Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh
tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Lê Thị Hoa
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học Môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Đức Tố
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Xây dựng cơ sở khoa học cho mô hình phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý
Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Nêu các nhiệm vụ: đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, phát
hiện tiềm năng phát triển và những hạn chế trong phát triển của đảo Lý Sơn; Đánh giá
thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên đảo; Đánh giá hiện trạng môi trường; Đưa ra
một số kết luận: những thuận lợi và thách thức, chọn con đường hủy diệt hay tồn tại và
phát triển; Xu thế thời đại và con đường phải chọn để vươn lên làm giàu đó chính là
kinh tế sinh thái; Thành lập khu bảo tồn biển nhằm bảo tồn các hệ sinh thái trên biển
và trên đảo; phân khu chức năng trong khu bảo tồn; phát triển kinh tế sinh thái - dịch
vụ cao cấp và đề xuất các giải pháp cụ thể.
Keywords: Khoa học môi trường; Quảng Ngãi; Phát triển kinh tế; Kinh tế sinh thái
Content
MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia ven biển, có vùng thềm lục địa đặc quyền kinh tế rộng lớn, hơn
một triệu kilomet vuông, với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, hai quần đảo lớn ngoài khơi là
Hoàng Sa thuộc Thành phố Đà Nẵng và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa, là tiềm
năng to lớn cho phát triển đất nước. Ngày nay, thời đại kinh tế hội nhập toàn cầu, Biển Đông
Việt Nam là cửa mở lớn giao lưu với các nước khu vực và quốc tế.
Hàng trăm năm nay, nhân dân Việt Nam đã gắn bó với biển, khai thác tiềm năng biển.
Biển, không chỉ nuôi sống cộng đồng dân cư ven biển mà còn cung cấp các sản phẩm của
chiều hướng giảm. Sự cân bằng của HST san hô và cỏ biển và tính đa dạng sinh học của các
HST này đang bị đe dọa nghiêm trọng do tình trạng hút cát để trồng tỏi, đánh bắt thủy sẳn
bằng thuốc nổ và chất độc. Tất cả điều này đi ngược lại với chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội theo hướng mở rộng ra biển đã được Chính phủ xác định (đến 2050, kinh tế biển chiếm
53% GDP) và phát triển theo hướng bền vững với môi trường.
Dù điều kiện tự nhiên có ưu thế nhưng tiềm năng là có giới hạn. Muốn duy trì sự phát
triển kinh tế xã hội bền vững của huyện đảo Lý Sơn, cần phải có ngay những hành động điều
chỉnh phát triển của huyện đảo. Cần xem xét mối quan HST của HST trên đảo và HST của
vùng nước xung quanh đảo. Đồng thời, cần xem xét mối quan hệ kinh tế - xã hội của Lý Sơn
với kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi. Để đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo
Lý Sơn, kinh tế sinh thái chính là lựa chọn duy nhất.
Để đóng góp vào hướng nghiên cứu này, đề tài “Cơ sở khoa học cho định hướng
phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” được thực hiện nhằm đưa ra
được những cơ sở và định hướng phát triển kinh tế sinh thái phù hợp với những điều kiện sẵn
có của đảo Lý Sơn góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý tài nguyên môi trường
đới bờ vốn còn đang có nhiều bất cập.
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu chính của đề tài:
Mục tiêu:
3
Xây dựng cơ sở khoa học cho mô hình phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn, tỉnh
Quảng Ngãi.
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, phát hiện tiềm năng phát triển và
những hạn chế trong phát triển của đảo Lý Sơn.
Nhiệm vụ 2: Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên đảo.
Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiện trạng môi trường.
Nhiệm vụ 4: Đưa ra được những kết luận sau
- Những thuận lợi và thách thức, chọn con đường hủy diện hay tồn tại và phát triển;
- Xu thế thời đại và con đường phải chọn để vươn lên làm giầu đó chính là kinh tế sinh
thái;
- Bảo vệ và duy trì các HST trên đảo;
- Các tác động động lực đến bờ biển đảo luôn luôn phải có các công trình bảo vệ đảo,
chống đỡ các tác động của thiên;
- Khai thác nước ngầm quá mức sẽ gây ra hiện tượng nhiễm mặn, gây sạt lở và sụt lún.
