Đánh giá đặc trưng trầm tích lơ lửng khu vực cửa sông ven biển hải phòng - Pdf 10

Đánh giá đặc trưng trầm tích lơ lửng khu vực
cửa sông ven biển Hải Phòng

Trần Anh Tú

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS Chuyên ngành: Hải dương học; Mã số: 60 44 97
Người hướng dẫn: GS. TS. Đinh Văn Ưu
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và điều kiện tự nhiên khu vực Hải
Phòng. Nghiên cứu tài liệu và phương pháp qua địa hình, khí tượng, thủy
hải văn, trầm tích lơ lửng, mô hình thủy động lực, mô hình lan truyền trầm
tích lơ lửng. Đánh giá hiện trạng trầm tích lơ lửng khu vực cửa sông ven
biển Hải Phòng: phân bố TTLL (Trầm tích lơ lửng) theo thời gian, đặc
điểm TTLL khu vực các sông Hải Phòng, đặc điểm TTLL khu vực xa bờ
Hải Phòng. Mô phỏng trầm tích lơ lửng khu vực cửa sông ven biển Hải
Phòng bằng mô hình delft3d.

Keywords: Hải dương học; Trầm tích; Cửa sông ven biển; Hải Phòng

Content
Các hiện tượng sa bồi luồng cảng, cửa sông, xói lở-bồi tụ bờ biển, độ đục
trong nước gia tăng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước các bãi tắm, khu nuôi trồng thủy
sản đều liên quan đến trầm tích lơ lửng (TTLL). Ngoài ra, những khu vực có giá trị hàm
lượng TTLL cao làm ảnh hưởng tới tầm nhìn xuyên suốt của khối nước, sự quang hợp
của thực vật và sự sống của các loài sinh vật trong môi trường nước.
Thành phố cảng Hải Phòng mỗi năm đều có sự đóng góp quan trọng của hai ngành
kinh tế đặc trưng là dịch vụ cảng biển và du lịch. Tuy nhiên, do đặc thù địa lý của vùng
cửa sông, khu vực ven biển thành phố Hải Phòng chịu ảnh hưởng nặng nề của dòng vật

Chƣơng 4: Mô phỏng trầm tích lơ lửng khu vực cửa sông ven biển Hải
Phòng bằng mô hình delft3d.
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC HẢI PHÒNG

I.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
I.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu sự phân bố trầm tích lơ lửng vùng cửa sông ven biển đã được các nhà
khoa học ngoài nước quan tâm từ hàng trăm năm nay và đạt được rất nhiều thành tựu
quan trọng. Các kết quả nghiên cứu này đã được áp dụng phục vụ cho việc bảo vệ các
công trình ven bờ và phát triển môi trường bền vững. Những nghiên cứu lý thuyết về
trầm tích (vận chuyển) đáng kể như các công trình của H.A. Einstein (1950), Krone và
Partheniades (1962, 1968), E.W. BijJker (1967, 1971), Leo C. Van Rijn (1993), J.W.
Vander Meer (1990), Richard Soulsby (1997).
Theo hướng mô hình hóa có 2 loại mô hình: Mô hình vật lý và mô hình toán.
Những trung tâm, viện hàng đầu về nghiên cứu, tính toán, dự báo các quá trình thủy-
thạch động lực, có thể kể đến là: Trung tâm Thủy lực Hà Lan (Delft Hydraulics) với bộ
các phần mềm DELFT3D, UNIBEST; Viện Thủy lực Đan Mạch (Danish Hydraulic
Instiute-DHI) nổi tiếng với các phần mềm: MIKE 21, MIKE 3, hay Trung tâm Nghiên
cứu Công trình Ven bờ thuộc Quân đội Mỹ (Coastal Engineering Research Center-
CERC) có các mô hình GENESIS, SBEACH; mô hình TELEMAC (Pháp), đều ứng
dụng tốt cho tính toán dòng chảy, sóng, vận chuyển bùn cát, biến động địa hình đáy biển,
đường bờ, bồi lấp cửa sông. Ngoài ra, một số các mô hình có mã nguồn mở như
COHERENS (Bỉ), SHYFEM (Italia) cũng phát triển không kém các phần mềm nói trên.

