Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam là một nước đang phát triển và đang trên con đường Công nghiệp hóa
– Hiện đại hóa để đạt tới một nước công nghiệp ngang tầm với các nước trong khu vực
và trên thế giới. Với những mục tiêu đặt ra, việc chuyển hướng kinh doanh của các
ngân hàng thương mại, đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ để phát huy tối đa nội lực
và tận dụng tối đa nguồn vốn từ bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong chiến lược
phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Khi bước vào đổi mới nền kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định
nền kinh tế Việt Nam phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Do đó, chiến lược huy động vốn để phát triển nền kinh tế luôn đựợc xác định theo
phương châm khơi trong hút ngoài. Hiện nay, các tổ chức tín dụng luôn bám vào
phương châm đó để thực hiện chiến lược huy động vốn và đặc biệt chú trọng huy động
vốn từ các nguồn bên ngoài. Chính sách huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn có vai trò quan trọng trong việc lợi dụng vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm
quản lý để phát triển nền kinh tế.
Những năm gần đây, Nhà nước tập trung chiến lược phát triển kinh tế hướng
ngoại. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại luôn là một trong những định
hướng phát triển hàng đầu của quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước
trong đó phát triển ngọai thương được coi là trọng điểm. Các doanh nghiệp làm công
tác xuất nhập khẩu cần khối lượng vốn lớn, do đó bằng mọi hình thức phải tài trợ vốn
cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều nguồn, bên cạnh
nguồn vốn hỗ trợ chính thức ODA để xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thì nguồn
vốn tài trợ thương mại cũng có ý nghĩa quan trọng để giúp doanh nghiệp có đủ vốn
duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, Ngân hàng thương mại cổ
phần Ngoại thương Việt Nam –Vietcombank luôn tập trung vào phát triển hoạt động
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 1
Khóa luận tốt nghiệp
tài trợ thương mại quốc tế với nhiều sản phẩm dịch vụ ngày càng phong phú, đóng góp
- Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng học thuyết kinh tế - chính trị Mác - Lờnin,
cỏc lý thuyết kinh tế học hiện đại về tiền tệ - tín dụng và hiệu quả KT - XH, quán triệt tư tưởng
và quan niệm đổi mới kinh tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng, duy vật lịch sư; tiếp cận hệ thống và
phân tích hệ thống; dùng lý luận để đánh giá thực tiễn, ứng dụng lý luận và thực tiễn vào
khoa học quản lý kinh doanh; phương pháp so sánh và phân tích kết hợp với phương pháp
chọn mẫu và hệ thống hóa khoa học.
6. Bố cục của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 3
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NHTM:
1.1.1 Khái niệm về hoạt động tài trợ TMQT của NHTM
1.1.1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế
Tài trợ thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về tài
chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế tham gia
trong lĩnh vực thương mại quốc tế, trong các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ.
Nếu xét về hình thức tài trợ thương mại quốc tế được thực hiện dưới hai hình
thức là:
trường.
Tài trợ thương mại quốc tế góp phần phân phối lại vốn đầu tư, do đó góp phần
thúc đẩy sự bình quân hóa lợi nhuận xã hội. Trong quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hóa và dịch vụ, lợi nhuận đã tạo điều kiện thúc đẩy vốn ở những ngành kinh
doanh mà lợi nhuận tương đối thấp sang những ngành kinh doanh lợi nhuận thu được
cao hơn. Do vậy mà TTTM đã góp phần phân phối lại vốn, lợi nhuận bình quân trong
các ngành.
2. Tài trợ thương mại quốc tế là đòn bẩy mạnh mẽ để phát triển sản xuất và
tiêu thụ.
Thương mại là khâu cuối cùng và là một bộ phận của quy trình tái sản xuất xã
hội. Muốn có sản phẩm rẻ, chất lượng tốt, hiệu suất cao và phù hợp với thị hiếu tiêu
dùng , người ta phải chuẩn bị thật tốt nguyờn nhiờn vật liệu, sức lao động chất lượng
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 5
Khóa luận tốt nghiệp
cao đầu vào kết hợp với cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, tiên tiến và
một cơ chế quản lý sản xuất hợp lý.
