Quan hệ thương mại việt nam hàn quốc từ năm 2000 đến nay - Pdf 10


1
Quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc từ
năm 2000 đến nay

Trần Huyền Trang

Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế quốc tế và quan hệ kinh tế thế giới
Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: TS. Phạm Quang Vinh
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Hệ thống một số cơ sở lý luận và thực tiễn trong quan hệ thương mại song
phương của Việt Nam và Hàn Quốc. Phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Hàn
Quốc - Việt Nam từ năm 2000 đến nay, có so sánh với các giai đoạn trước đó. Đưa ra các
giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác song phương này trong thời gian tới

Keywords: Kinh tế; Quan hệ thương mại; Việt Nam; Hàn Quốc

Content
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia càng ngày càng chú trọng tới việc phát
triển và mở rộng quan hệ song phương cũng như đa phương với các nước láng giềng hoặc cùng khu
vực địa lý với quốc gia mình. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, chúng ta rất coi trọng các
đối tác ở khu vực ASEAN và Đông Á, trong đó một đối tác quan trọng không thể không nhắc tới là
Hàn Quốc.
Theo dòng lịch sử, quan hệ song phương Việt Nam - Hàn Quốc đã phát triển trên rất nhiều
lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, du lịch nhưng có thể khẳng định kinh tế vẫn luôn là
lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất. Cùng với sự phát triển của hai quốc gia thì quan hệ kinh tế Việt

- “Tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) tới quan hệ
thương mại Việt Nam-Hàn Quốc” do ThS Phạm Thị Cải chủ nhiệm đề tài, Viện nghiên cứu Thương
mại (2008).
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn có những bài báo, những bài viết nghiên cứu
khoa học về quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc, tình hình hoạt động xuất nhập khẩu giữa
Việt Nam và Hàn Quốc theo số liệu cập nhật của từng thời kỳ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là dựa trên những số liệu cập nhật, những đánh giá xác đáng của các
nhà nghiên cứu đi trước và sự nghiên cứu của bản thân để đưa ra một sự phân tích đầy đủ về quan
hệ thương mai giữa Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 2000 đến nay và đề xuất một số kiến nghị, giải
pháp cho những vấn đề còn tồn tại giúp cho quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc ngày càng
tốt đẹp và gặt hái nhiều thành công trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể hoàn thành mục đích nghiên cứu của mình, đề tài cần giải quyết một số nhiệm vụ
sau:
- Hệ thống một số cơ sở lý luận và thực tiễn trong quan hệ thương mại song phương của Việt
Nam và Hàn Quốc.

3
- Phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Hàn Quốc - Việt Nam từ năm 2000 đến
nay, có so sánh với các giai đoạn trước đó.
- Nêu ra các giải pháp thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác song phương này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quan hệ thương mại
giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Hàn Quốc
trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay - giai đoạn nền kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp

