Lạm phát ở việt nam giai đoạn 2003 đến nay và những gợi ý chính sách - Pdf 10

Lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2003 đến nay
và những gợi ý chính sách Trần Thị Kim Chi Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Đình Thiên
Năm bảo vệ: 2008 Abstract. Khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về lạm phát, nêu kinh nghiệm
của Trung Quốc trong kiềm chế lạm phát và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam. Tổng quan về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn từ 2003 đến nay.
Phân tích động thái, diễn biến và nguyên nhân lạm phát, tác động của lạm phát đối
với nền kinh tế. Đánh giá tính khả thi và triển vọng của các biện pháp mà nhà nước
đã thực hiện để kiểm soát lạm phát thời gian qua. Từ đó, đưa ra một số gợi ý chính
sách vĩ mô và các giải pháp kiềm chế lạm phát cấp thời: thực hiện chính sách tài
khóa thắt chặt nhưng quan tâm đúng mức đến cắt giảm chi tiêu của Nhà nước; các
giải pháp kiềm chế và kiểm soát lạm phát dài hạn: chú trọng giải quyết những mất
cân đối trong cung cầu lương thực, thực phẩm, nâng cao hiệu quả đầu tư, đặc biệt là
đầu tư của khu vực công, thực hiện biện pháp giảm nhập siêu, nhằm kiềm chế lạm
phát và ổn định kinh tế vĩ mô thời gian tới.

Keywords. Chính sách kinh tế; Kinh tế tài chính; Kiềm chế lạm phát; Lạm phát Content
LỜI MỞ ĐẦU

hiện nó đòi hỏi nhiều tâm trí và sức lực của các nhà kinh tế, các nhà khoa học, các nhà
chính trị và các nhà quản lý nhằm tìm ra các giải pháp kiềm chế và hạn chế đến mức thấp
nhất những hậu quả do nó gây ra.
Đã có không ít những nghiên cứu về vấn đề lạm phát ở Việt Nam. Phạm vi nghiên
cứu rất rộng, bao gồm: các mối quan hệ tác động qua lại như lạm phát và chính sách tiền tệ;
lạm phát và chính sách tài khóa; quan hệ của lạm phát với tăng trưởng kinh tế, quan hệ của
lạm phát tới phúc lợi xã hội và sự phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư… Các
nghiên cứu về chủ đề này có thể chia làm hai nhóm, dựa theo những quan điểm khác nhau lý
giải nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu thứ nhất là theo quan điểm của
trường phái tiền tệ, cho rằng nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam không có nguyên nhân
gì khác là do lượng cung tiền quá lớn vượt xa so với cầu tiền của nền kinh tế. Có thể kể ra
đây công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Cao Đức (2006), “Các nhân tố quyết định lạm
phát ở Việt Nam dựa trên cách tiếp cận tiền tệ”, trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (335), tr3-
16; tác giả Châu Đình Phương (2005), “Lạm phát tiền tệ - một số vấn đề cần đặc biệt quan
tâm trong điều kiện kinh tế vĩ mô ở giai đoạn hiện nay”, trên tạp chí Kinh tế và dự báo, (3),
tr18-20, bằng những bằng chứng thực nghiệm tác giả đã chỉ ra sự gia tăng của biến số tổng
phương tiện thanh toán (M2) có ý nghĩa quan trọng với sự gia tăng của lạm phát. Tác giả đã
chỉ ra rằng chính việc tăng cung tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách là nhân tố đáng kể dẫn
đến lạm phát ở Việt Nam thời gian qua. Việc tăng cung tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách đã
tạo ra sự mất cân đối giữa tổng phương tiện thanh toán (M2) so với tổng sản phẩm quốc nội.
Và trong khi hệ thống tài chính còn chưa phát triển, và nền kinh tế còn được coi như nền kinh
tế tiền mặt thì điều này sẽ làm giảm khả năng ứng phó với các cú sốc và khả năng giảm thiểu
bớt ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực từ các cú sốc này của Việt Nam. Nhóm nghiên cứu thứ hai
là theo quan điểm của trường phái cơ cấu, trường phái này cho rằng do sự tăng trưởng của
nguồn cung không theo kịp với sự tăng trưởng của cầu đã gây ra sự mất cân đối trong cung
cầu. Sự thiếu hụt của nguồn cung đã đẩy giá cả tăng cao, và sự tăng cao của giá cả trong thời
gian dài đã đẩy nền kinh tế vào tình trạng lạm phát. Những người theo trường phái cơ cấu chỉ
rõ sự mất cân đối của cung cầu thể hiện ở sự mất cân đối giữa xuất khẩu với nhập khẩu
(thường là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu), sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà
nước (thường là chi lớn hơn thu), …và chính những mất cân đối trong nền kinh tế này, cộng

