ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt hiện nay,
lạm phát đang là một vấn đề bất cập nhất mà cả thế giới quan tâm. Nó không chỉ
như một bóng ma ám ảnh làm kinh hoàng tất cả các siêu cường kinh tế trên thế giới
mà nó còn là mối đe dọa nguy hiểm của sự phát triển kinh tế xã hội mọi quốc gia.
Bởi lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội,
đặc biệt là giới lao động. Mà nguyên nhân sâu sa của lạm phát là do các chính
sách tiền tệ và chính sách tài chính của nhà nước.
Cụ thể ở nước ta lạm phát hiện là mối bận tâm của Chính phủ, bởi lẽ nó là
một trong những thước đo mức ổn định của nền kinh tế, có tác động đến sản lượng
đầu ra của nền kinh tế và các biến vĩ mô khác. Tỷ lệ lạm phát cao trong thời gian
gần đây đặt ra nhiều câu hỏi về nguyên nhân của lạm phát, và chắc chắn theo suy
nghĩ của nhiều nhà kinh tế và công chúng, nguyên nhân của lạm phát trong những
năm gần đây không giống với nguyên nhân lạm phát của những năm 1980 và đầu
những năm 1990, mặc dù “ lạm phát luôn luôn và ở mọi nơi đều là do hiện tượng
tiền tệ”. Một nguyên nhân nữa mà không thể không thể đề cập đến, từ cuối thế kỷ
SVTH: Nguyễn Xuân Đạt -1-
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
19 đến đầu thế kỷ 20, lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài mà nguồn gốc của
nó là do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài,
dẫn đến việc làm phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, tổn hại đến tất cả các
mối quan hệ trong nền kinh tế - xã hội.
Và để khắc phục những hậu quả do lạm phát gây ra, Nhà nước và Chính phủ
cần phải đưa ra một số các giải pháp đồng bộ nhằm kiềm chế mức độ lạm phát tiền
tệ trong nước. Các nhà kinh tế, các doanh nghiệp muốn thu lợi nhuận cao và đứng
vững trên thị trường phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền
kinh tế mới, để có thể nhạy bén trước tình hình kinh tế trong và ngoài nước.
Kết cấu của đề án bao gồm các nội dung sau:
nghĩa/GNP thực tế. Trong thực tế nó được thay bằng chỉ số giá tiêu dùng hoặc chỉ
số giá bán buôn I
p
= ∑ ip.d
ip: chỉ số giá cả của từng loại nhóm hàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng
1.1.2. Phân loại lạm phát
● Theo mức độ lạm phát ta có các loại lạm phát sau:
SVTH: Nguyễn Xuân Đạt -3-
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
- Thiểu phát: trong kinh tế học được coi là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp.
Hiện không có chỉ tiêu chính xác để đo tỷ lệ này. Rất dễ nhầm lẫn với giảm phát –
tình trạng ngược lại của lạm phát.
- Lạm phát thấp: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới
10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời
kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổn định. Sự
ổn định đó được biểu hiện: giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xảy
ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hóa với số lượng lớn…
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động,
họ chỉ trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoản
thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
- Lạm phát cao (lạm phát phi mã): Mức lạm phát tương ứng với tốc độ
tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi
mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm
phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách.
Nhìn chung lạm phát thì phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ
gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị
mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao
dịch hàng ngày. Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và
tăng.
- Lạm phát do cơ cấu: Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công
danh nghĩa cho người lao động. Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không
thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo
mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm
phát nảy sinh vì điều đó.
- Lạm phát do xuất khẩu: Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn
tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản
phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát
nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
- Lạm phát do nhập khẩu: Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được
mà phải nhập khẩu. Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá
như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trong nước
SVTH: Nguyễn Xuân Đạt -5-
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi
mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
- Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương
mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay
chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước)
khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.
- Lạm phát sinh ra lạm phát: Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự
tính duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng
hiện tại. Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát.
1.2. Nguyên nhân lạm phát
1.2.1. Lạm phát theo thuyết tiền tệ
Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá... có nhiều nguyên nhân dẫn
đến lạm phát. Chẳng hạn thời tiết không thuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp,
giá lương thực tăng lên. Giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá cả hàng tiêu dùng tăng
lên. Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá các mặt hàng
không đổi. Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với
tỷ lệ tương ứng. Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Đây là lý do tại sao Ngân
hàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này.