hàng hóa vô hình) giữa các nước với nhau dưới hình thức mua, bán hoặc trao đổi đền bù có ngang
giá. Thương mại quốc tế bao gồm các hoạt động: xuất nhập khẩu (chủ yếu), gia công quốc tế, tái
xuất khẩu và chuyển khẩu, xuất khẩu tại chỗ.
Đặc điểm của thương mại quốc tế (Trang 5-7)
1.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia
Thương mại quốc tế mang trong mình nhiệm vụ, vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế của các quốc gia:
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa đất nước. Thông qua
hoạt động xuất, nhập khẩu các quốc gia tận dụng lợi thế cạnh tranh của mình để buôn bán với các
nước khác, đem lại nguồn ngoại tệ lớn để phục vụ trở lại quá trình kinh doanh, mở rộng sản xuất.
Đồng thời, thông qua việc nhập khẩu máy móc, công cụ hiện đại của các nước có nền công nghiệp
đi trước, các nước đi sau có thể đi tắt đón đầu, thực hiện quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước với thời gian ngắn hơn, hiệu quả cao hơn.
- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước như: vốn, việc
làm, công nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả
- Đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động thương mại quốc tế, góp
phần xây dựng quan hệ kinh tế - chính trị tốt đẹp của các quốc gia. Tổ chức quá trình lưu thông
hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài.
- Nâng cao vị thế quốc gia và mang lại lợi ích cho các đối tượng tham gia.
- Đẩy nhanh quá trình hội nhập KTQT thông qua thương mại quốc tế.
Đối với các quốc gia đang phát triển, vai trò của thương mại quốc tế đóng vai trò đặc biệt hơn
cả. Thương mại quốc tế giúp những nước đang phát triển có thể xuất khẩu những mặt hàng thế
mạnh của mình, đưa hàng hóa vượt ra khỏi biên giới quốc gia đem về nguồn ngoại tệ lớn, từ đó có
được lợi nhuận để nhập khẩu những mặt hàng cần thiết phục vụ việc tái đầu tư, mở rộng sản xuất.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, hàng hóa sẽ có được giá trị cao hơn so với việc bán mặt hàng đó tại
thị trường trong nước. Thương mại quốc tế còn mở rộng phạm vi trao đổi hàng hóa cho các nước
đang phát triển, giúp giảm bớt rủi ro khi nền kinh tế của một số đối tác thương mại lớn bị suy yếu.
Ngoài việc giao thương, thương mại quốc tế còn giúp các nước đang phát triển có cơ hội tiếp thu
những công nghệ hiện đại của các nước khác thông qua hình thức chuyển giao công nghệ hoặc đầu
tư trực tiếp, gián tiếp.

nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt
Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng
9% hàng năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam năm
1994. Giai đoạn 2003-2009 nền kinh tế có sự tăng trưởng tốt, năm sau cao hơn năm trước (Số liệu
bảng 1.1 – trang 18). Trong năm 2010, kinh tế vĩ mô của Việt Nam khá ổn định và hoàn thành được
các chỉ tiêu lớn: tăng trưởng kinh tế, GDP đảm bảo tăng trưởng trên 6,78%; nhập siêu ở mức 17,3%
so với xuất khẩu, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch; chi tiêu ngân sách cũng ở mức thấp so với năm
trước

6
Nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, cơ cấu kinh tế cũng có sự dịch chuyển tích cực theo hướng công nghiệp hóa: tỉ trọng nông
nghiệp trong GDP giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,6% năm 2006. (Ngành công nghiệp và
dịch vụ đóng góp tới hơn 90% tổng tăng trưởng GDP năm 2007).
Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài nhưng do tình trạng tham
nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức cao của thế giới cộng với các khó khăn về
vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng gây ra cho việc kinh doanh với
hàng chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường
nên ảnh hưởng tới sự tin cậy của các đối tác. Năm 2011, ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế toàn
cầu, Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn về lĩnh vực kinh tế: lạm phát gia tăng, chỉ số giá tiêu dùng
cao, thất nghiệp. Nhưng những tín hiệu thị trường đã cho thấy các công cụ kinh tế của Đảng và nhà
nước bắt đầu phát huy tác dụng.
1.2.1.2 Quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam
Ý thức được vai trò của hợp tác quốc tế trong việc phát triển kinh tế đất nước, Việt Nam đã
xây dựng quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Theo các văn kiện của
Đại hội Đảng các kỳ, ta có thể thấy rõ đường lối phát triển kinh tế và đối ngoại của Việt Nam có sự
thay đổi và phát triển rõ rệt:
- ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng CS Việt Nam (1986)
- ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng CS Việt Nam (1991)
- ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng CS Việt Nam (6/1996)

HÓA LỚN NHẤT TỪ VIỆT NAM NĂM 2009

Biểu đồ 1.1: 10 quốc gia có trị giá nhập khẩu hàng hóa lớn nhất từ Việt Nam năm 2009
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (www.gso.gov.vn)

