Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở việt nam thực trạng và giải pháp phát triển - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY BẢO
HIỂM Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN


Họ và tên sinh viên : PHẠM THỊ HẠNH
Lớp : TRUNG 1
Khoá : K41E - KTNT
Giáo viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HOA
Hà Nội, 11/2006
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
1
LỜI NÓI ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Trong lịch sử kinh tế thế giới, bảo hiểm là một ngành đã hình thành từ
lâu đời và phát triển mạnh mẽ. Hoạt động bảo hiểm thâm nhập vào mọi lĩnh
vực và có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, công ty bảo hiểm là một tổ chức
trung gian tài chính lớn, có chức năng huy động các nguồn vốn và cung ứng
vốn trung, dài hạn cho đầu tƣ phát triển. Ngành kinh doanh bảo hiểm đóng
góp 5% đến 10% GDP của các nƣớc đó.
1


Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa
luận đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về công ty bảo hiểm và hoạt động đầu tƣ tài
chính của công ty bảo hiểm.
Chương 2. Thực trạng hoạt động đầu tƣ tài chính của các công ty bảo hiểm ở
Việt Nam.
Chương 3. Một số giải pháp phát triển hoạt động đầu tƣ tài chính của các
công ty bảo hiểm ở Việt Nam.
Do đây là hoạt động khá mới mẻ đối với các công ty bảo hiểm ở Việt
Nam nên số liệu thống kê chƣa thật đầy đủ. Hơn nữa do những hạn chế về
kiến thức nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận đƣợc những ý kiến chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô và các bạn để hoàn
thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng,
đặc biệt là cô giáo TS. Nguyễn Thị Việt Hoa đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, tháng 11/2006.
Phạm Thị Hạnh
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
3
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY BẢO
HIỂM VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
BẢO HIỂM

I. Công ty bảo hiểm.
1.Khái niệm.
Bảo hiểm ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ bản thân và tài sản của
con ngƣời trƣớc những bất hạnh của số phận. Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn
gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời nhƣng do tính đặc thù của loại hình này,

hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm.”
2

Bảo hiểm gồm bảo hiểm thƣơng mại và bảo hiểm xã hội. Nhƣ đã trình bày,
trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp này, em chỉ xin đề cập đến
bảo hiểm thƣơng mại.
Theo dòng lịch sử, bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lƣu lại đƣợc phát
hành tại thành phố cảng Genoa-Italia năm 1347. Bảo hiểm hàng hải là loại
bảo hiểm có lịch sử lâu đời nhất, nó ra đời đầu tiên và đánh dấu sự ra đời của
bảo hiểm. Ngày nay, bảo hiểm đã phát triển nhanh và trở thành một ngành
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế với tƣ cách là một trung gian tài
chính, một nhà đầu tƣ tiềm năng lớn, đảm bảo an toàn cho nền kinh tế vận
hành ổn định và phát triển bền vững.
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam ban hành ngày 9/12/2000 :
“Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt
động theo quy định của Luật này (Luật kinh doanh bảo hiểm) và các quy định
khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.”
Các quy định khác của pháp luật mà Luật kinh doanh bảo hiểm muốn nói đến
ở đây chính là Luật Doanh nghiệp và các văn bản dƣới Luật có liên quan khác.
2.Đặc điểm của công ty bảo hiểm 2
PGS.TS Hoàng Văn Châu, PGS.TS Nguyễn Nhƣ Tiến, TS Vũ Sĩ Tuấn (2002), Bảo hiểm trong kinh doanh.
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
5
Công ty bảo hiểm là một loại doanh nghiệp đặc biệt. Ngoài những đặc
điểm của một doanh nghiệp kinh doanh thông thƣờng, công ty bảo hiểm mang
những đặc điểm riêng biệt do tính đặc thù của sản phẩm bảo hiểm.