1.1.5. Ý nghĩa và vai trò của kinh tế sinh thái đối với đảo biển
Đảo biển là một HST kém bền vững vì có những đặc trưng riêng khác với đất liền,
chịu tác động trực tiếp từ những điều kiện tự nhiên xung quanh là biển và đại dương. KTST
với quan điểm chủ đạo là phát triển bền vững sẽ là một giải pháp hữu ích và là duy nhất cho
phát triển kinh tế xã hội ở đảo biển. KTST giúp cải tạo các HST nhạy cảm, kém bền vững ở
đảo biển thành các HST bền vững hơn, giảm mức độ suy thoái môi trường, đồng thời nâng
cao được đời sống cho người dân.
5
1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
a. Mô hình kinh tế sinh thái ven biển tại Cộng hòa Liên bang Đức
b. Mô hình du lịch biển đảo tại các quốc gia ven biển
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
a. Mô hình kinh tế mới ở đảo Ngọc Vừng, Quảng Ninh
b. Mô hình làng kinh tế sinh thái vùng cát ven biển Hải Thủy, Quảng Bình
c. Mô hình phát triển kinh tế sinh thái và du lịch thung lũng Đồng Chùa, đảo Cù
Lao Chàm
1.3. Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu
Lý Sơn là một huyện ở phía Đông của tỉnh Quảng Ngãi có tọa độ địa lý như sau:
- Từ 15
o
32’04’’ đến 15
o
38’14’’ vĩ độ Bắc
- Từ 109
2.2. Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu
2.2.1. Tiếp cận hệ thống
2.2.2. Tiếp cận phát triển bền vững
2.2.3. Tiếp cận tổng hợp và liên ngành
2.2.4. Tiếp cận sinh thái học
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc tài liệu
2.3.2. Phƣơng pháp khảo sát thực tế
2.3.3. Phƣơng pháp chuyên gia
2.3.4. Phƣơng pháp phân tích hệ thống
7
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên
3.1.1. Thuận lợi
- Vị trí địa lý: Lý Sơn có một vị trí chiến lược, cách đất liền 18 hải lý, nằm án ngữ về
phía Đông miền Trung Trung Bộ, nằm trên con đường ra biển Đông của khu vực kinh tế trọng
điểm miền Trung qua cửa ngõ Dung Quất, bao quát toàn bộ tuyến đường giao thông trên biển
Đông từ Bắc vào Nam và ngược lại, có thể là cầu nối và đóng một vai trò quan trọng trong
dịch vụ dầu khí đối với quá trình khai thác dầu khí ở hai bồn trũng Phú Khánh và Hoàng Sa
trong tương lai
- Địa hình, địa mạo: đặc điểm của địa hình đáy biển phân bậc rõ ràng, có thể sử dụng
làm cầu cảng và tổ chức các hoạt động thể thao mạo hiểm trên biển. Cùng với đó là địa hình
bờ biển có các hạng động đẹp và địa hình núi lửa tạo nên các góc nhìn hùng vĩ có giá trị về
tham quan khám phá thiên nhiên trong phát triển du lịch.
- Thổ nhưỡng: đất nâu đỏ trên đá bazan chiếm phần lớn diện tích đất của đảo 845ha,
khoảng trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn huyện đảo, đây là nguồn tài nguyên quan trọng
của huyện đảo, vì đa số diện tích (khoảng 558ha) đất nâu đỏ trên đá bazan có tầng dày trên
1m và độ dốc dưới 8
o
- Tài nguyên nhân văn: Lý Sơn có nhiều di chỉ văn hóa, di tích lịch sử có một không
hai gắn với bề dày lịch sử của huyện đảo.
- Nguồn nhân lực: Với số dân trên 21.000 người, trong đó, lực lượng lao động của
huyện là 10.448 nguời, chiếm khoảng 50% tổng dân số toàn huyện. Đây là một yếu tố thuận
lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện bởi vấn đề lao động tại chỗ cơ bản được
giải quyết.