Bản thân hoạt động kinh doanh thương mại cũng là một ngành công nghiệp tiêu
thụ. Nhu cầu tài trợ cho ngành công nghiệp tiêu thụ cũng không khác gì như cho
ngành công nghiệp sản xuất, nếu có khác chỉ là cơ cấu vốn tài trợ không như nhau.
Quy mô vốn lưu động cần tài trợ cho ngành công nghiệp tiêu thụ lớn hơn ngành công
nghiệp sản xuất, nhưng ngược lại, thời hạn tài trợ thì lại ngắn hơn. Điều đó chứng tỏ
rằng động thái và độ nhậy cảm của tài trợ cho ngành công nghiệp tiêu thụ lớn hơn,
năng động hơn ngành công nghiệp sản xuất. Hàng sản xuất ra mà không bán được là
điều tối kỵ trong quản lý, nếu hiện trạng đó bị kéo dài, liên tục thì tất nhiên sẽ dẫn đến
khủng hoảng. Cỏc Mỏc đó coi khâu lưu thông là bước nhẩy nguy hiểm của sản xuất,
nếu sản xuất không nhẩy qua được thì khủng hoảng sẽ bùng nổ. Với quan điểm này, ta
có thể coi hệ quả của tài trợ thương mại đôi khi lại có tính quyết định đến hệ quả của
ngành sản xuất. Một mặt khác, tài trợ thương mại còn góp phần đẩy nhanh tốc độ
chuyển hoá giá trị thặng dư thành vốn kinh doanh, gia tăng tốc độ tích tụ và tập trung
thì nhu cầu hoạt động thương mại quốc tế càng lớn bấy nhiêu, hay nói một cách khác,
tài trợ thương mại quốc tế như một chất keo gắn kết thị trường thương mại quốc gia
với thị trường thương mại quốc tế.
1.1.1.3. Khái niệm về tài trợ thương mại quốc tế của NHTM
- Đứng ở giác độ huy động vốn ngắn hạn và không kỳ hạn từ nền kinh tế quốc
dân, các trung gian tài chính có thể được chia thành hai loại tổ chức khác nhau: tổ
chức tín dụng (chủ yếu là NHTM) và tổ chức tài chính khác.
Trong tổng vốn huy động và tập trung vào trong tay các trung gian tài chính,
nguồn vốn ngắn hạn và không kỳ hạn chiếm phần lớn, cho nên khi đề cập đến người
tài trợ cho thương mại quốc tế người ta thường chỉ đề cập đến tổ chức tín dụng, mà
chủ yếu là ngân hàng. Ngoài ý nghĩa nguồn vốn ngắn hạn và không kỳ hạn có tỷ trọng
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 7
Khóa luận tốt nghiệp
lớn trong tổng nguồn vốn huy động và tập trung để tài trợ thương mại, còn cho thấy
đây là nguồn vốn năng động và nhậy cảm trong nền kinh tế quốc dân.
Thực tế cho thấy, nếu kinh tế phát triển thì nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
hình thành từ khấu quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ tiền lương và các loại quỹ tích
luỹ tái sản xuất mở rộng, quỹ dự phòng, quỹ thưởng, quỹ bảo hiểm xã hội…, đều tăng
lên, ngược lại thì giảm xuống. Chính vì lẽ đó, người ta coi thực trạng kinh doanh của
các tổ chức tín dụng như là “ chiếc phong vũ biểu” của nền kinh tế.
- Các tổ chức tín dụng thường gồm có : Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu
tư, Ngân hàng phát triển, các Công ty Factoring, Công ty Forfaiting, các Ngân hàng
chấp nhận ( accepting houses), các Công ty cho thuê tài chính, Ngân hàng nhà, Hợp
tác xã tín dụng Các tổ chức trung gian tài chính khác thường gồm có: Công ty tài
chính, Công ty bảo hiểm, Công ty chứng khoán, Nhà cầm đồ, Quỹ đầu tư Tổ chức
tín dụng chiếm đa số tuyệt đối trong các trung gian tài chính của một quốc gia. Tại các
nước kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, Anh, Đức , các ngân hàng thương mại chiến tỷ
trọng tới gần 70% các tổ chức trung gian tài chính, còn ở Việt Nam tỷ trọng này có
thể lên tới 90%. Điều đó chứng tỏ rằng, ngân hàng thương mại sẽ là người tài trợ chủ
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán mà trong đó theo yêu cầu của
khách hàng, một ngân hàng gọi là ngân hàng phát hành sẽ phát hành một bức thư, bức
thư này được gọi là L/C (Letter of credit – L/C), cam kết trả tiền hoặc chấp nhận trả
tiền cho bên thứ ba (người hưởng lợi) khi người này xuất trình cho ngân hàng phát
hành các chứng từ phù hợp với những điều kiện và điều khoản được quy định trong
L/C.