+ Một phần giữ lại công ty bảo hiểm, căn cứ vào mức giữ lại đối với từng
hợp đồng bảo hiểm.
+ Một phần đƣợc chuyển tái bảo hiểm theo những hợp đồng tái bảo hiểm
cố định hoặc tạm thời. Một công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm hàng ngàn dịch
vụ khác nhau, mỗi dịch vụ chỉ đƣợc giữ một tỷ lệ phí ở mức giữ lại thích hợp
nhằm đảm bảo khả năng thanh toán. Phần còn lại đƣợc chuyển tái bảo hiểm
cho các công ty bảo hiểm khác nhằm chia sẻ rủi ro và đảm bảo an toàn tài
chính. Khi chuyển tái bảo hiểm, các công ty bảo hiểm gốc sẽ nhận đƣợc hoa
hồng nhƣợng tái bảo hiểm.
+ Một phần đƣợc dùng để thanh toán hoa hồng cho môi giới bảo hiểm hoặc
chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất.
+ Một phần đƣợc sử dụng để thanh toán những chi phí hoạt động kinh
doanh của công ty bảo hiểm.
Sau khi trừ đi tất cả những khoản chi phí, các khoản còn lại đƣợc trích lập
những quỹ dự phòng nghiệp vụ. Những quỹ này đƣợc sử dụng để thực hiện
trách nhiệm thanh toán cho khách hàng. Phí bảo hiểm là một khoản phải trả
cho khách hàng.
- Thứ hai, hoạt động kinh doanh bảo hiểm chỉ là cách thức huy động
nguồn vốn đầu tƣ cho công ty bảo hiểm còn hoạt động then chốt, mang ý
nghĩa sống còn đối với công ty bảo hiểm chính là hoạt động đầu tƣ.
Theo các cam kết của hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải thực hiện
các nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng. Đặc biệt đối với bảo hiểm nhân thọ,
tổng số phí bảo hiểm đóng trong thời hạn bảo hiểm bao giờ cũng nhỏ hơn số
tiền bảo hiểm. Vì thế công ty bảo hiểm phải tiến hành các hoạt động đầu tƣ thì
mới có thể thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng và duy trì hoạt
động của mình.
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
7
- Thứ ba, công ty bảo hiểm thực hiện những hoạt động đặc trƣng của

tế và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Công ty bảo hiểm chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi
quốc gia. Ngƣời ta có thể nói rằng : “ Tỷ lệ bảo hiểm trong nền kinh tế là
thƣớc đo mức độ phát triển của nền kinh tế đó”. Trên khía cạnh kinh tế, các
công ty bảo hiểm có vai trò đảm bảo an toàn cho các khoản đầu tƣ. Có thể nói
không có các công ty bảo hiểm thì không thể có những tòa nhà cao tầng,
những dàn khoan hàng tỷ đôla ngoài biển khơi vì không nhà đầu tƣ nào dám
đầu tƣ những khoản tiền khổng lồ nhƣ thế nếu không có sự đảm bảo của các
công ty bảo hiểm. Trên khía cạnh xã hội, các công ty bảo hiểm đảm tạo công
ăn việc làm cho một lực lƣợng lớn ngƣời lao động; bảo đảm sự an toàn về thu
nhập và gia sản cho các cá nhân, gia đình, doanh nghiệp góp phần ổn định
xã hội.
2.5.Hoạt động của công ty bảo hiểm được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ.
Hoạt động của công ty bảo hiểm có ảnh hƣởng lớn tới sự hoạt động và
phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Vì thế, Nhà nƣớc phải kiểm soát chặt chẽ
nhằm 3 mục tiêu:
Thứ nhất là để bảo vệ quyền lợi của ngƣời tham gia bảo hiểm. Sự
quản lý của nhà nƣớc đảm bảo cho công ty bảo hiểm bảo toàn đƣợc nguồn
vốn đầu tƣ, tránh thất thoát vốn, đảm bảo cho các công ty bảo hiểm có thể
thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngƣời tham gia bảo hiểm, mục đích
cuối cùng cũng là để bảo vệ quyền lợi của ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Thứ hai, Nhà nƣớc quản lý hoạt động của các công ty bảo hiểm là để
định hƣớng sự lƣu chuyển của các quỹ đầu tƣ. Quỹ đầu tƣ của các công ty bảo
hiểm rất lớn và luân chuyển theo nguyên tắc từ lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận
đầu tƣ thấp sang lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận đầu tƣ cao. Việc luân chuyển
này có thể ảnh hƣởng tới cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế. Nhà nƣớc cần can
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
9
thiệp để điều chỉnh hoạt động của các quỹ đầu tƣ này, đảm bảo cân đối đầu tƣ