I.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề nghiên cứu trầm tích lơ lửng và các quá trình động lực bằng mô hình hóa ở
Việt Nam đã được bắt đầu phát triển từ khoảng đầu năm 1980 [10] và được tiếp tục chú
trọng trong Chương trình Biển KT.03 (1991-1995); KHCN.06 (1996-2000); TTLL liên
quan đến xói lở bờ biển còn được đặt ra trong khuôn khổ đề tài độc lập cấp nhà nước và

Bắc Bộ. Chế độ khí hậu khu vực về cơ bản có thể chia thành hai mùa: mùa đông có đặc
điểm lạnh, khô và mưa ít trong khi mùa hè có đặc điểm nóng, ẩm và mưa nhiều. Nhiệt độ
không khí trung bình năm ở khu vực này dao động trong khoảng từ 22,5-30,0
0
C. Lượng
mưa trung bình nhiều năm ở vùng ven biển Hải Phòng khá lớn với giá trị từ 1.600 -
2.000mm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều mà chủ yếu tập trung vào các tháng
mùa hè, cao nhất vào tháng 8 đạt trên 200mm.Chế độ gió khu vực ven biển Hải Phòng
thể hiện rõ rệt sự ảnh hưởng hoàn lưu chung của khí quyển và thay đổi theo mùa. Về mùa
đông thịnh hành gió hướng bắc và đông bắc, vận tốc gió trung bình dao động trong
khoảng 3,2-3,7m/s, mạnh nhất có thể đạt tới 25-30m/s. Vào mùa hè, chế độ gió ở khu vực
này chịu sự chi phối của hệ thống gió mùa tây nam, hướng gió chủ yếu là đông nam và
nam, tốc độ gió trung bình khoảng 3,5-4,0 m/s, cực đại đạt 20 - 25m/s. Khu vực Hải
Phòng trong giai đoạn 1945-2007, có 53 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp và các tỉnh/thành
lân cận.
Khu vực nghiên cứu chịu tác động trực tiếp từ nguồn cung cấp nước và trầm tích
của các sông chính chảy vào. Các sông này đều là phần hạ lưu cuối cùng trước khi đổ ra
biển của hệ thống sông Thái Bình, gồm các sông Bạch Đằng, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc
và Thái Bình. Thủy triều vùng ven biển Hải Phòng là nhật triều thuần nhất, với biên độ
dao động mực nước từ 2 - 4 m. Dòng chảy ven bờ Hải Phòng là dòng chảy tổng hợp, gồm
các thành phần dòng chảy triều, gió, sóng, dòng chảy sông và cả những tính chất của
dòng chảy vịnh Bắc Bộ. Dòng chảy ở các khu vực cửa sông thường chịu ảnh hưởng mạnh
của sông, trong khi ở phía ngoài biển dòng chảy tầng mặt chủ yếu do gió gây ra. Trong
trường gió đông bắc, dòng chảy tầng mặt dọc bờ có hướng thống trị là từ bắc xuống nam
còn trong trường gió đông nam, dòng chảy tầng mặt dọc bờ thể hiện nhiều hướng khác
nhau tùy thuộc vào cươ
̀
ng đô
̣
do


II.2. Phƣơng pháp
II.2.1. Mô hình thủy động lực
Cơ sở toán học của mô hình thuỷ động lực là giải phương trình Navier Stokes với
chất lỏng không nén được trong nước nông và phương pháp xấp xỉ Boussinesq. Sự biến
đổi của thành phần vận tốc thẳng đứng trong phương trình động lượng được bỏ qua. Với
mô hình 3 chiều, thành phần vận tốc thẳng đứng được tính toán từ phương trình liên tục
[30].
Theo phương nằm ngang, tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể tại mỗi khu vực tính,
một trong các hệ toạ độ chủ yếu sau có thể được sử dụng:
- Hệ toạ độ Đề các (Cartesian): (x,y). Dùng cho các vùng tính có địa hình và đường bờ
đơn giản.
- Hệ toạ độ cong trực giao: (