Xét về quan hệ hợp tác, Việt Nam và Hàn Quốc đã xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp trong
thời gian dài trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, lao động Trong lĩnh vực
thương mại song phương, tuy Hàn Quốc chưa phải là quốc gia đứng đầu tại thị trường Việt Nam
song luôn là bạn hàng đáng tin cậy, đầy tiềm năng và qua các phân tích ở trên, Hàn Quốc đã thể
hiện sự bứt phá của mình, hứa hẹn sự hợp tác kinh tế tốt đẹp trong thời gian tới.
Hiệp định thương mại tự do (FTA) ASEAN - Hàn Quốc đã, đang và sẽ mang lại nhiều lợi ích
cho Việt Nam và Hàn Quốc, tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc, tô
đậm hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
1.2.2. Khái quát về thị trường Hàn Quốc
1.2.2.1 Thông tin chung về địa lý, xã hội, kinh tế Hàn Quốc
Địa lý, xã hội (Trang 25-26)
Kinh tế
Hàn Quốc có nền kinh tế đứng thứ 3 ở Châu Á và thứ 13 trên thế giới. Sau cuộc chiến tranh
Triều Tiên, nước này đã xây dựng từ một nước nghèo đói thành một trong những nền kinh tế phát
triển hàng đầu, thường được mọi người biết đến như "Kỳ tích sông Hàn".
Vào giữa những năm 90, cùng với Hongkong, Singapore và Đài Loan, Hàn Quốc được coi là
con rồng Châu Á nhờ vào tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh và mức sống cao hàng đầu thế giới.
Tuy nhiên nó cũng là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng
kinh tế năm 1997, 1998. Với sự trợ giúp từ IMF, Hàn Quốc đã vượt qua khủng hoảng và đạt được
nhiều thành công.
Ngày nay, Liên hợp quốc đã xếp Hàn Quốc vào nước có nền kinh tế thịnh vượng và nước này
được vào cả hai bảng xếp hạng các nước phát triển của CIA và IMF. Nằm trong top 20 nền kinh tế

8
lớn nhất, nước này đã tạo ra nhóm các nước công nghiêp G20. Thêm vào đó, sự bùng nổ kinh tế đã

Quốc có quan hệ ngoại giao, kinh tế quân sự với chính quyền Sài Gòn, đưa quân sang Việt Nam
tham chiến. Từ năm 1975 đến năm 1982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư
nhân qua trung gian và từ năm 1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi
chính phủ. Như vậy, kể từ sau năm 1980, hai nước mới bắt đầu thực sự mở rộng các quan hệ kinh tế
mặc dù cũng chỉ mới dừng lại ở hoạt động thương mại và đầu tư. Đến năm 1987, nền kinh tế Hàn
Quốc bắt đầu bước vào một thời kỳ phát triển mới – thời kỳ của dân chủ hóa, tư nhân hóa và tự do
hóa mạnh mẽ. Cùng với các nước Đông Nam Á, Việt Nam được Hàn Quốc quan tâm như là một
khu vực dân cư đông đúc, giá lao động rẻ, giàu tài nguyên thiên nhiên, trình độ phát triển kinh tế
tuy lạc hậu hơn nhưng đang có xu hướng hướng ngoại.
Giai đoạn 1981-1991, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc chưa đạt được nhiều
kết quả đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam chỉ đạt 45 triệu USD trong khi
kim ngạch nhập khẩu là 24,53 triệu USD. Hàn Quốc đã xuất khẩu sang Việt Nam một số mặt hàng
như: phân bón, tivi, xi măng, hàng dệt may trong khi đó Việt Nam lại xuất khẩu sang Hàn Quốc các
mặt hàng như: than, gỗ và sắt phế liệu. Các tập đoàn lớn của Hàn Quốc như: Samsung, Deawoo,
Hyundai bước đầu đã mở văn phòng đại diện tại Việt Nam. Nhiều công ty đã bắt đầu đặt quan hệ
hợp tác về thương mại với các doanh nhân Việt Nam.
Bảng 2.1: Kim ngạch XNK Việt Nam – Hàn Quốc giai đoạn 1983-1991 (Trang 35) đã cho
thấy khá rõ hai đặc trưng trong quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc giai đoạn này: quan hệ
thương mại có xu hướng phát triển và tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam trên tổng kim ngạch hai chiều
tương đối lớn. 2.1.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1999
Vào ngày 22/12/1992, Việt Nam và Hàn Quốc ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại
giao cấp Đại sứ. Cùng ngày, Hàn Quốc khai trương Đại sứ quán tại Hà Nội và vào ngày 19/11/1993
Hàn Quốc khai trương Tổng lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói, năm 1992 chính
là cột mốc quan trọng nhất trong quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc và là tiền đề
cho sự phát triển tốt đẹp của giữa hai quốc gia giai đoạn về sau.
Thời kì tăng trưởng nhanh mở đầu bằng năm 1991, những năm tiếp theo kim ngạch ngoại
thương hai nước tiếp tục tăng với nhịp độ cao và đạt đến 1545 triệu USD vào năm 1995. So với