3

- Công ty bảo hiểm liên doanh đƣợc thành lập trên cơ sở góp vốn của
các doanh nghiệp (trong nƣớc và nƣớc ngoài). Vị trí của các bên phụ thuộc
mức vốn góp. Các thành viên trong doanh nghiệp hƣởng lợi nhuận cũng nhƣ
chịu thua lỗ trên cơ sở tƣơng ứng mức vốn góp.
- Công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài do nƣớc ngoài đầu tƣ, hoạt
động tại nƣớc sở tại theo pháp luật của nƣớc sở tại, đồng thời chịu sự chỉ đạo
của công ty mẹ ở chính quốc.
3.2.Theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Đây là tiêu thức phân loại chủ yếu đối với các công ty bảo hiểm hiện nay.
Các công ty bảo hiểm ở Việt Nam đƣợc đề cập đến trong khóa luận cũng đã
đƣợc phân loại theo tiêu chí này. Cụ thể có 3 loại hình là:
- Công ty bảo hiểm gốc.
Các công ty bảo hiểm gốc là công ty bảo hiểm cung cấp những dịch vụ bảo
hiểm trực tiếp cho khách hàng. Công ty bảo hiểm gốc gồm công ty bảo hiểm
nhân thọ và phi nhân thọ.
+ Công ty bảo hiểm nhân thọ thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm nhân
thọ. Đặc trƣng của bảo hiểm nhân thọ là ngoài đặc tính của bảo hiểm sinh
mạng còn mang tính chất tiết kiệm.
Các nghiệp vụ cơ bản của công ty bảo hiểm nhân thọ là: bảo hiểm trọn đời,
bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định
kỳ.
+ Công ty bảo hiểm phi nhân thọ thực hiện những nghiệp vụ bảo
hiểm liên quan đến tài sản, trách nhiệm và tính mạng của ngƣời tham gia bảo
hiểm. Bảo hiểm phi nhân thọ không mang tính tiết kiệm. Ngƣời tham gia bảo
hiểm khi hết hạn hợp đồng bảo hiểm sẽ không đƣợc hoàn trả lại số phí bảo 3

Công ty môi giới bảo hiểm đóng vai trò trung gian đại diện cho khách
hàng tham gia bảo hiểm. Thu nhập chính là phí môi giới bảo hiểm, đƣợc tính
theo tỷ lệ % trên tổng số phí bảo hiểm.
4.Các hoạt động của công ty bảo hiểm. 4
Luật kinh doanh bảo hiểm ban hành 9/12/2000, Điều 3, Khoản 2.
5
Luật kinh doanh bảo hiểm ban hành 9/12/2000, Điều 3, Khoản 4.
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
12
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam thì các công ty bảo hiểm ở
Việt Nam đƣợc phép hoạt động trong khuôn khổ các nội dung sau:
- Kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
- Đề phòng, hạn chế rủi ro tổn thất.
- Giám định tổn thất.
- Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thƣờng, yêu cầu ngƣời thứ ba bồi
hoàn.
- Quản lý quỹ và đầu tƣ vốn.
- Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
II.Hoạt động đầu tƣ tài chính của công ty bảo hiểm.
1.Khái niệm.
Đầu tư và đầu tư tài chính.
Đầu tư theo nghĩa tổng quát là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến
hành những hoạt động nhằm mang lại những kết quả trong tương lai lớn hơn
nguồn lực đã bỏ ra.
Nguồn lực đã bỏ ra có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động,
trí tuệ … Những kết quả đạt đƣợc có thể là sự gia tăng thêm các tài sản tài

hưởng chênh lệch giá trong quá trình mua bán những tài sản tài chính trên
thị trường chứng khoán.
6