Như vậy, L/C thực chất là một cam kết bằng văn bản của một ngân hàng (ngân
hàng phát hành), được phát hành theo chỉ thị của người mua (người yêu cầu mở L/C)
cho người bán hưởng (người hưởng lợi L/C) và có thể được thanh toán theo phương
thức trả ngay (at sight) hoặc theo phương thức trả chậm (usance payment).
1.1.2.1.2 Các loại tín dụng chứng từ:
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 9
Khóa luận tốt nghiệp
Trong thương mại quốc tế việc mua bán trao đổi hàng hóa được thực hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau, việc mua bán có thể được thực hiện trực tiếp giữa người
bán và người mua, hoặc cũng có thể thông qua trung gian. Mỗi loại hình mua bán lại
chứa đựng những rủi ro riêng đối với người mua, người bán và ngân hàng tài trợ cho
cỏc bờn. Do đó, để phù hợp với từng loại hình mua bán người ta chia ra nhiều loại thư
tín dụng chứng từ khác nhau. Trong từng loại thư tín dụng thì quyền lợi và nghĩa vụ
của các chủ thể tham gia cũng khác nhau.
- Theo tính chất cú cỏc loại:
* Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C): Là loại L/C mà sau khi
nó được phát hành thì mọi việc liên quan đến sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thời
hạn hiệu lực L/C chỉ có thể tiến hành trên cơ sở thỏa thuận và được chấp nhận của các
bên có liên quan. Đây là một cam kết tài trợ ổn định, chắc chắn và không thể hủy bỏ.
Việc đơn phương tuyên bố hủy bỏ hay sửa đổi L/C là không có giá trị pháp lý. Loại
L/C này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý của NHPH với cam kết thanh toán
có điều kiện với người hưởng lợi. Do quyền lợi của người xuất khẩu theo loại L/C này
được đảm bảo hơn nên loại L/C này được sử dụng phổ biến nhất hiện nay trong thanh
Ngoài ra, còn một số loại thư tín dụng đặc biệt:
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C)
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C)
- Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C)
- Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C)
1.1.2.2 Phương thức nhờ thu
Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán quốc tế với
việc người xuất khẩu (người bán) sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung
ứng dịch vụ cho người nhập khẩu (người mua) sẽ ủy thác cho ngân hàng phục vụ
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 11
Khóa luận tốt nghiệp
mình thu hộ số tiền từ người nhập khẩu ở nước ngoài, trên cơ sở ký phát hối phiếu đòi
tiền người mua.
- Căn cứ vào nội dung nghiệp vụ thỡ cú hai loại nhờ thu:
* Nhờ thu phiếu trơn: là phương thức mà người bán giao hàng và gửi chứng từ
hàng hóa cho người mua, sau đó lập hối phiếu nhờ ngân hàng thu hộ số tiền trên hối
phiếu ở người mua nhưng không kèm theo điều kiện nào khác. Việc đòi tiền theo
phương thức này là hoàn toàn phụ thuộc vào luật hối phiếu, hơn nữa việc nhận hàng
hóa của người mua tách rời khỏi khâu thanh toán, do đó người mua có thể nhận hàng
mà không thanh toán tiền. Vì thế phương thức này không được áp dụng nhiều trong
thanh toán mậu dịch vỡ ớt đảm bảo quyền lợi cho người bán.
* Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức mà người bán sau khi hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu, nhờ ngân hàng thu hộ tiền,
với điều kiện là người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao bộ
chứng từ gửi hàng cho người mua để họ đi nhận hàng.