Nhà nước cho phép mọi doanh nghiệp trong nước có giấy phép kinh doanh mà không cần có
giấy phép xuất nhập khẩu. Từ năm 2001, Nhà nước lại cho phép thương nhân (công ty và cá nhân)
được xuất nhập khẩu hầu hết các mặt hàng không phụ thuộc vào ngành hàng đã đăng ký ngoại trừ
các mặt hàng cấm xuất nhập khẩu theo giấy phép và hàng hoá thuộc diện quản lý của các Bộ
chuyên ngành.
Kể từ khi gia nhập WTO, Nhà nước Việt Nam dành quyền kinh doanh đầy đủ cho tất cả các cá
nhân và doanh nghiệp nước ngoài (kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) không muộn

11
hơn ngày 01/01/2007, ngoại trừ đối với một số sản phẩm chịu sự điều chỉnh của cơ chế “Thương
mại Nhà nước”.
Cơ chế quản lý ngoại hối (Trang 43-44)
2.2.1.2 Các chính sách thương mại từ phía Hàn Quốc
Hàn Quốc tham gia Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vào ngày
14/07/1967 và trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 01/01/1995
cùng với thời điểm tổ chức này được thành lập. Là một thành viên của GATT và sau này là WTO,
Hàn Quốc tham gia đầy đủ vào các cuộc đàm phán đa phương về tự do hóa thương mại kể từ vòng
đàm phán Tokyo.
Thuế quan:
Hệ thống thuế quan của Hàn Quốc có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Các mức thuế cam kết trong phạm vi WTO có xu hướng cao hơn mức áp dụng thực tế.
- Có sự leo thang thuế.
- Khoảng 61% số dòng thuế (hầu hết trong số này là hàng công nghiệp) chịu mức thuế suất
8% (đối với những nước thành viên WTO chỉ còn 2-2,5%). Thuế suất vẫn còn rất cao đối với nhiều
mặt hàng nông sản và thủy sản có giá trị cao, thường từ 30-100% (nếu là thành viên WTO, mức
thuế suất có thể được giảm xuống còn 20-30%, một số mặt hàng còn 40%).
- Hàn Quốc áp dụng “thuế suất điều chỉnh” theo Mã hài hoà HS 4 số với mức thuế suất ± 40%
để đối phó với việc gia tăng hàng nhập khẩu và hạn ngạch thuế quan với khoảng 70 mặt hàng (trong
đó có 20 mặt hàng nông sản) để bình ổn thị trường hàng hóa trong nước.
- Thực hiện rộng rãi chế độ ưu đãi thương mại và miễn giảm thuế quan đối với nhiều đối tác