- Những gợi ý chính sách để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô giai đoạn tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu diễn biến và các khía cạnh của lạm phát ở
Việt Nam từ 2003 đến nay trong mối quan hệ qua lại với một loạt các chỉ số vĩ mô quan
trọng như: đầu tư và thu chi NSNN, sản xuất và thương mại, tiền tệ và tín dụng, lãi suất….
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về lạm phát ở Việt Nam
từ năm 2003 đến nay. Từ phân tích đánh giá lạm phát qua các thời kỳ, để đề xuất một số
giải pháp nhằm góp phần hoạch định chính sách kiềm soát lạm phát trong giai đoạn hiện
nay và thời gian tiếp theo.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở xác định tác động của vấn đề lạm phát đến các chỉ số vĩ mô quan trọng, và
những động lực của phát triển kinh tế khác, nghiên cứu này trước hết sẽ khảo cứu và cập nhật
những lý luận về nguyên nhân gây ra lạm phát. Nghiên cứu sử dụng rộng rãi các phương
pháp phân tích tổng hợp, so sánh dựa trên những phân tích số liệu. Luận văn sử dụng mô hình
đường tổng cung và tổng cầu để giải thích nguyên nhân của lạm phát nhằm nâng cao độ tin
cậy của những phân tích và đánh giá. Ngoài ra, luận văn còn đánh giá các tác động của các
yếu tố có liên quan đến lạm phát trong các thời kỳ (Đầu tư và thu chi ngân sách Nhà nước,
tiền tệ tín dụng, sản xuất thương mại, xuất nhập khẩu…) dựa trên những số liệu được tổng
hợp từ các báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục thống kê, báo cáo thường niên của
Bộ Kế hoạch và đầu tư, IMF…
6. Dự kiến đóng góp mới của đề tài
Vấn đề lạm phát không phải là vấn đề mới, nhưng lại luôn tạo được sự quan tâm chú
ý của các nhà kinh tế, các nhà khoa học, các nhà chính trị và các nhà quản lý mỗi khi nó
xuất hiện. Bởi mỗi lần xuất hiện thì lạm phát thường để lại những hậu quả rất lớn và làm
phai mờ những thành tựu tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên lạm phát xuất hiện ở những giai
đoạn khác nhau lại bắt nguồn từ những nguyên nhân khác nhau và ứng với đó là những giải
pháp kiểm soát tương ứng. Và do đó các biện pháp kiểm soát lạm phát đưa ra chỉ có ý nghĩa
tạm thời nhằm giải quyết vấn đề cấp bách tại thời điểm đó. Nguyên nhân gây ra lạm phát
trong giai đoạn hiện nay đã khác trước rất nhiều, những chính sách kiềm chế lạm phát cũng
đòi hỏi có sự biến đổi linh hoạt cho phù hợp với điều kiện mới của nền kinh tế.