,
). Sử dụng cho những khu vực có địa hình và đường bờ
phức tạp như các vùng cửa sông, ven biển, các vũng vịnh v.v.
- Hệ toạ độ cầu: (

,
). Áp dụng cho những khu vực rộng lớn, trải dài trên nhiều kinh - vĩ
độ khác nhau.
Phương trình liên tục (viết trong hệ toạ độ cong trực giao):
   
Q
GVd
GG
GUd
GG
t


0
1
)(

trong đó:

,
lµ c¸c hÖ sè trong hÖ to¹ ®é cong trùc giao.

GG ,
là các hệ số chuyển đổi từ hệ toạ độ Đề Các sang hệ tạo độ cong trực
giao.
d là độ sâu tại điểm tính (độ sâu của nước dưới đường chuẩn (0 hải đồ))


là mực nước tại điểm tính (mực nước trên một đường chuẩn)
U, V lần lượt là các thành phần vận tốc theo các hướng

,

q
in
và q
out
lần lượt là nguồn nước đưa vào và ra trên 1 đơn vị thể tích
H là độ sâu tại điểm tính (H=d +

)
P, E lần lượt là lượng mưa và bốc hơi.


















2




M
u
v
d
FP
G
v


t
v



























2

Phương trình viết cho thành phần vận tốc theo phương thẳng đứng:
   
)(
)(
1
)(
1
outin
qqH
Gvd
GG
Gud
GG
t







































Cu
z
C
D
z
Cu
y
C
































sed
x (IM1) (g/m
2
/ngày)
Trong đó : V
sed
là : vận tốc lắng đọng trầm tích
IM1 là : nồng độ vật chất vô cơ
P
sed
là : khả năng lắng đọng và được tính theo công thức :
P
sed
=









sed
cr
Tau
Tau
1,0max
(8)
Ngược lại, quá trình xói xảy ra khi ứng suất xung quanh cao hơn ứng suất tới hạn cho

Tau
Tau
res
cr
(9)
Trong đó: IM1 là hàm lượng trầm tích lơ lửng; P
sed
- xác suất xảy ra quá trình lắng
đọng trầm tích; V
sed
- Vận tốc lắng đọng; Tau-ứng suất xung quanh; Tau
cr
sed
-ứng suất tới
hạn cho quá trình lắng đọng trầm tích; Tau
cr
res
-ứng suất tới hạn cho quá trình tái lơ lửng;
P
res
-xác suất xảy ra quá trình tái lơ lửng; Z
res
- tốc độ tái lơ lửng từ bề mặt đáy. Ứng suất
xung quanh (Tau) phụ thuộc vào các quá trình động lực sóng, gió, dòng chảy, mực nước,
độ nhám đáy.

CHƢƠNG III. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TRẦM TÍCH LƠ LỬNG KHU
VỰC CỬA SÔNG VEN BIỂN HẢI PHÒNG
III.1. Phân bố TTLL theo thời gian
Dựa trên chuỗi số liệu quan trắc trong giai đoạn 1996-2010 (15 năm), học viên đã