3.1.2. Thách thức
Có bốn thách thức mà Lý Sơn phải đối mặt hiện nay, đó là:
- Nước ngọt trên đảo vốn dĩ khan hiếm đang ngày càng bị nhiễm mặn và cạn kiệt do
sự khai thác quá mức nước ngầm để tưới tiêu, sự lãng phí nước do kỹ thuật canh tác truyền
thống lạc hậu;
- HST biển (HST san hô và thảm cỏ biển) đang bị tàn phá tới mức có nguy cơ hủy diệt
do các hoạt động phát triển kinh tế của người dân đảo Lý Sơn. HST bị mất đi đồng nghĩa với
việc nơi cư trú, bãi đẻ, nguồn phát tán thức ăn của các loài sinh vật bị mất đi. Nguồn lợi sinh
vật biển ngày càng suy giảm.
- HST trên đảo (HST rừng và HST nông nghiệp) đang bị suy thoái. Rừng trên đảo
không còn, những ngọn núi trơ sỏi đá, hoặc chỉ có những cây bụi nhỏ. Không có rừng, đất
không có thảm thực vật che phủ đồng nghĩa với việc đất sẽ bị xói mòn, rửa trôi và bạc màu
bởi mưa, gió. Không có rừng, không tích trữ được nước mưa. Không có rừng, lớp thổ nhưỡng
giàu dinh dưỡng hình thành trên nền đá bazan sẽ thoái hóa, rửa trôi xuống các thủy vực xung
quanh, ảnh hưởng không nhỏ đến các HST biển. Không có rừng, điều kiện vi khí hậu cũng bị
ảnh hưởng, cảnh quan sinh thái kém hấp dẫn với khách du lịch. Bên cạnh đó, canh tác nông
nghiệp lạc hậu, sử dụng nhiều nước và phân bón hóa học làm cho HST nông nghiệp vốn dĩ
không bền vững càng trở nên suy thoái.
- Dân số đông trong khi diện tích có hạn gây áp lực lên môi trường sinh thái đảo. Nhu
cầu về chổ ở, vấn đề ăn, mặc…ngày càng tăng. Các nguồn tài nguyên ven biển ngày bị khai
thác một cách triệt để. Bên cạnh đó, dân số tăng, kéo theo vấn đề tăng lượng rác thải, chất thải
ra môi trường.
9
trì cải thiện sinh kế, quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi hải sản.
3.2.1.3. Phân vùng chức năng khu bảo tồn
Theo nội dung hướng dẫn của Nghị định số 57/2008/NĐ-CP ngày 02 tháng 05 năm
2008 về việc Ban hành Quy chế quản lý các Khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng
10
quốc gia và quốc tế, thì khu BTB Lý Sơn có thể được phân chia thành ba phân khu chức năng
sau đây:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: là vùng biển được bảo toàn nguyên vẹn, được quản lý
và bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của các loài động, thực vật, các HST thủy
sinh tiêu biểu, tính ĐDSH sẽ được bảo tồn.
- Phân khu phục hồi sinh thái: Là vùng biển được quản lý, bảo vệ để phục hồi, tạo điều
kiện cho các loài thủy sinh vật, các HST tự tái tạo tự nhiên. Trong vùng phục hồi sinh thái,
đơn vị tư vấn chia ra thành khu vực phục hồi sinh thái rạn san hô và khu vực phục hồi sinh
thái rong biển, khu vực phục hồi sinh thái rạn san hô kết hợp với rong biển và sự phát triển
của quần xã sinh vật biển.
- Phân khu phát triển: Là phần diện tích còn lại của các Khu bảo tồn, được tiến hành
các hoạt động được kiểm soát: nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, DLST, đào tạo và
nghiên cứu khoa học.