- Căn cứ vào thời gian trả tiền thì nhờ thu có hai loại: Nhờ thu trả tiền đổi
chứng từ (D/P) và nhờ thu chấp nhận trả tiền trao chứng từ (D/A).
bảo của bên thứ ba cam kết bồi thường cho bên bị thiệt hại do bên đối tác gây ra.
Người thứ ba thông thường là người phải có uy tín, có khả năng tài chính và có đủ
điều kiện thực hiện ngay việc bồi thường. Thực tế, người có khả năng đứng ra với vai
trò là người thứ ba thì thường là ngân hàng. Chính vì vậy mà trong các hợp đồng kinh
tế, khi nói đến bảo lãnh người ta thường hay nghĩ đến Bảo lãnh ngân hàng. Cam kết
bồi thường của ngân hàng bằng văn bản và thường được gọi là “Thư bảo lãnh ngân
hàng – Bank Guarantee”
- Các loại bảo lãnh ngân hàng:
+/ Bảo lãnh dự thầu: Trong TMQT, đấu thầu thường được sử dụng để tìm được
nguồn cung cấp tối ưu nhất. Thông thường, đó là những hợp đồng lớn, đặc biệt là
những hợp đồng xây dựng, thiết kế hay cung cấp thiết bị. Mục đích của loại bảo lãnh
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 13
Khóa luận tốt nghiệp
này là nhằm bù đắp những thiệt hại về thời gian và chi phí cho chủ thầu do những vi
phạm của người dự thầu gây ra như: rút đơn thầu, trúng thầu nhưng bỏ không ký tiếp
hợp đồng cung ứng,… Bảo lãnh dự thầu có tác dụng để cho bên chủ thầu thấy đơn dự
thầu là một cam kết nghiêm túc và bên dự thầu sẽ ký hợp đồng dự thầu nếu trúng thầu.
Bảo lãnh dự thầu là một hình thức tài trợ của ngân hàng vì việc ngân hàng cấp
bảo lãnh dự thầu hàm ý năng lực tài chính của người dự thầu là lành mạnh; ngoài ra,
nếu trúng thầu ngân hàng sẽ xét cấp tiếp các bảo lãnh như bảo lãnh thực hiện hợp
đồng, bảo lãnh đặt cọc. Thời hạn bảo lãnh dự thầu kết thúc trong trường hợp: người
dự thầu trúng thầu và đã ký được bảo lãnh thực hiện hợp đồng; hoặc khi người dự
thầu không trúng thầu.
+/ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Đây là loại bảo lãnh được sử dụng rộng rãi và
thường có hiệu lực ngay sau khi chấm dứt hiệu lực của bảo lãnh dự thầu. Mục đích
của bảo lãnh thực hiện hợp đồng là tạo nghĩa vụ cho nhà xuất khẩu phải thực hiện
đúng những điều đã ký kết trong hợp đồng; và bồi thường cho nhà nhập khẩu trong
trường hợp nhà xuất khẩu vi phạm hợp đồng như không giao hàng, giao hàng chậm,
không đúng chất lương và số lượng,… Mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng thường là
chuyển giao vận đơn cho công ty vận tải. Do vậy, bảo lãnh nhận hàng chính là một
trong những hình thức tài trợ của ngân hàng cho người mua vì ngân hàng đó dựng chữ
tín của mình để cam kết cho với hãng vận tải sẽ chịu trách nhiệm đối với lô hàng, và
người mua chưa phải trả tiền lô hàng cho người xuất khẩu đã nhận được hàng hóa.
1.1.2.4 Chấp nhận hối phiếu
Chấp nhận hối phiếu của ngân hàng là khoản tín dụng mà ngân hàng ký chấp
nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu và khoản vay
chỉ là một hình thức, một sự bảo đảm về tài chính; thực chất ngân hàng chưa phải xuất
tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên, khi đến hạn nếu nhà nhập khẩu không có khả
năng thanh toán thì người cho vay (ngân hàng), người đứng ra chấp nhận hối phiếu
phải trả nợ thay.