=
1_
1_
Pt
PtPt 

Trong đó: - L
t
: tỷ lệ lạm phát giai đoạn t
- t: là giai đoạn tính lạm phát
- P
t
: tổng giá cả giai đoạn t
- P
t-1
:tổng giá cả giai đoạn t-1
- (t và t-1 là hai giai đoạn kế tiếp nhau)
Có một số phương pháp tính tổng mức giá, phổ biến có thể kể đến đó là chỉ số giá tiêu
dùng (CPI), chỉ số giảm phát GDP. Ngoài ra còn có chỉ số hàng hóa bán lẻ (RPI), chỉ số giá
sản xuất (PPI), chỉ số hàng hóa bán buôn (WPI).
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được tính theo công thức:
CPI =




n
i
n
i

PioQio
PitQit
1
1

Trong đó: L
GDP
: là chỉ số giá giảm phát GDP
Q
it
: là lượng hàng hóa, sản phẩm i (i = 1 đến n) trong giai đoạn t
Q
i0
: là lượng hàng hóa, sản phẩm i(i= 1 đến n) trong gian đoạn gốc
P
it
: là giá của hàng hóa, sản phẩm i trong giai đoạn t
P
i0
: là giá của hàng hóa, sản phẩm i trong giai đoạn gốc
Trong những năm qua, Việt Nam sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính tỷ lệ lạm
phát. Mặc dù không phải là chỉ tiêu hoàn hảo nhưng chỉ số giá tiêu dùng CPI không quá tồi
để phản ánh lạm phát, và hiện nay rất nhiều nước sử dụng chỉ số này để đo lường lạm phát.
1.3. Quan điểm của các trường phái khác nhau về lạm phát
Phần này tác giả đi điểm lại một số lý thuyết tiêu biểu giải thích nguyên nhân của lạm
phát, và đi xây dựng mẫu hình tổng cung tổng cầu để làm cơ sở lý thuyết cho giải thích vấn
đề lạm phát ở Việt Nam trong những phần tiếp theo.
- Quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển
- Quan điểm của Keynes
- Lý thuyết cầu tiền của M.Friedman

kinh tế cao, là một loạt những mảnh tối của nền kinh tế vĩ mô: lạm phát cao, chênh lệch giàu
nghèo ngày càng xa…. đang làm xói mòn những kết quả kinh tế vĩ mô của chúng ta. Đặc biệt
là lạm phát cao đang là một vấn đề gây được quan tâm chú ý nhất của những nhà phân tích
cũng như những nhà làm chính sách.
2.2. Diễn biến, tác động và nguyên nhân lạm phát giai đoạn 2003-2007
Diễn biến của lạm phát được thể hiện qua sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng. Do
vậy để thấy sự biến động của lạm phát tác giả đi mô tả sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng
và sự biến động của các các mặt hàng tiêu biểu trong rỏ hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng
theo chuỗi thời gian. Qua phân tích diễn biến của chỉ số giá tiêu dùng qua các năm từ 2003
đến nay, đặc biệt là phân tích biến động của chỉ số giá tiêu dùng của năm 2007, có thể nhận
thấy rằng trong sự biến động gia tăng mạnh của chỉ số giá tiêu dùng đã tiềm ẩn những thay
đổi khác thường về xu hướng tăng giá trong từng nhóm hàng như nhóm thực phẩm cũng như
nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng.
2.2.2. Những tác động của lạm phát
Lạm phát, nhất là lạm phát cao có tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã
hội: làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh và giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp;
làm méo mó nền kinh tế và làm cho việc thực hiện các kế hoạch chi tiêu của dân chúng bị
đảo lộn, gây tác động xấu đến những người có thu nhập thấp, đặc biệt là những người sống
chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công.
2.2.3.Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2003 -2007
2.2.3.1.Các nhân tố tác động về phía cung
Giá các yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất tăng cao đã làm tăng chi phí sản xuất,
làm giảm nguồn cung. Một nguyên nhân đằng sau đẩy giá tiêu dùng tăng cao lên đó là chính
sách tỷ giá gắn chặt với đồng USD.
2.2.3.2.Nhân tố bên cầu góp phần đẩy lạm phát lên cao ở Việt Nam thời gian qua
- Đầu tư từ ngân sách nhà nước lớn trong khi hiệu quả đầu tư lại thấp đã làm ngân
sách nhà nước ngày càng thâm hụt
- Tiêu dùng tăng nhanh hơn sản xuất đã làm nhập khẩu tăng mạnh hơn xuất khẩu làm
nhập siêu gia tăng. Trong bối cảnh tỷ giá gắn chặt với USD và USD ngày càng mất giá so với
các ngoại tệ mạnh khác đã làm chúng ta nhập khẩu thêm một phần của lạm phát từ bên ngoài