3.2.1.4. Khoanh vùng khu bảo tồn
Đề xuất thiết lập các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là những vùng có độ ĐDSH cao, đa
dạng về các HST rạn san hô và cỏ biển và quần xã sinh vật biển. Khu vực âu cảng ở phía
Đông và Tây đảo Lớn được cách ra để đưa vào vùng phát triển phục vụ các hoạt động về cảng
cá. Khu vực phía Bắc đảo hầu như không có dân cư nên xây dựng vùng bảo vệ nghiêm ngặt
có đường giới hạn là ngay sát đường bờ. Vùng phía Nam đảo, có mật độ dân cư đông đúc và
là khu vực khai thác rong chính trên đảo Lý Sơn. Để tránh xảy ra mâu thuẩn trong việc quản
lý và sử dụng tài nguyên vùng bờ. Đề xuất phân khu bảo vệ nghiêm ngặt sẽ được thiết lập
cách bờ ở độ sâu là 3m nhằm tạo ra hành lang an toàn cho khu bảo tồn và thuận lợi cho việc
quản lý về sau. Vùng bên trong ở độ sâu từ 0m ÷ 3m khu vực phía Nam đảo Lớn được đưa
vào vùng phục hồi sinh thái.
Phục hồi và bảo vệ hải sâm
51
7
Phục hồi và bảo vệ rong, tảo, cỏ biển
319
8
Phục hồi và bảo vệ bãi triều rạn đá
220
9
Phục hồi và bảo vệ bãi cát biển
20
10
Phục hồi và bảo vệ rừng sinh thái và phòng hộ trên đảo
150
12
TT
Tên đối tƣợng
Diện tích
(ha)
11
Phát triển cơ sở hạ tầng, dân sinh, kinh tế và quốc phòng trên đảo
450
12
Phát triển du lịch trên đảo
200
13
Phát triển du lịch tắm biển
50
14
- Làm tăng mật độ sinh vật biển, tăng sinh khối và kích thước của sinh vật cũng như
tính đa dạng sinh học so với các vùng nằm ngoài của khu bảo tồn. Cấu trúc tuổi, tiềm năng
sinh sản lớn hơn và nhiều biến dị di truyền hơn;
- Bảo vệ đa dạng nguồn gen của những quần thể bị khai thác nhiều và làm tăng hiệu
quả sinh sản của các loài trong khu bảo tồn, tạo ra hiệu ứng tự phục hồi và tái tạo nguồn giống
hải sản tự nhiên trong phạm vi khu bảo tồn.
- Tạo ra nguồn lợi để phát tán cho các vùng biển xung quanh sau khi phục hồi về số
lượng và quần đàn thông qua hiệu ứng tràn, khu BTB Lý Sơn sẽ là trung tâm phát tán ấu
trùng, con non và con trưởng thành của sinh vật biển ra ngoài phạm vi khu bảo tồn trong toàn
13
khu vực biển lân cận, làm cho trữ lượng hải sản ở các khu vực biển lân cận tăng lên.
- Góp phần tăng năng suất đánh bắt do duy trì được trữ lượng và ổn định nguồn lợi hải
sản không bị sụt giảm. Đóng góp vào việc duy trì ngư trường Lý Sơn, một trong những ngư
trường trọng điểm của khu vực miền Trung.
- Bảo vệ các HST và cảnh quan đặc trưng, tạo sức hấp dẫn đối với du khách, tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển du lịch biển bền vững, tăng cường giao lưu quốc tế.
- Đối với Lý Sơn, bảo vệ các rạn san hô, cỏ biển là bảo vệ chính đảo Lý Sơn. Trong
hơn 30 năm qua, diện tích đảo bị giảm đi gần 400ha nguyên nhân chủ yếu do tình trạng hút
cát biển trên các khu vực bãi cỏ biển để trồng hành tỏi.
b. Hiệu quả về kinh tế
- Khu BTB Lý Sơn được thành lập và quản lý hiệu quả sẽ làm tăng nguồn lợi thủy sản,
tăng sản lượng khai thác tại các vùng lân cận khu bảo tồn, duy trì sản lượng của ngư trường
Lý Sơn qua đó làm tăng thu nhập và góp phần phát triển kinh tế biển của địa phương.
- Tạo cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương (trực tiếp hoặc gián
tiếp) thông qua việc phát triển du lịch và các dịch du lịch.
- Thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong đầu tư bảo tồn và
phát triển du lịch dịch vụ.
c. Hiệu quả về xã hội
- Nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư địa phương về công tác bảo vệ nguồn lợi
- Tham quan các địa điểm di tích lịch sử, thắng cảnh thiên nhiên: họng núi lửa, hạng
động, vách lộ địa chất;
- Tham quan rừng sinh thái (sau khi đã phục hồi) tại khu vực Hòn Tai, Giếng Tiền,
Hòn Sỏi, Thới Lới (khu vực số 2, hình 3.2);
- Tham quan các vườn - trại sinh thái bố trí tại Thôn Tây xã An Vĩnh và đảo Bé (khu
vực số 4, hình 3.2).