giữa Việt Nam và Hàn Quốc giai đoạn 2005-2010 và tháng 1/2011
Ghi chú: Tỷ trọng so với chỉ tiêu đó của cả nước, từ năm 2008, thực hiện thống kê hàng hóa nhập
khẩu theo nước xuất xứ thay cho thống kê theo nước đối tác.
Nguồn: Tổng cục Hải quan (2011)
2.2.3 Cơ cấu hàng hóa trong hoạt động thương mại song phương Việt Nam - Hàn Quốc.
2.2.3.1 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc
Việt Nam chưa phải là quốc gia có thị phần lớn trong lĩnh vực xuất khẩu tại thị trường Hàn
Quốc và các mặt hàng xuất khẩu sang Hàn Quốc vẫn chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp, sơ chế,
thủ công chưa đem lại nguồn lợi lớn. Đây là thực trạng chung tại tất cả các thị trường xuất khẩu
của Việt Nam, không riêng gì thị trường Hàn Quốc. Qua số liệu tại Bảng 2.2: Kim ngạch xuất
khẩu hàng hóa cùa Việt Nam sang Hàn Quốc 4 tháng đầu năm 2011 (Trang 52-53), chúng ta
thấy rằng những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất sang Hàn Quốc vẫn là những mặt hàng
xuất khẩu truyền thống: dầu thô, hàng dệt may, hàng thủy sản, than đá, gỗ và các sản phẩm từ gỗ

13
Một số hàng hóa có tốc độ tăng trưởng mạnh trong thời gian vừa qua: Giày dép, thuỷ tinh và
các sản phẩm từ thuỷ tinh, sản phẩm từ chất dẻo, hàng dệt, may và cao su. Ngược lại, một số mặt
hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc 4 tháng đầu năm 2011 có độ suy giảm: Quặng và
khoáng sản, sản phẩm gốm, sứ.
Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam mang tính chất không ổn định qua các năm. So với cơ cấu
hàng hóa xuất khẩu sang Hàn Quốc những năm đầu thế kỷ XXI, hàng hóa Việt Nam đã có nhiều
chuyển biến tốt, đặc biệt là hưởng lợi từ các cam kết trong AKFTA. Chúng ta cần chú trọng vào
việc phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ, chế biến cao, đẩy mạnh xuất khẩu những hàng
hóa này mới mong có được nguồn thu nhập cao và ổn định.
2.2.3.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam
Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Hàn Quốc trong những năm qua bao gồm: sắt
thép các loại, vải các loại, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, xăng dầu các loại, ôtô nguyên chiếc
các loại, linh kiện & phụ tùng ôtô, chất dẻo nguyên liệu, máy vi tính và sản phẩm điện tử Số liệu
cụ thể tại Bảng 2.3: Kim ngạch và tốc độ tăng của một số mặt hàng chính Việt Nam nhập khẩu
từ Hàn Quốc năm 2010 (Trang 56-57). Tóm lại, nhập khẩu từ Hàn Quốc vào Việt Nam khá tập

9,8
8,7
8,5
10,0
10,0
11,5
XK sang
HQ
Tổng kim ngạch (tỷ USD)
0,63
0,84
1,25
1,78
2,06
3,09
Tỷ trọng (%)
2,0
2,2
2,6
2,9
3,7
4,3
XNK
Tổng kim ngạch (tỷ USD)
4,23
4,71
6,59
9,84
9,00
12,85

2.2.4.3 Bài học kinh nghiệm
Muốn quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia tốt đẹp trước hết chúng ta phải xây dựng chiến lược
hợp tác dài hạn với Hàn Quốc. Thực hiện gia tăng hợp tác với Hàn Quốc theo phương châm đa tầng
cấp và nhiều phương diện nhằm tạo sự hiểu biết tin cậy lẫn nhau sâu và rộng trong các giới và các
cấp khác nhau. Ngoài ra để thoát khỏi tình trạng nhập siêu như hiện nay thì chính phủ Việt Nam cần
đưa ra chính sách tích cực, khuyến khích các doanh nghiệp Hàn Quốc tham gia vào quá trình sản
xuất hàng xuất khẩu tới thị trường này. Bên cạnh đó công tác nghiên cứu thị trường cần được tiến
hành một cách bài bản và có hệ thống, bên cạnh các hoạt động cung cấp thông tin về thị trường, tổ
chức hội chợ, triển lãm hay giới thiệu sản phẩm.
Bên cạnh nhiệm vụ của Chính phủ và các bộ ngành liên quan, các doanh nghiệp xuất khẩu sang
trường Hàn Quốc cũng phải rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm trong việc đảm bảo chất
lượng hàng hóa đáp ứng được yêu cầu thị trường cũng như nâng cao và giữ vững thương hiệu cho
hàng hóa của mình. Các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao vai trò và vị thế của hiệp hội ngành
hàng, coi đây là tổ chức tiên phong, đưa ra những định hướng đúng đắn cho toàn ngành.