lương thực thực phẩm đẩy giá lương thực thực phẩm lên cao và do đó đã kéo chỉ số giá tiêu
dùng tăng cao. Mặc dù nền kinh tế đang phải chịu không ít thách thức và áp lực do mức tăng
cao của giá xăng dầu thế giới, giá lương thực cùng với tình trạng thâm hụt cán cân thương
mại ngày càng lớn nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng, những cơ hội về sản xuất, tiêu dùng,
dịch vụ, xuất khẩu, đầu tư trong và ngoài nước tăng.
Lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2003-2007 bắt nguồn từ cả ba yếu tố; cầu kéo, chi
phí đẩy và yếu tố tiền tệ. Để kiềm chế lạm phát đòi hỏi Nhà nước cần có biện pháp phối hợp
đồng bộ các giải pháp, phải có những biện pháp cấp thời, đồng thời cũng cần đưa ra hệ thống
biện pháp dài hạn để kiểm soát lạm phát được hữu hiệu.

Chương 3: GỢI Ý MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ ĐỂ KIỀM CHẾ
LẠM PHÁT TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
3.1. Nhận diện lại bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam
3.1.1 Bối cảnh thế giới
- Nền kinh tế lớn nhất thế giới đang tăng trưởng chậm lại và đang tiến gần đến suy
thoái. Giá của hầu hết các nguyên liệu nhiên liệu là đầu vào của sản xuất tăng cao kỷ lục từ
trước đến nay
- Các loại hàng háo phi năng lượng cũng tăng kỷ lục
- Lạm phát đang tăng lên một cách hết sức đáng ngại tại phần lớn các nền kinh tế
đang phát triển và chuyển đổi
- Các thị trường tài chính chủ chốt bước vào giai đoạn thay đổi thất thường ngày càng
khó kiểm soát.
3.1.2. Bối cảnh kinh tế Việt Nam
Tham gia ngày càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới là điều kiện tốt để nền kinh
tế Việt Nam có thể nhanh chóng phát triển. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy trong nền kinh tế của
chúng ta còn nhiều yếu kém: kết cấu hạ tầng yếu kém, sự thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ năng,
những bất ổn kinh tế vĩ mô cũng lộ diện rõ ràng, lạm phát ngày càng tăng cao, nhiều chỉ số kinh
tế vĩ mô khác cũng chỉ ra những dấu hiệu đáng lo ngại. Thâm hụt thương mại ( cả hàng hóa và
dịch vụ) tăng mạnh trong năm 2007 (15,8% GDP). Sự phân hóa trong thu nhập, và cơ hội tiếp

yêu cầu tăng trưởng; đồng thời phải đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng vốn đầu tư, nhất là
ở khu vực công
iii, Cải cách mạnh mẽ hệ thống ngân hàng, đặc biệt là xác lập tính độc lập cho Ngân
hàng Nhà nước
iv, Cải thiện hệ thống phân phối đặc biệt là phân phối xăng dầu, dược phẩm, sắt
thép, xi măng, phân bón, lúa gạo, và thực phẩm cũng rất cần phải chú ý thực hiện.
v, Tăng cường năng lực điều hành và quản trị vĩ mô, xây dựng bộ máy tham mưu
cho chính phủ để có thể để có thể giúp Chính phủ đưa ra những quyết sách kịp thời trước
những biến động bất thường của nền kinh tế.