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 15
Khóa luận tốt nghiệp
Chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên bán thiếu tin tưởng khả năng
thanh toán của bên mua, họ có thể đề nghị bên mua yêu cầu một ngân hàng đứng ra
chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát. Nếu ngân hàng đồng ý cũng có nghĩa
là ngân hàng đã chấp nhận cấp một khoản tín dụng cho bên mua để thanh toán cho
bên bán khi hối phiếu đến hạn.
Với sự chấp nhận của ngân hàng, nhà xuất khẩu trên cơ sở đó có được sự bảo
đảm một cách chắc chắn về khả năng thanh toán và họ có thể đem hối phiếu đến chiết
khấu tại bất kỳ ngân hàng nào.
1.1.2.5 Chiết khấu hối phiếu
Chiết khấu hối phiếu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình
thức khách hàng chuyển quyền sở hữu hối phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận
một số tiền bằng mệnh giá của hối phiếu trừ lãi chiết khấu và phí chiết khấu. Lãi chiết
khấu này thường thấp hơn lãi vay ngắn hạn thông thường. Thực chất là ngân hàng tiến
hành mua các hối phiếu thương mại đang trong thời kỳ chưa đến hạn thanh toán.
Thông qua loại hình này, ngân hàng cung ứng một khoản vốn cho các nhà xuất
khẩu để họ có điều kiện tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đõy chớnh là khoản vốn mà
Nhìn chung, tài trợ factoring đặc biệt thích hợp với các giao dịch xuất khẩu áp
dụng phương thức thanh toán ghi sổ, cho phép người mua hưởng tín dụng cung ứng
hoặc gặp khó khăn trong việc thu nợ tiền hàng từ người mua nước ngoài.
Tài trợ factoring cũng gặp phải những rủi ro khi những khoản nợ được Factor
mua lại từ nhà xuất khẩu nhưng nhà nhập khẩu lại không thanh toán hoặc mất khả
năng thanh toán. Do đó, lãi suất của tài trợ factoring thường cao hơn lãi suất thị
trường.
1.1.2.6.2 Bao thanh toán tuyệt đối (Forfeiting)
Forfeiting là nghiệp vụ mua bán những khoản nợ hoặc những khoản thanh toán
của nhà xuất khẩu nếu các khoản nợ hoặc các khoản thanh toán thương mại không
được trả ở thời điểm đến hạn bởi người nợ hoặc người bảo lãnh.
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 17
Khóa luận tốt nghiệp
Thực chất hoạt động Forfeiting là sử dụng các quỹ của thị trường mở để cấp tín
dụng cho nhà cung cấp hàng hóa với một lãi suất cố định nhằm tài trợ cho các công
trình hoặc xuất khẩu hàng hóa, tư liệu sản xuất với thời hạn thanh toán trong tương
lai.
Trong giao dịch Forfeiting thường có bốn bên liên quan: Nhà xuất khẩu, nhà
nhập khẩu, ngân hàng bảo lãnh (thường là ở nước nhập khẩu), và nhà Fofeiting. Nhà
nhập khẩu trả cho nhà xuất khẩu những kỳ phiếu có hạn 5 – 7 năm đã được ngân hàng
của nhà nhập khẩu đứng ra bảo lãnh thanh toán. Bảo lãnh này là không thể hủy ngang,
vô điều kiện và có thể chuyển nhương được. Nhà xuất khẩu bỏn cỏc kỳ phiếu chưa
đến hạn thanh toán đó cho nhà Forfeiting sẽ nhờ ngân hàng bảo lãnh thu tiền từ nhà
nhập khẩu, nếu nhà nhập khẩu không thanh toán được thì sẽ đòi tiền ngân hàng bảo
lãnh thanh toán kỳ phiếu đó. Nhà Fofeiting có thể bỏn cỏc kỳ phiếu đú trờn thị trường
tín dụng thứ cấp.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
của NHTM
1.2.1 Quan niệm và các tiêu chí đánh giá về phát triển hoạt động tài trợ thương
cho vay, sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ
ngân hàng…
- Công nghệ ngân hàng: Công nghệ ngân hàng liên quan đến toàn bộ cơ sở vật
chất và mạng lưới truyền thông, thanh toán. Hệ thống mạng máy tính và các chương
trình ứng dụng của nó có liên quan chặt chẽ đến chất lượng hoạt động và các sản
phẩm tài trợ TMQT. Việc nối mạng thông tin cũng giúp cho ngân hàng quảng bá được
hoạt động và các sản phẩm dịch vụ của mình tới khách hàng, thu hút thêm khách hàng
đến với ngân hàng, khai thác tốt các nguồn vốn tài trợ và thực hiện tài trợ lại cho
khách hàng. Chính những hoạt động này là tiền đề để thúc đẩy hoạt động tài trợ
TMQT.