1.2.2. Lạm phát theo thuyết Keynes (Lạm phát cầu kéo)
Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu về
hàng hoá, dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những nhân
tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm, nếu cầu
về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử
dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp
ứng được sự gia tăng của cầu. Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy. Lạm phát
do cầu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó. Chẳng hạn ở Mỹ sử
dụng công suất máy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở
Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng.
1.2.3. Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy vừa là lạm phát, vừa làm suy giảm sản lượng , tăng
thêm thất nghiệp nên còn gọi là lạm phát "đình trệ". Hình thức của lạm phát này
phát sinh ra từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người
tiêu dùng. Điều này chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người
tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn.
Ví dụ:
Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ.
Nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng
lên. Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì
SVTH: Nguyễn Xuân Đạt -7-
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
giá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn trước
để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo thành vòng xoáy lượng giá.
Một yếu tố chi phí chính khác là giá cả nguyên vật liệu đặc biệt là dầu thô.
Trong năm 1972 - 1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng từ
4,6% đến 13,5% bình quân trên toàn thế giới.
P
1
P
o
y
*
y
o
y
E
1
ASLR
AD
P
P
ASLR
1
ASLR
2
y
*
y
o
y
1
y
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
1.2.4. Lạm phát dự kiến
Trong nền kinh tế, trừ siêu lạm phát, lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có xu
hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong trường hợp này tăng đều một
P
o
P
1
P
2
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
- Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các Chính phủ có thể in
thêm tiền để trang trại, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ra
lạm phát. Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi hỏi phải in
thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Kiểu lạm phát xoáy ốc này
thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát. Tuy nhiên, Chính phủ có thể tài trợ thâm
hụt bằng cách vay dân thông qua bán tín phiếu. Lượng tiền danh nghĩa không tăng
thêm nên không có nguy cơ lạm phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền
phải trả cho dân (cả gốc lẫn lãi) sẽ lớn đến mức cần phải in tiền để trang trải thì khả
năng có lạm phát mạnh là điều chắc chắn.
- Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách thuế,
chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý. Các chủ thể kinh doanh làm tăng chi phí
đầu vào, nguyên nhân do nước ngoài.
1.3. Những tác động của lạm phát
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác nhau
đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế mà lạm phát
được coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể nhìn thấy tác động của nó.
1.3.1. Đối với lĩnh vực sản xuất
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra
biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự mất giá
của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh. Hiệu quả kinh
doanh - sản xuất ở một vài danh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động về
kinh tế. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có
nguy cơ phá sản rất lớn.
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH GVHD: ThS Bùi Thị Thu Ngân
Phần II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2007 ĐẾN NAY
2.1. Thực trạng
- Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấn tượng bởi tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao liên tục. Tuy nhiên theo lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát
và tăng trưởng kinh tế thì Việt Nam đang chịu tác động từ chính thành công quá
lớn và quá nhanh chóng của mình. Cái giá phải trả cho tốc độ tăng trưởng cao là
mất ổn định kinh tế vĩ mô ít nhất là trong dài hạn. Điều này được thấy rõ nhất thông
qua lạm phát và tình hình kinh tế nước ta năm 2008.
- Năm 2008 đã đi vào lịch sử kinh tế Việt Nam như một năm đầy biến
động và sóng gió trên tất cả các thị trường. Từ thị trường trong nước đến thị trường
nước ngoài, từ thị trường hàng hóa dịch vụ thông thường, cao cấp đến thị trường tài
chính và thị trường bất động sản. Nhìn lại chặn đường một năm giúp ta rut ra nhiều
bài học quí giá cho những chặng đường phát triển tiếp theo.
Tình hình lạm phát ở giai đoạn nay sẽ được thể hiện cụ thể hơn thông
qua các số liệu dưới đây:
- Lạm phát, sau hai năm liên tục ở vào mức cao (9,5% năm 2004 và 8,4%
năm 2005) tưởng chừng như đã có dấu hiệu suy giảm khi chỉ còn 6,6% trong năm
2006. Tuy nhiên, áp lực tăng giá lại bùng phát ngay từ đầu năm 2007. Trong 6 tháng
đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 5,2%. Nếu so với tháng 6 năm 2006, thì chỉ số
giá tiêu dùng tăng 7,8%.
- Theo thống kê sơ bộ của tổng cục thống kê, tính đến cuối tháng
10/2007, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã lên đến hơn 9,3% so với cùng kì
năm trước và khoảng 8,12% so với đầu năm.Bảng dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ
diễn biến tưng giá trong thời gian vừa qua.
SVTH: Nguyễn Xuân Đạt -12-