KẾT LUẬN
Lạm phát là một căn bệnh tiềm ẩn đối với mọi nền kinh tế. Lạm phát là biểu hiện
của vấn đề mất cân đối vĩ mô rất phức tạp. Trong những năm vừa qua lạm phát ở Việt Nam
đã tăng cao, không chỉ là một thách thức cho tăng trưởng kinh tế mà còn là mối quan ngại
của Chính phủ bởi tác động của nó đến các vấn đề xã hội, ảnh hưởng lan tỏa đến mọi
doanh nghiệp, đến mỗi gia đình người dân. Kiểm soát lạm phát và đảm bảo tăng trưởng của
nền kinh tế là một bài toán phức tạp và vô cùng khó khăn. Tuy thế, kiềm chế lạm phát
không phải là một bài toán không có lời giải. Trong luận văn này, tác giả đã cố gắng đi
tìm và lý giải những nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn cuối
2003 đến nay, sau đó đã đi phân tích những hạn chế của một số chính sách kiềm chế lạm
phát ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, cuối cùng là đưa ra một số khuyến nghị chính
sách cho kiềm chế và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt và trong dài
hạn.
Lạm phát trong giai đoạn 2003-2007 ở Việt Nam là tổng hợp của ba dạng thức: lạm
phát do cầu kéo, lạm phát do chi phí đẩy, lạm phát do các yếu tố tiền tệ. Trong giai đoạn
này thị trường thế giới có nhiều biến động lớn, phức tạp gây nhiều yếu tố bất lợi cho nền
kinh tế Việt Nam. Đồng thời với đó là thiên tai, dịch bệnh đặc biệt nghiêm trọng kéo dài
trên diện rộng trong cả nước làm giảm nguồn cung của nền kinh tế đã góp phần đẩy nhanh
tốc độ tăng giá. Các yếu tố bên cầu làm gia tăng tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế trong giai
đoạn này có thể kể đến đó là: sự gia tăng chi tiêu của chính phủ do sự mở rộng của đầu tư

động ngân hàng năm 2007”, Tạp chí Ngân hàng, (2+3), tr30-37.
9. Nguyễn Đại Lai (2005), “Một số giải pháp làm lành mạnh môi trường lưu thông tiền
tệ và chống lạm phát”, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, (3+4), tr53-55.
10. Lê Quốc Lý ( 2005), “Kiềm chế lạm phát bằng đẩy mạnh sản xuất, phát triển thương
mại”, Tạp chí Ngân hàng, (7), tr26-27.
11. Tổng cục Thống kê (2004), Niên giám thống kê năm 2003, NXB Thống kê, Hà Nội.
12. Tổng cục Thống kê (2005), Niên giám thống kê năm 2004, NXB Thống kê, Hà Nội.
13. Tổng cục Thống kê (2006), Niên giám thống kê năm 2005, NXB Thống kê, Hà Nội.
14. Tổng cục Thống kê (2007), Niên giám thống kê năm 2006, NXB Thống kê, Hà Nội.
15. Tổng cục Thống kê (2008), Niên giám thống kê năm 2007, NXB Thống kê, Hà Nội.
16. N.Gregory Mankiw (1997), Kinh tế vĩ mô, NXB Thống kê, Hà Nội
17. Châu Đình Phương (2005), “Lạm phát tiền tệ - một số vấn đề cần đặc biệt quan tâm
trong điều kiện kinh tế vĩ mô ở giai đoạn hiện nay”, Tạp chí kinh tế và dự báo, (3),
tr18-20.
18. Bùi Thiên Sơn (2004), “Một số khái niệm về kiểm soát và kiềm chế lạm phát trong
điều kiện nền kinh tế thị trường”, Thông tin phục vụ lãnh đạo, (15), tr21-32.
19. Võ Trí Thành (chủ biên) (2007), Tăng trưởng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam: Bài toán huy động và sử dụng vốn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
20. Lê Huy Trọng (2004), “Tăng trưởng và lạm phát”, Tạp chí thuế Nhà nước, (7), tr58-
61.
21. Tổng cục Thống kê (2007), Điều tra mức sống hộ gia đình các năm 2002, 2004,
2006, NXB Thống kê, Hà Nội.
22. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
23. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
24. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
25. Lê Thị Thùy Vân (2008), “Thị trường tiền tệ thế giới năm 2007 và dự báo”, Tạp chí
Ngân hàng, số 2+3, trang 106 -113.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status