15
CHƢƠNG 3:
TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƢƠNG MẠI
VIỆT NAM - HÀN QUỐC TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1 Triển vọng phát triển của quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian
tới
Việt Nam và Hàn Quốc được coi là hai quốc gia có triển vọng tăng trưởng nhất trong khu vực
châu Á. Việt Nam và Hàn Quốc đã ký kết quan hệ ngoại giao, kim ngạch thương mại hai nước đã
tăng trưởng mạnh và bền vững. Quy mô trao đổi thương mại hai nước liên tục tăng lên kể năm 1992
đến nay.
Hai nước đã có quan hệ thương mại song phương tốt đẹp trong thời gian dài nên chúng ta có
thể tin tưởng và hy vọng vào sự hợp tác của hai nước sẽ có bước tiến nhảy vọt tiếp theo không chỉ
về mặt kinh tế mà còn trên các mặt: chính trị, văn hoá xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật… Trong
những năm tới, vai trò, vị trí quan trọng của Việt Nam và Hàn Quốc tiếp tục được khẳng định trên
trường quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

những lợi thế so sánh nhất định. Xét về nhiều mặt, hai nền kinh tế Hàn Quốc và Việt Nam có
tính bổ sung cho nhau rõ rệt. Quan hệ kinh tế tốt đẹp giữa hai quốc gia sẽ là điều kiện tuyệt
vời để cả hai nước phát triển. Bên cạnh việc ghi nhận những thành tựu đạt được, chúng ta
cũng cần thẳng thắn chỉ ra những mặt hạn chế trong quan hệ thương mại song phương Việt
Nam – Hàn Quốc: tình trạng nhập siêu của Việt Nam, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chưa hợp lý
và phát huy hết tiềm năng của hai nước
Hai quốc gia đều hiểu rằng những lợi thế về mặt tự nhiên, xã hội là do thiên nhiên ban
tặng và chúng đang bị giảm dần ý nghĩa trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay. Do đó, chỉ
có bắt tay hợp tác chặt chẽ với nhau trên tinh thần đôi bên cùng có lợi thì cả hai mới có thể đạt
được những mục đích to lớn của mình. Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu gặp nhiều thách
thức, không quốc gia nào có thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa, nếu quốc gia nào không
thích ứng được thì sẽ bị đào thải khỏi tiến trình chung của nhân loại. Chính phủ Việt Nam và
Hàn Quốc đã, đang và sẽ nỗ lực hơn nữa để đưa mối quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia lên tầm
cao mới, ngày càng sâu sắc, toàn diện và tốt đẹp hơn.

References
Tiếng Việt

17
1. Begg, David; Fischer, Stanley; Dornbusch, Rudiger (Tái bản lần thứ 8 - 2011), Kinh
tế học vĩ mô, NXB Thống kê, Hà Nội
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Thương mại song phương Việt Nam -
Hàn Quốc: Đối tác chiến lược trong phát triển nông nghiệp.
3. Lê Văn Bàng (2002), Mười năm hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc rộng đường tiến xa,
NXB Thống kê, Hà Nội.
4. Ngô Xuân Bình (2005), Hội nhập kinh tế Đông Á và tác động của nó tới quan hệ kinh
tế Việt Nam - Hàn Quốc, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
5. Phạm Thị Cải (chủ nhiệm đề tài) (2008), Tác động của Hiệp định thương mại tự do
ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA) tới quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc, Viện nghiên cứu
Thương mại.

21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status