Trên thực tế, các công ty bảo hiểm sử dụng quỹ đầu tƣ để đầu tƣ vào
nhiều lĩnh vực nhƣ gửi tiền vào các tổ chức tín dụng, cho vay, đầu tƣ chứng
khoán, đầu tƣ bất động sản, góp vốn liên doanh. Nhƣng theo quan điểm về
đầu tƣ tài chính đã trình bày ở trên thì hoạt động góp vốn liên doanh không
đƣợc xếp trong nhóm các hoạt động đầu tƣ tài chính. Dƣới đây chỉ đi sâu
phân tích 4 hoạt động đầu tƣ tài chính nêu trên.
2.Vai trò của hoạt động đầu tƣ tài chính trong các công ty bảo hiểm. 6
Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân (2004), Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm, Nhà xuất bản Thống kê.
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
14
2.1.Đối với bản thân công ty bảo hiểm.
Đầu tƣ có tầm quan trọng sống còn đối với hoạt động kinh doanh của bất
kỳ công ty bảo hiểm nào. Công ty bảo hiểm không chỉ có nhiệm vụ quản lý
thu chi quỹ tài chính bảo hiểm mà còn phải phát triển quỹ tài chính này. Hoạt
động đầu tƣ có hiệu quả chính là phát triển quỹ tài chính của công ty bảo
hiểm. Nhìn chung hoạt động đầu tƣ của công ty bảo hiểm có những vai trò cơ
bản sau:
- Hoạt động đầu tƣ ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của
công ty bảo hiểm. Tỷ suất lợi nhuận đầu tƣ cao sẽ giúp công ty bảo hiểm có
điều kiện giảm phí bảo hiểm, giành khách hàng từ đối thủ cạnh tranh. Điều
này đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trƣờng bảo
hiểm hiện nay. Cạnh tranh thông qua phí bảo hiểm vẫn đƣợc coi là nhân tố

của công ty bảo hiểm, tăng cổ tức cho cổ đông, tăng quỹ khen thƣởng phúc
lợi và thu nhập cho ngƣời lao động.
- Ngoài ra hoạt động đầu tƣ còn có một số ý nghĩa khác đối với công
ty bảo hiểm. Thông qua các hoạt động đầu tƣ, công ty bảo hiểm có thể khuếch
trƣơng quảng cáo, tạo thêm khách hàng cho công ty.
2.2.Đối với xă hội.
Vai trò của hoạt động đầu tƣ của công ty bảo hiểm đƣợc thể hiện rõ nét
nhất thông qua việc huy động vốn cho nền kinh tế quốc dân. Bảo hiểm thực
chất là hoạt động dịch vụ tài chính và các công ty bảo hiểm thực chất là các tổ
chức trung gian tài chính. Cùng với hoạt động của các trung gian tài chính
khác nhƣ ngân hàng thƣơng mại, công ty chứng khoán,… các công ty bảo
hiểm đƣợc coi là một kênh cung cấp vốn quan trọng và có một số ƣu điểm so
với các trung gian tài chính khác nhƣ huy động đƣợc những khoản tiền nhỏ từ
dân chúng dƣới hình thức phí bảo hiểm. Là một trung gian tài chính, công ty
bảo hiểm thu hút, cung ứng vốn, góp phần đáp ứng những nhu cầu về vốn,
thúc đẩy sự luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
Ngoài ra hoạt động đầu tƣ của công ty bảo hiểm còn có tác động không nhỏ
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
16
đến sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, tạo việc làm
cho ngƣời lao động, góp phần ổn định xã hội, tăng thu cho ngân sách nhà
nƣớc, tăng tích lũy cho nền kinh tế quốc dân.
3.Nguồn vốn đầu tƣ của các công ty bảo hiểm.
Điều 11 Nghị định 43/2001/NĐ-CP ban hành ngày 1/8/2001 quy định
các nguồn vốn đầu tƣ của công ty bảo hiểm bao gồm: vốn điều lệ, quỹ dự trữ
bắt buộc và tự nguyện, các khoản lãi của những năm trƣớc chƣa sử dụng và
các quỹ đƣợc sử dụng để đầu tƣ hình thành từ lợi tức để lại của doanh nghiệp,
nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Cụ thể nhƣ sau:
3.1.Nguồn vốn chủ sở hữu.

nguyện nhằm tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Quỹ này đƣợc lấy
từ lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối và phải đƣợc ghi trong điều lệ hoạt động
của công ty.
3.3.Các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng.
Cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận sau thuế của công ty bảo hiểm đƣợc
phân phối cho các cổ đông dƣới hình thức cổ tức, trích lập các quỹ đầu tƣ
phát triển, quỹ khen thƣởng, quỹ phúc lợi. Phần còn lại chƣa sử dụng sẽ bổ
sung vào nguồn vốn đầu tƣ của công ty. Ngoài ra trong kinh doanh bảo hiểm
nhân thọ, công ty bảo hiểm còn có quỹ đầu tƣ hình thành từ lợi tức để lại, đảm
bảo cho những hợp đồng cam kết chia lãi.
3.4.Nguốn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
Dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích
lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã đƣợc xác
định trƣớc và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.
7