Phòng trong đợt khảo sát năm 2009 dao động từ 28,05 - 99,1 mg/l trong mùa mưa và từ
20,26 - 68,34mg/l trong mùa khô. Hàm lượng TTLL trong nước biển năm 2009 khu vực
Hải Phòng có xu hướng tăng cao trong nước tầng đáy, mùa mưa lớn hơn mùa khô. Xét
theo các mặt cắt, nhận thấy sự phân bố hàm lượng TTLL theo các mặt cắt khá phức tạp,
không tuân theo quy luật chung là giảm từ bờ ra khơi. Điều này cho thấy sự vận chuyển
trầm tích lơ lửng vùng ven biển Hải Phòng khá phức tạp, ngoài nguồn do sông đưa ra còn
chịu ảnh hưởng của chế độ triều, chế độ dòng chảy sông và các chế độ thuỷ động lực
khác. Theo bảng 3.2 cho thấy vào mùa mưa mặt cắt 3 có giá trị TTLL trung bình lớn nhất
(62,14 mg/l) sau đó đến các mặt cắt 5, mặt cắt 4, mặt cắt 1, mặt cắt 2 (34,78 mg/l). Vào
mùa khô mặt cắt 5 có giá trị TTLL trung bình lớn nhất (43,08 mg/l) sau đó đến các mặt
cắt 1, mặt cắt 4, mặt cắt 3, mặt cắt 2 (26,41 mg/l).
Khu vực phía bắc quần đảo Long Châu có giá trị TSS trung bình tầng mặt bằng
26,15 mg/l và trung bình tầng đáy bằng 27,25 mg/l trong mùa mưa. Khu vực bãi tắm Cát
Cò I (đảo Cát Bà) có giá trị TSS tầng mặt và tầng đáy lần lượt bằng 27,8 và 30,2 mg/l.
Phía tây nam đảo Cát Bà có giá trị TSS tầng mặt và tầng đáy lần lượt bằng 37,6 và 38,3
mg/l. Nhìn chung, giá trị hàm lượng TTLL khu vực xa bờ Hải Phòng còn thấp hơn GHCP
so với QCVN10: 2008/BTNMT.
Dựa trên các số liệu quan trắc trung bình tầng đáy và tầng mặt, bức tranh về phân
bố TTLL theo không gian trong mùa khô khu vực trung tâm có giá trị 30 mg/l, phía
đông bắc có giá trị trong khoảng 35-40 mg/l, các vùng cửa sông (Cấm Bạch Đằng) phía
bắc mũi Đồ Sơn có giá trị trong khoảng 35-80 mg/l và phía nam (cửa sông Văn Úc, Thái
Bình) mũi Đồ Sơn có giá trị trong khoảng 35-60 mg/l. Trong mùa mưa, khu vực trung
tâm có giá trị 30-35 mg/l, phía đông bắc có giá trị trong khoảng 40-45 mg/l, khu vực cửa
sông Cấm-Bạch Đằng có giá trị trong khoảng 45-120 mg/l (Hình 3.10). Đây là những giá
trị làm cơ sở cho việc tiến hành mô phỏng TTLL (chương IV) khu vực nghiên cứu theo
đặc trưng mùa.

CHƢƠNG IV. MÔ PHỎNG TRẦM TÍCH LƠ LỬNG KHU VỰC CỬA
SÔNG VEN BIỂN HẢI PHÒNG BẰNG MÔ HÌNH DELFT3D
IV. 1. Triển khai mô hình thủy động lực

- Mùa mưa (từ ngày 01 đến ngày 31 tháng 8 năm 2010)
Bước thời gian chạy của mô hình thủy động lực là 0,5 phút.
Hiệu chỉnh và kiểm nghiệm các kết quả của mô hình
Sau lần hiệu chỉnh cuối, các kết quả tính toán cho thấy sai số bình phương trung bình
của mực nước tính từ mô hình và bảng dự báo thủy triều trong mùa mưa và khô lần lượt
là 0,29 m và 0,37 m.
Dao động mực nước tính từ mô hình với mực nước thực đo cho thấy có sự phù hợp
nhất định cả về pha triều và độ lớn (Hình 4.1). Các kết quả sau lần hiệu chỉnh cuối cùng
cũng đã cho thấy sự phù hợp tương đối giữa tính toán và số liệu quan trắc thực tế.

a) Tháng 3 năm 2010

b) Tháng 8 năm 2010
Hình 4.1. Đƣờng quá trình mực nƣớc giữa thực đo và kết quả tính từ mô hình tại
Trạm Hòn Dấu
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31
thời gian
mực nước (m)
mô hình thực đo
0
0.5

mét), còn kết quả từ mô hình là tính cho trung bình cả cột nước. Đây cũng là một hạn chế
trong quá trình tính toán nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