Sơ đồ phân khu chức năng trên đảo được trình bày cụ thể ở hình 3.2.
15
Hình 3.2: Sơ đồ phân khu chức năng trên đảo
b. Các loại hình dịch vụ du lịch
- Dịch vụ lữ hành: phối hợp với đất liền tổ chức tốt các tour thu hút khách chủ yếu từ
khu kinh tế Dung Quất và các khu vực lân cận;
- Dịch vụ lưu trú: homestay.
- Dịch vụ vận chuyển: đầu tư tàu có trọng tải lớn, bảo đảm an toàn hàng hải, xây dựng
sân bay trực thăng trên núi Thới Lới.
- Dịch vụ thông tin: internet, dịch vụ truyền hình.
- Dịch vụ ẩm thực: đảm bảo cung cấp mọi lúc, mọi nơi.
DLST có tác động tích cực tới BTB và đem lại nguồn thu nhập cho khu BTB và cộng
đồng địa phương. DLST đòi hỏi các hoạt động bảo tồn phải có hiệu quả để thu hút du khách
tới tham quan. DLST đem lại nguồn tài chính phục vụ bảo tồn và cộng đồng địa phương.
DLST thúc đẩy hoạt động giáo dục môi trường làm cho du khách nhận thức được giá trị của
thiên nhiên và tôn trọng khu vực họ tới tham quan và những khu vực khác.
3.2.2.2. Phát triển nông – lâm nghiệp bền vững
- Đối với lâm nghiệp: tập trung khoanh nuôi 110 ha rừng, phủ xanh toàn bộ diện tích
có khả năng lâm nghiệp (khoảng 197ha) và nghiêm chặt phá rừng (khu vực số 6, hình 3.2);
trồng rừng sinh thái tại các ngọn núi của cả 2 đảo (khu vực số 2, hình 3.2) phục vụ cho mục
đích phát triển DLST dựa vào cộng đồng
cấp các cơ sở sản xuất nước đá, cung cấp dầu, nhớt cho tàu thuyền, cung cấp lương thực, thực
phẩm, nước ngọt v.v cho các đội tàu ra khơi. Xây dựng các kho bãi và cơ sở dịch vụ hậu cần
nghề cá, mở rộng và nâng cấp cảng cá tại xã An Vĩnh thành cảng cá tổng hợp. Có thể tiến
hành thành các cơ sở sửa chữa nhỏ để sửa chữa những hư hỏng nhẹ của các tàu thuyền, thay
thế những bộ phận cơ khí hoạt động kém. Đảo Lớn có thể bố trí diện tích neo đậu tàu thuyền
và dịch vụ sửa chữa nhỏ tại phía Đông Nam xã An Hải, gần cảng quân sự (khu vực số 7, hình
3-22)
Các cơ sở hậu cần trên đảo còn có thể tiến hành các hoạt động tư vấn, dạy nghề đi biển
17
xa; truyền nghề, kinh nghiệm cho các thuyền viên trẻ; tổ chức trao đổi, toạ đàm về kinh
nghiệm đón bắt các luồng cá giữa các đội tàu, với các chuyên gia trong, ngoài nước.
3.2.2.4. Dịch vụ giao thông trên biển, công ứng cho hoạt động khai thác dầu khí
a. Dịch vụ giao thông trên biển
Với vị trí địa lý, địa thế thuận lợi trên biển, là nơi giao lưu của nhiều tuyến giao lưu
quốc tế trên biển với số lượng tàu thuyền hoạt động rất lớn, trên đảo Lý Sơn đã xây dựng
ngọn hải đăng và một số đèn biển quanh đảo làm nhiệm vụ hướng dẫn tàu thuyền tham gia
giao thông trên Biển Đông định vị vị trí của mình, đồng thời hướng dẫn tàu tuyến ra vào cảng
Dung Quất. Có thể hình thành trung tâm điều hành dịch vụ tổng hợp hướng dẫn giao thông
trên biển trên núi Thới Lới.