Các quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm đƣợc trích lập trên cơ sở phí bảo
hiểm thu đƣợc. Quỹ này đƣợc dùng để thanh toán cho những tổn thất đã xảy
ra và những tổn thất có thể sẽ xảy ra trong tƣơng lai. Ngoài những tổn thất có
thể tính toán đƣợc, công ty bảo hiểm phải tính đến những khoản chi trả lớn 7
Luật kinh doanh bảo hiểm ban hành 9/12/2000, Điều 96.
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
18
ngoài dự kiến không thể lƣờng trƣớc đƣợc. Công ty bảo hiểm phải trích lập
các quỹ dự phòng nghiệp vụ cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phần trách
nhiệm còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Cách thức trích lập quỹ bảo hiểm phụ

- Quỹ dự phòng chia lãi, đƣợc dùng để trả lãi mà công ty bảo hiểm đã
thỏa thuận với bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm.
- Quỹ dự phòng đảm bảo cân đối, đƣợc dùng để trả tiền bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm do có biến động lớn về tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật.
Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của một công ty
bảo hiểm là tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm trừ các khoản tiền mà công ty
bảo hiểm dùng để bồi thƣờng bảo hiểm thƣờng xuyên trong kỳ đối với bảo
hiểm phi nhân thọ, trả tiền bảo hiểm thƣờng xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm
nhân thọ.
Cũng theo quy định của Nghị định 43/2001/NĐ- CP, khoản tiền dùng để
bồi thƣờng bảo hiểm thƣờng xuyên trong kỳ của công ty bảo hiểm phi nhân
thọ không thấp hơn 25% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, còn khoản tiền
dùng để trả tiền bảo hiểm thƣờng xuyên của công ty bảo hiểm nhân thọ không
thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Nhƣ thế có nghĩa là nguồn
vốn nhàn rỗi có thể đem đầu tƣ của công ty bảo hiểm phi nhân thọ có thể lên
đến 75% quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và con số này ở công ty bảo hiểm
nhân thọ là 95%.
4.Các hình thức đầu tƣ tài chính của các công ty bảo hiểm.
4.1.Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng.
Đây là hình thức đầu tƣ ngắn hạn và đơn giản nhất. Công ty bảo hiểm
thực hiện việc ký thác nguồn ngân quỹ của mình vào các tổ chức tín dụng và
hƣởng lãi suất. Hình thức đầu tƣ tiền gửi này có một số đặc trƣng sau:
- Kỹ thuật tính toán rất đơn giản, công ty bảo hiểm có thể tính toán
tƣơng đối chính xác các khoản thu nhập trong tƣơng lai.
- Mức độ an toàn vốn cao. Nếu công ty bảo hiểm lựa chọn các ngân
hàng thƣơng mại có tiềm lực tài chính mạnh, uy tín thì tỷ lệ rủi ro là rất thấp.
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
20
Tất nhiên công ty bảo hiểm cũng không thể tránh khỏi những rủi ro có tính hệ