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 19
Khóa luận tốt nghiệp
Với thực tiễn môi trường kinh doanh cạnh tranh hiện tại: các yếu tố trên rất
quan trọng sau khi Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại quốc tế, cũng như gia
nhập tổ chức WTO; các ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là các ngân hàng Mỹ, sẽ được
nới lỏng các quy định về hoạt động của ngân hàng nước ngoài, cho phép cung cấp các
dịch vụ, mà thực tế thì về các yếu tố này ngân hàng nước ngoài hơn hẳn ngân hàng
của Việt Nam. Bên cạnh đó, theo đúng lộ trình cam kết gia nhập WTO, hệ thống ngân
hàng Việt Nam phải thực hiện tái cơ cấu và đây thực sự là một thách thức, buộc các
NHTM Việt Nam phải chuyên môn hóa và phát triển dịch vụ để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn. Trong đó, hoạt động tài trợ TMQT là vấn đề phức tạp và khá nhạy cảm với
các yếu tố công nghệ, nguồn vốn, trình độ quản lý…
- Trình độ cán bộ: Trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, và những kinh nghiệm
thực tiễn của cán bộ giao dịch trực tiếp sẽ là yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng
đến với ngân hàng. Hoạt động tài trợ TMQT đòi hỏi cán bộ nghiệp vụ phải có trình độ
chuẩn mực nhất định. Do vậy, cán bộ phải không ngừng nâng cao chuyên môn, ngoại
ngữ cũng như các kiến thức về pháp luật, thông lệ quốc tế để đáp ứng được tốt nhất
các nhu cầu của khách hàng.
- Mạng lưới đại lý: Đây là một yếu tố rất quan trọng vì họ sẽ là đối tác của ngân
quốc gia, trước hết là ảnh hưởng đến ngoại thương và trạng thái ngoại hối của ngân
hàng. Công tác quản lý ngoại hối của nước ta những năm gần đây được thực hiện
tương đối đồng bộ và có sự phối hợp tốt với các chính sách khác, làm cho thị trường
ngoại tệ sôi động hơn. Tỷ giá được vận hành tương đối linh hoạt theo quy luật cung
cầu ngoại tệ và tín hiệu thị trường trong và ngoài nước, tỷ giá đã phản ánh tốt hơn sức
mua đối ngoại của đồng Việt Nam góp phần khuyến khích xuất khẩu. Việc NHNN mở
rộng biên độ điều hành tỷ giá linh hoạt và đưa ra các quyết định mới về quản lý trạng
thái ngoại tệ đã tạo cho các NHTM tăng mua ngoại tệ từ thị trường, đáp ứng tốt hơn
nhu cầu ngoại tệ của khách hàng xuất nhập khẩu.
1.2.3.2 Sự thay đổi chế độ kinh tế, chính trị của nước bạn hàng:
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 21
Khóa luận tốt nghiệp
Do liên quan đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề và đối tượng kinh tế của nhiều
quốc gia khác nhau, hoạt động tài trợ TMQT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tác động
của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động về chế độ
chính trị của nước bạn hàng sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các
cam kết đã thỏa thuận giữa cỏc bờn. Sự suy thoái kinh tế, biến động chính trị sẽ ảnh
hưởng bất lợi đến sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tài trợ thương mại.