IV.3. Kết quả tính toán
IV.3.1. Dòng chảy
 Mùa khô: vào mùa khô, sự biến đổi mùa của trường gió và suy giảm đáng kể lưu
lượng nước từ các sông đưa ra cũng đã tạo ra sự khác biệt tương đối của trường dòng
chảy so với mùa mưa. Ở thời kỳ cuối pha triều lên và nước lớn, vận tốc dòng chảy khá
nhỏ, sự ảnh hưởng của khối nước sông vào thời điểm này rất hạn chế nên khối nước biển
xâm nhập sâu hơn vào phía trong các cửa sông. Thời gian chuyển pha giữa nước lớn và
thời điểm triều xuống khá nhỏ, trong khoảng 2 giờ. Trong thời điểm nước ròng, trường
dòng chảy khu vực ven biển Hải Phòng có vận tốc khá nhỏ - khoảng 0,1 đến 0,2 m/s và
phân tán mạnh về hướng chảy. Cũng do tải lượng nước của các sông nhỏ nên thời gian
dừng chảy vào thời điểm nước ròng ngắn hơn, trường dòng chảy nhanh chóng chuyển
trạng thái từ dừng chảy thành chảy lên. Khu vực sông Bạch Đằng có vận tốc 0,7-0,8 m/s
và giảm dần đến Đình Vũ với vận tốc dòng chảy là 0,2-0,4 m/s. Phía Đông Bắc khu vực
nghiên cứu do lượng nước từ Quảng Ninh đưa sang ít và lưu lượng từ sông Chanh chảy
ra thấp nên tốc độ dòng chảy trong mùa khô chỉ đạt từ 0,1-0,2 cm/s.
Kết quả mô phỏng trường dòng chảy trong pha triều lên vào mùa khô cho thấy sự
ảnh hưởng sâu hơn vào lục địa của các khối nước biển, đặc biệt là khu vực cửa Bạch
Đằng. Hướng dòng chảy ở vùng phía ngoài các cửa sông khá đồng nhất và định hướng về
phía trong các sông. Tuy nhiên cũng chỉ đến khu vực Đình Vũ với vận tốc 0,2-0,3 m/s,
vào sâu hơn là ảnh hưởng của dòng chảy sông Bạch Đằng với vận tốc 0,5-0,7 m/s.
Với hình dạng đường bờ, trong mùa khô xu hướng di chuyển của các khối nước ở
khu vực nghiên cứu vẫn là về phía nam và tây nam bán đảo Đồ Sơn nhiều hơn. Mặc dù
tải lượng nước từ sông đưa ra trong mùa khô giảm mạnh nhưng sự tăng cường của gió
đông bắc làm cho xu hướng này trong mùa khô cũng được thể hiện rõ rệt.
 Mùa mưa: vào mùa mưa do lưu lượng nước sông lớn nên trong pha triều lên, vận tốc
của dòng chảy từ biển hướng vào phía các cửa sông có giá trị nhỏ. Trong pha triều này,
hướng dòng chảy chủ yếu là nam - đông nam với giá trị vận tốc biến đổi từ 0,2-0,7m/s. Ở

