thành Công ty quản lý
đầu tư. Phạm vi của công ty này không chỉ thực hiện quản lý đầu tư từ chính nguồn vốn của BIC mà còn có
thể cung cấp dịch vụ quản lý cho các quỹ đầu tư chứng khoán khác. Ngoài ra cần nghiên cứu và xúc tiến
việc thành lập công ty quản lý tài sản.
Qua các vấn đề chính cần thực hiện trên chúng ta có thể đưa ra một số giải pháp cụ thể như: hoàn
thiện công tác tổ chức hoạt động đầu tư tài chính; hoàn thiện quy trình nghiệp vụ; tăng cường công tác
đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính; đa dạng hóa danh mục đầu tư và phát triển các hoạt động hỗ trợ cho
hoạt động đầu tư tài chính.
3.2.2.1. Hoàn thiện công tác tổ chức hoạt động đầu tư tài chính
Về mặt cơ cấu tổ chức thì BIC cần áp dụng cơ chế quản lý phù hợp với hoạt động đầu tư. Về mặt
nhân sự, đầu tư tài chính là hoạt động đòi hỏi tính chuyên nghiệp và kiến thức cao. Do vậy chất lượng
quản lý và điều hành hoạt động đầu tư của BIC phụ thuộc phần lớn vào trình độ chuyên môn của các cán
Hiện nay BIC có tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư qua các chỉ tiêu nhưng chất lượng
hoạt động này còn thấp, sử dụng các chỉ tiêu không đầy đủ hoặc nếu có sử dụng cũng chỉ ở mức độ hình
thức, chưa thực sự coi trọng các chỉ tiêu. Hệ thống đánh giá chỉ tiêu hiệu quả đầu tư có một vai trò to lớn
trong hoạt động đầu tư, nó vừa là cơ sở vừa là thước đo chất lượng quản lý và điều hành hoạt động đầu tư
của một doanh nghiệp. Vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu thực hiện hoạt động đầu tư có hiệu quả, BIC cần
sử dụng hệ thống các nhóm chỉ tiêu khi phân tích đánh giá hiệu quả của mình như:
- Chỉ tiêu đánh giá về quản lý
+ Mức độ tăng trưởng của hoạt động đầu tư
+ Mức độ uy tín của BIC trên thị trường
- Chỉ tiêu về an toàn và đảm bảo các quy định
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
+ Tỷ lệ vốn đầu tư trong tổng giá trị quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
+ Vốn điều lệ thực tế so với mức trong giấy phép.
+ Giá trị vốn đầu tư 10 khách hàng lớn nhất so với tổng giá trị đầu tư.
+ Khả năng thanh toán.
- Chỉ tiêu về chất lượng đầu tư.
+ Tổng vốn đầu tư trên tổng nguồn vốn được dành cho đầu tư.
+ Tổng doanh thu trên tổng giá trị đầu tư.
+ Giá trị đầu tư không thu hồi được trên tổng giá trị đầu tư.
+ Tỷ trọng đầu tư trung và dài hạn.
+ Số vốn đầu tư trung bình do 1 nhân viên quản lý
- Hiệu suất đầu tư trên tổng tài sản cố định.
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư:
+ Lợi nhuận ròng thu được từ hoạt động đầu tư trên tổng tài sản có
+ Lợi nhuận ròng thu được từ hoạt động đầu tư trên vốn tự có.
Để hệ thống chỉ tiêu đánh giá trên hoạt động một cách hiệu quả và chính xác thì yêu cầu đầu tiên
đặt ra là số liệu phải đầy đủ và chính xác Vì vậy, cần phải hoàn thiện hơn nữa công tác hạch toán kế toán
theo hướng gọn nhẹ nhưng chính xác, kịp thời. Nên ứng dụng công nghệ thông tin tập trung trong lĩnh
vực kế toán, đào tạo đội ngũ nhân viên kế toán theo hướng tiếp cận với hệ thống các phần mềm kế toán
cần căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể để lựa chọn cơ cấu danh
mục hợp lý, có hiệu quả. Đối với nguồn vốn chủ sở hữu có thể ưu tiên lựa chọn các hình thức đầu tư dài
hạn, có mức độ mạo hiểm cao hơn để tìm lợi nhuận cao. Đối với nguồn vốn đầu tư từ quỹ dự phòng
nghiệp vụ do đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường có thời hạn ngắn, vì thế hướng ưu
tiên là thực hiện các hoạt động đầu tư ngắn hạn trong một cơ cấu hợp lý so với đầu tư dài hạn.
3.2.2.5. Phát triển các hoạt động hỗ trợ cho hoạt động đầu tư tài chính
Hoạt động đầu tư tài chính muốn có hiệu quả không chỉ cần đến sự phân tích đánh giá đầu tư
chính xác mà còn phải có sự phối hợp giữa các hoạt động hỗ trợ. Những hoạt động hỗ trợ đầu tư chủ yếu