b. Dịch vụ cung ứng cho hoạt động khai thác dầu khí, giao lưu hàng hóa
Với vị trí phân bố gần các khu vực khai thác dầu khí trên biển và trên thềm lục địa,
đảo Lý Sơn có khả năng và tiềm năng để xây dựng các kho chứa các trang, thiết bị dàn khoan
trên biển, hình thành dịch vụ cung ứng khai thác dầu khí trên đảo. Đây là hướng đi lâu dài cho
kinh tế huyện đảo vì dịch vụ này chỉ cần diện tích, không dùng đến các nguồn tài nguyên
khác, nên rất thích hợp với huyện đảo Lý Sơn và có thể xây dựng kho bãi tập kết trang thiết bị
thăm dò này trên núi Thới Lới.
Tuy nhiên để phát triển ngành này cần có những đầu tư thích đáng về các phương tiện
kỹ thuật, cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng ngay trên đảo cũng như có mối liên kết với đất liền.
Ngoài những hướng dịch vụ kể trên, với vị thế của mình trên tuyến đảo - biển Nam
mực thẻ, mực nang vân hổ và bạch tuộc.
Nguồn lợi hải sản ở khu vực khá phong phú, có thể tập trung vào khai thác tiềm năng
của các nhóm cá san hô, ốc đụn cái, bào ngư, cua, trai ngọc, hải sâm, ở các rạn san hô với
nhưng quy hoạch đánh bắt hợp lý, bảo tổn nguồn gen và đa dạng sinh học, sinh thái cảnh của
rạn san hô, nhằm khai thác lâu dài.
3.2.4. Giải pháp thực hiện
Để các định hướng thực hiện được nhằm mục tiêu phát triển bền vững đảo Lý Sơn,
cần có các giải pháp cụ thể và cần phải thực hiện đồng bộ như sau:
3.2.4.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường và giá trị
sinh thái
Nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của
biển, rừng với huyện đảo, nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường. Đầu tư cho việc nâng độ
khoa học và kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, thay đổi phương thức và canh tác cũ không
phù hợp bằng các phương thức canh tác khoa học, phù hợp.
Tăng cường trình độ khoa học kỹ thuật của ngư dân trong việc đánh bắt thủy hải sản.
Đào tạo đội ngũ cán bộ thích hợp cho sự phát triển của ngành du lịch.
3.2.4.2. Quy hoạch
Cần rà soát lại quy hoạch phát triển kinh tế đảo, trong đó quy hoạch sử dụng đất là tối
quan trọng, tiến đến là quy hoạch phát triển các ngành kinh tế theo hướng sinh thái bền vững
nhằm giảp áp lực lên các HST biển và trên đảo đó chính là kinh tế sinh thái. Cần quy hoạch
không trên trên đảo và vùng nước xung quanh theo hướng quản lý tổng hợp, tránh xung đột
lợi ích giữa các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội. Quy hoạch trên đảo cần phải nằm trong
19
quy hoạch chung của tỉnh Quảng Ngãi.
3.2.4.3. Tăng cường thể chế, chính sách
Với cách tiếp cận hệ thống, cần xem xét mối quan hệ kinh tế - xã hội của Lý Sơn với
kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy, trước hết cần phải xây dựng các cơ chế chính
sách phát triển kinh tế huyện theo hướng sinh thái bền vững và phù hợp với chiến lược phát
triển kinh tế biển đảo của tỉnh Quảng Ngãi.
20
Nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là nâng cao trình độ quan trí về vai trò của phát
triển kinh tế sinh thái hướng đến phát triển bền vững, bảo vệ môi trường là rất quan trọng.
Cùng với đó là đầu tư cho việc nâng cao trình độ khoa học và kỹ thuật trong sản xuất
nông nghiệp, thay đổi phương thức và tập quán canh tác cũ bằng các phương thức canh tác
khoa học, phù hợp với chức năng mới của nông nghiệp.
Tăng cường trình độ khoa học, kỹ thuật của ngư dân trong việc đánh bắt cá xa bờ.
Đào tạo đội ngũ cán bộ thích hợp cho sự phát triển của ngành DLST, nghỉ dưỡng,
chữa bệnh.