phi nhân thọ.
4.2.Cho vay có thế chấp
Hoạt động đầu tƣ thông qua cho vay có vai trò rất quan trọng đối với các
công ty bảo hiểm, đặc biệt là các công ty bảo hiểm nhân thọ. Sở dĩ nhƣ vậy là
do các lý do sau :
- Cho vay có tài sản thế chấp tuân thủ các tiêu chuẩn tài chính. Các
quỹ của công ty bảo hiểm chủ yếu đƣợc hình thành từ nguồn phí bảo hiểm của
ngƣời tham gia bảo hiểm. Vì vậy các khoản vay có đảm bảo là cách sử dụng
có hiệu quả nhất nguồn quỹ này vì nó đáp ứng đƣợc các yêu cầu cơ bản của
việc cho vay là tính an toàn, khả năng sinh lời và tính thanh khoản cao.
- Cho vay có tài sản thế chấp tạo thu nhập ổn định cho công ty bảo
hiểm, bởi vì lãi suất vay đã đƣợc thỏa thuận trƣớc. Ngƣời vay bắt buộc phải
trả lãi theo cam kết trong hợp đồng bất kể tình hình kinh doanh của họ tốt hay
xấu. Từ đó làm giảm rủi ro tín dụng cho công ty bảo hiểm.
- Cho vay có tài sản thế chấp tạo ra một kênh huy động vốn cho nền kinh
tế. Bằng hình thức đầu tƣ này, công ty bảo hiểm thực sự hoạt động nhƣ một
trung gian tài chính, đem đến cho công chúng một sự lựa chọn tài chính khác
bên cạnh các ngân hàng thƣơng mại và các trung gian tài chính khác.
- Cho vay có tài sản thế chấp góp phần khuyến khích việc tiêu thụ các
sản phẩm bảo hiểm. Những khoản vay kết hợp với các sản phẩm bảo hiểm sẽ
mở rộng các dịch vụ có thể cung cấp cho khách hàng. Nhằm mục đích khuyến
mại, các khoản vay sẽ rất có ích đối với việc phát triển hoạt động kinh doanh
bảo hiểm.
Hiện nay các khoản cho vay có thế chấp của các công ty bảo hiểm
thƣờng đƣợc đảm bảo bằng bất động sản. Ngoài ra, các khoản vay theo đơn
bảo hiểm ngày càng có xu hƣớng gia tăng, đặc biệt là trong bảo hiểm nhân thọ.
Đây cũng là một cách thu hút thêm khách hàng cho công ty bảo hiểm. Ở Mỹ,
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
22

giá mua vào của cổ phiếu. Tuy nhiên sự biến động về giá cổ phiếu là thất 8
Theo www.pvi.com.vn
9
Theo www.pvi.com.vn
10
Uỷ ban chứng khoán Nhà nƣớc - Trung tâm nghiên cứu và bồi dƣỡng nghiệp vụ chứng khoán - TS. Đào Lê Minh
chủ biên (2002), Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia.
Hoạt động đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển.
Phạm Thị Hạnh - Trung1 - K41E - KTNT
23
thƣờng, không theo bất cứ quy luật nào khiến cho đầu tƣ vào lĩnh vực này là
một trong những hoạt động đầu tƣ mạo hiểm nhất. Do vậy, đầu tƣ vào cổ
phiếu không phải là sự lựa chọn tối ƣu đối với việc sử dụng nguồn vốn của
các công ty bảo hiểm nhân thọ - những tổ chức đầu tƣ cần một tỷ suất lợi
nhuận chắc chắn. Trên thực tế, việc đầu tƣ của các công ty bảo hiểm vào loại
tài sản này luôn bị pháp luật khống chế bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định
trong tổng vốn đầu tƣ.
- Trái phiếu.
Trái phiếu là một loại chứng khoán đƣợc phát hành dƣới hình thức chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ trả nợ, gồm vốn gốc và lãi của tổ
chức phát hành trái phiếu đối với ngƣời sở hữu trái phiếu. Trái phiếu là một
công cụ nợ do Chính phủ hoặc các doanh nghiệp có uy tín phát hành. Vì vậy
việc thanh toán trái tức và vốn khi đáo hạn có sự đảm bảo tƣơng đối chắc
chắn hơn so với các loại hình cho vay khác. Trái phiếu Chính phủ là loại
chứng khoán có rủi ro thanh toán bằng không vì nó có nguồn đảm bảo khả
năng thanh toán lớn nhất là thuế và quyền lực phát hành. Trái phiếu công ty

- Đầu tƣ vào bất động sản phát huy tác động khuếch trƣơng, quảng cáo,
nâng cao hình ảnh của công ty bằng việc sở hữu những tòa nhà đẹp, to lớn và
chất lƣợng.
- Đầu tƣ vào bất động sản cũng giúp công ty bảo hiểm cung cấp địa
điểm làm việc thuận lợi cho khách hàng, từ đó thắt chặt quan hệ với khách
hàng.
Tuy nhiên bất động sản là lĩnh vực đầu tƣ nhiều mạo hiểm. Sự lên xuống
giá cả của thị trƣờng bất động sản rất thất thƣờng, phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố nhƣ sự phát triển của nền kinh tế, lãi suất, dân số, tâm lý… Giá cả bất động
sản biến động không theo bất cứ quy luật nào cho nên việc đầu tƣ vào bất
động sản có rủi ro thị trƣờng cao và tính thanh khoản thấp, khó chuyển đổi
hoặc mất nhiều thời gian chuyển đổi khoản đầu tƣ ra tiền mặt. Do đó các công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status