vậy sự suy giảm của nguồn trầm tích lơ lửng và tải lượng nươ
́
c t ừ các sông đưa ra làm
cho ảnh hưởng của các khối nước biển có hàm lượng TTLL thấp trở lên mạnh mẽ, vùng
nước có hàm lượng TTLL thấp tiến khá sâu vào các lòng sông trong khu vực nghiên cứu,
nhất là các sông có tải lượng nước thấp như Lạch Tray.
Ở khu vực phía tây nam đảo Cát Bà, hàm lượng TTLL ở khu vực này khá nhỏ với
giá trị dao động dưới 10mg/l. Điều này có thể giải thích như sau, đây là nơi ít chịu ảnh
hưởng do các nguồn trầm tích từ lục địa đưa ra so với các khu vực còn lại trong phạm vi
tính toán và trong cả hai mùa giá trị TTLL đều ổn định.
Ở khu vực phía nam và tây nam đảo Cát Hải, do vị trí gần các cửa sông của phía bắc
bán đảo Đồ Sơn hơn nên hàm lượng TTLL trong nước giảm dần từ các cửa sông đó cho
đến khu vực này còn dao động trong khoảng 5-30mg/l. Biến thiên theo thời gian của hàm
lượng TTLL phụ thuộc chặt chẽ vào dao động mực nước và thể hiện vai trò của dòng
trầm tích từ lục địa. Giá trị hàm lượng TTLL thường đạt cực đại khi nước ròng và giảm
dần khi thủy triều tăng lên đến khi cực tiểu hàm lượng vào gần các thời điểm nước lớn.
Biến thiên của hàm lượng TTLL cũng mạnh hơn vào những ngày triều cường. Vào ngày
tính toán cuối cùng khu vực phía nam đảo Cát Hải TTLL có giá trị trong khoảng 40-45
mg/l, khu vực vụng Cát Bà (các khu nuôi trồng thủy sản, bãi tắm) có giá trị 25-30 mg/l.
 Mùa mưa: vào mùa mưa hàm lượng TTLL trong các sông của khu vực nghiên cứu
đều có giá trị lớn hơn 100 mg/l. Khu vực sông Cấm có hàm lượng trầm tích cao hơn các
sông khác. Với những đặc điểm đó các kết quả mô phỏng phân bố TTLL trong mùa mưa
2010 cho thấy vùng nước có hàm lượng TTLL cao chủ yếu xuất hiện ở khu vực cửa Nam
Triệu và sông Cấm với sự ảnh hưởng lần lượt từ các nguồn trầm tích từ phía thượng
nguồn. Do ảnh hưởng của trường dòng chảy nên phân bố và biến động TTLL ở vùng cửa
sông ven biển khu vực nghiên cứu chủ yếu theo pha dao động của mực nước triều. Sự
phát tán tán của TTLL từ các sông ra vùng ven biển bị hạn chế nhất và chỉ tập trung ngay
sát ở các cửa sông. Trong khi đó các khu vực còn lại bị các khối nước biển với hàm
lượng TTLL khá nhỏ (< 30mg/l).
Biến đổi theo thời gian của hàm lượng TTLL: ở khu vực phía tây nam đảo Cát Bà,

hướng lan truyền chính là hướng đông nam với hàm lượng có thể đạt 120 mg/l (pha triều
xuống). Phạm vi lan truyền TTLL có giá trị > 100 mg/l qua khu vực đảo Hòn Dấu, tuy
nhiên trong suốt quá trình tính toán, khu vực Bến Gót không có hiện tượng này xảy ra và
đặc biệt khu vực phía tây đảo Cát Bà giá trị lớn nhất cũng chỉ đạt 30 mg/l.
 Trong thời gian tiếp theo, học viên sẽ tiến hành nghiên cứu sự phân tầng của trường
dòng chảy khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng và tính toán trầm tích lơ lửng có tính
đến các hoạt động kinh tế-xã hội (nguồn thải).

References
1. Đỗ Trọng Bình, Trần Anh Tú, Vũ Duy Vĩnh (2010). Nghiên cứu đánh giá lan truyền
các chất gây ô nhiễm khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng bằng mô hình toán học.
Báo cáo tổng hợp Đề tài cấp Thành phố Hải Phòng. Mã số: ĐT.MT.2008.500.
2. Đỗ Đình Chiến, Vũ Duy Vĩnh, Trần Anh Tú (2005). Mô phỏng quá trình vận
chuyển và phân bố trầm tích lơ lửng khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng bằng mô
hình delft-3D. Báo cáo tổng kết Nhiệm vụ cơ sở năm 2005. Lưu trữ tại Viện
TN&MTB.
3. Cục Môi trường, 1999-2008. Báo cáo quan trắc môi trường biển hàng năm. Trạm
Quan trắc và phân tích môi trường biển miền Bắc, từ năm 1999 đến 2008. Lưu trữ
tại Viện tài nguyên và Môi trường biển.
4. Nguyễn Đức Cự (2011). Nghiên cứu, đánh giá tác động của các công trình hồ chứa
thượng nguồn đến diễn biến hình thái và tài nguyên - môi trường vùng cửa sông
ven biển đồng bằng Bắc Bộ . Báo cáo tổng hợp Đề tài độc lập cấp Nhà nước (Mã số:
ĐTĐL. 2009T/05).
5. Nguyễn Đức Cự, Nguyễn Văn Thảo, Vũ Duy Vĩnh (2011). Nghiên cứu đánh giá tác
động thủy thạch - động lực của hệ thống đê quai lấn biển phục vụ xây dựng Sân bay
quốc tế tại khu vực ven bờ Tiên Lãng - Hải Phòng. Báo cáo tổng hợp Nhiệm vụ cấp
thành phố Hải Phòng.
6. Lưu Văn Diệu, Nguyễn Chu Hồi, Nguyễn T. P. Hoa (2001). Đánh giá mức độ ô
nhiễm do nguồn thải từ lục địa, đề xuất giải pháp kiểm soát, quản lý ô nhiễm nguồn
lục địa đưa ra một số khu vực cửa sông ven biển phía bắc (từ Quảng Ninh đến