3.2.4.6. Tăng cường hợp tác quốc tế
Việc tăng cường hợp tác quốc tế nhằm
- Kết nối và vận dụng các kết quả nghiên cứu khoa học tiên tiến trên thế giới, nhằm
vận dụng có hiệu quả vào quá trình phát triển của đảo Lý Sơn
- Quảng bá hình ảnh với bạn bè quốc tế nhằm thu hút khách du lịch, tìm cơ hội thu hút
đầu tư;
- Trao đổi học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tư liệu học tập và đào tạo cán bộ
nhằm nâng cao năng lực quản lý;
- Hỗ trợ tuyên truyền nâng cao nhận thức, khẳng định chủ quyền Quốc gia, chủ quyền
vùng biển và lãnh thổ Việt Nam.
Các hình thức hợp tác quốc tế có thể thông qua tỉnh Quảng Ngãi, hoặc thông qua các
chương trình của Nhà nước, và tự tìm đối tác;
3.2.4.7. Tăng cường nghiên cứu khoa học
Trong KBT biển, cần tăng cường nghiên cứu khoa học nhằm phục vụ cho công tác bảo
tồn các giá trị đặc hữu, quý hiếm về tài nguyên sinh vật. Thông qua việc nghiên cứu khảo sát
để có thể có cơ sở cho việc phát hiện các bãi giông, bãi đẻ của các loài hải sản từ đó có các
biện pháp quản lý hữu hiệu hơn.
Cần nghiên cứu xây dựng thí điểm các mô hình DLST, mô hình phát triển dịch vụ cao
cấp như nghỉ dưỡng chữa bệnh, dịch vụ cung ứng,…trước khi đưa vào hoạt động có hiệu quả.
3. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể xem là những định hướng ban đầu cho mô
hình phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn. Các nhà quản lý cần nhìn nhận vấn đề này để có
thể ra quyết định đúng đắn trong quá trình lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng./.
References
22
Tài liệu tiếng Việt
1. Lê Đức An (2008). Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam: tài nguyên và phát triển. Nhà xuất
bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, tr. 1-15.
2. Nguyễn Tác An và cộng sự (2005). Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ và phục hồi hệ
sinh thái rạn san hô, cỏ biển và khắc phục ô nhiễm môi trường biển tự sinh. Báo cáo tổng kết
đề tài KC 09-07, tr. 27-39.
3. Lê Huy Bá (2006). Du Lịch Sinh Thái ( Ecotourism). Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội, tr. 15-35.
4. Đoàn Văn Bộ và cộng sự (2010). Quy trình công nghệ dự báo cá khai thác phục vụ
nghề đánh bắt xa bờ” của ngư dân miền Trung, Đề tài KC – 09-14/06-10, tr. 100.
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2006). Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển
Việt Nam đến 2010, định hướng 2020, Hà Nội, tr. 20-25.
6. Cục Thống kê Quảng Ngãi (2011). Niên giám thống kê, Quảng Ngãi 2009, 2010. 2011.
7. Chương trình các khu bảo tồn của IUCN (2004). Khu bảo tồn biển của bạn hoạt động
như thế nào?, Hà Nội, tr. 15-18.
8. Chu Thế Cường, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Huy Yết (2005), Hiện trạng cỏ biển đảo
Lý Sơn – Quảng Ngãi, Hà Nội.
9. Phạm Hoàng Hải và cộng sự (2006). Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật Đề tài
Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội; thiết lập cơ sở khoa học và các giải
pháp phát triển kinh tế xã hội bền vững cho một số huyện đảo, Viện Địa lý, Viện Khoa học và
Công nghệ Vfiệt Nam, Hà Nội, tr. 266-285.
10. Phạm Văn Hiếu (2010), Báo cáo sơ bộ đa dạng sinh học đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi),
Hà Nội.
23. Robert Costanza, John H. Cumberland, Herman Daly, Robert Goodland, Richard B.
Norgaard Hardcover (1997). An Introduction to Ecological Economics, Gund Institute for
Ecological Economics .
24. Robert Costanza (1997). Ecological Economic – The Science and Management of
Sustainability. Columbia University Press.