(Ví Dụ)
1.2.3.3 Các yếu tố từ khách hàng:
Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính, trình độ nghiệp
vụ kinh doanh, hành vi đạo đức của khách hàng. Như đã phân tích, so với các loại
hình cho vay khác, hoạt động tài trợ TMQT phức tạp hơn, đòi hỏi cả khách hàng và
ngân hàng phải có một trình độ nhất định về thông lệ quốc tế, thị trường thế giới,…
Khách hàng khi ký kết hợp đồng phải cú cỏc điều khoản không bất lợi để dễ dàng
được chấp nhận tài trợ của ngân hàng. Việc khách hàng giả nạo chứng từ đòi tiền là
hoàn toàn có thể xảy ra. Do vậy, yếu tố về hành vi đạo đức của khách hàng cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến sự phát triển của phương thức thanh toán này.
Ngân hàng XNK Hàn Quốc – Eximbank Hàn Quốc (Korea Eximbank gọi là
KEXIM) là một tổ chức tài chính của chính phủ Hàn Quốc, được thành lập vào
1/7/1976 theo luật về NH XNK Hàn Quốc với những mục tiêu hoạt động chủ yếu là:
Phát triển kinh tế nội địa và tăng cường hợp tác kinh tế với nước ngoài.
Để thực hiện mục tiêu trên, NH thực hiện tài trợ cho các thương vụ XNK, các
dự án đầu tư ở nước ngoài và tăng các tài nguyên thiên nhiên ngoài nước bằng cách
cho vay, cấp bảo lãnh và các hình thức tài trợ tài chính khác.
- Chương trình tín dụng xuất khẩu: KEXIM áp dụng cho giao dịch xuất khẩu
loại hàng tư liệu sản xuất do Hàn Quốc chế tạo, bao gồm nhà máy, tàu biển, máy móc,
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 23
Khóa luận tốt nghiệp
thiết bị điện tử, ô tô, thiết bị y khoa, …. Mọi nhà sản xuất hoặc xuất khẩu Hàn Quốc
đều có thể được tài trợ bằng chương trình này.
- Chương trình tín dụng dịch vụ kỹ thuật: KEXIM cấp tài trợ cho các doanh
nghiệp kỹ thuật Hàn Quốc nhằm thúc đẩy việc bán ra nước ngoài các dịch vụ kỹ thuật.
Những dịch vụ này được chấp nhận tài trợ bao gồm: bí quyết kỹ thuật, nghiên cứu khả
thi, thiết kế kỹ thuật, kỹ thuật giám sát trong việc lắp đặt và vận hành nhà máy, công
trình xây dựng ở nước ngoài. Các điều khoản tài trợ của KEXIM cũng tương tự như ở
trên. KEXIM cho người nước ngoài vay trung dài hạn để mua hàng hóa là tư liệu sản
xuất của Hàn Quốc. Theo đó, KEXIM kết lập hợp đồng tín dụng với người mua, cho
phép nhà xuất khẩu Hàn Quốc được thanh toán khi thực hiện giao hàng.
- Chương trình tái tài trợ của Eximbank Hàn Quốc: Theo chương trình này,
KEXIM sẽ cấp tín dụng trung dài hạn cho các ngân hàng nước ngoài có uy tín, các
ngân hàng này sẽ dùng nguồn tài trợ này để cấp tín dụng các khoản cho vay trung dài
hạn cho người mua nước ngoài để mua tư liệu sản xuất của Hàn Quốc. Danh sách các
loại mặt hàng đủ điều kiện chuẩn nhận tài trợ do KEXIM công bố trước.
KEXIM cũng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu dựa trên chương trình bảo hiểm tín
dụng xuất khẩu của ngân hàng bao gồm: bảo hiểm thương vụ cụ thể và bảo hiểm toàn
bộ doanh số xuất khẩu. Với loại hợp đồng bảo hiểm thứ nhất, nhà xuất khẩu có thể lựa
hội khác nhau nhưng các nước này đều coi tài trợ TMQT có tầm chiến lược để khai
thác đến mức tối ưu lợi thế so sánh của mình cho sự phát triển nguồn nội lực của đất
nước và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập. Hệ thống NHTM giữ vai trò trọng
yếu trong chiến lược tài trợ TMQT của các quốc gia này. Các hoạt động tài trợ đó bao
gồm:
1 - Hỗ trợ đầu tư sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu:
Trường đại học kinh tế quốc dân
SVTH: Page 25