17. Takashi TAKANEZAWA (2000). NAOTIDE User manual.
18. Trần Hồng Thái, Lê Vũ Việt Phong, Nguyễn Thanh Tùng, Phạm Văn Hải (2010).
Mô phỏng, dự báo quá trình vận chuyển bùn cát lơ lửng khu vực Cửa Ông. Tuyển
tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10, Viện Khoa học KTTV&MT; tr. 332-341.
19. Trần Đức Thạnh, Nguyễn Đức Cự, Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Đình Chiến (2001). Nghiên
cứu dự báo, phòng chống sạt lở biển Bắc Bộ từ Quảng Ninh tới Thanh Hoá. Báo
cáo tổng hợp Đề tài cấp Nhà nước (Mã số: KHCN.5A).
20. Trần Đức Thạnh, Đỗ Đình Chiến, Trần Anh Tú, Nguyễn T. Kim Anh (2007). Xây
dựng mô hình lan truyền chất ô nhiễm cho Vịnh Hạ Long - Vịnh Bái Tử Long. Báo
cáo tổng hợp Dự án cấp tỉnh Quảng Ninh.
21. Trần Đức Thạnh, Vũ Duy Vĩnh, Yoshiki Saito, Đỗ Đình Chiến, Trần Anh Tú
(2008). Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của đập Hòa Bình đến môi trường trầm tích
ven bờ châu thổ sông Hồng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển (Phụ trương 3
(T.8)/2008); tr. 01-17.
22. Trần Đức Thạnh, Nguyễn T. P. Hoa, Cao T. T. Trang (2008). Đánh giá tình trạng ô
nhiễm và suy thoái môi trường khu vực cửa sông Cấm - Bạch Đằng và đề xuất các
giải pháp bảo vệ. Báo cáo tổng hợp Nhiệm vụ cấp Viện KH&CNVN.
23. Cao T. T. Trang, Vũ Thị Lựu (2007). Đánh giá khả năng tích tụ và phân tán các
chất ô nhiễm vùng cửa sông ven biển Việt Nam. Báo cáo tổng hợp Đề tài cấp Viện
KH&CNVN.
24. Cao T. T. Trang, Nguyễn T. P. Hoa, Dương Thanh Nghị (2009). Đánh giá sức tải
môi trường đảo Cát Bà và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững. Báo cáo tổng
hợp Đề tài cấp Thành phố Hải Phòng (Mã số: ĐT.MT.2006.442).
25. Cao T. T. Trang, Nguyễn Mạnh Thắng, Lê Xuân Sinh (2009). Thử nghiệm đánh giá
sức tải môi trường của sông Bạch Đằng và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi
trường, phát triển bền vững. Báo cáo tổng hợp Đề tài cấp Viện KH&CNVN.
26. Trần Anh Tú, Vũ Duy Vĩnh (2011). Mô phỏng sự lan truyền các chất gây ô nhiễm
khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng. Hội nghị Khoa học và công nghệ biển toàn
quốc lần thứ V, Hà Nội. Tập Quyển 2, tr. 163-170.
27. U.S. Army Corps of Engineers (2002). Coastal Engineering Manual. EM 1110-2-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status