Đánh giá mức độ ô nhiễm nicotin trong môi trường khí nơi sản xuất thuốc lá và tác động của nó đến sức khỏe người lao động - Pdf 10

Đánh giá mức độ ô nhiễm Nicotin trong môi
trường khí nơi sản xuất thuốc lá và tác động
của nó đến sức khỏe người lao động

Bùi Thị Kiều Trang

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Khoa Môi trường
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đỗ Quang Huy
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Trình bày về nguồn gốc, cấu tạo và tính chất hóa lý của nicotin. Tìm hiểu
về thuốc lá, hiện trạng sản xuất và sử dụng thuốc lá trên thế giới và Việt Nam.
Nghiên cứu hàm lượng nicotin trong môi trường không khí của nhà máy sản xuất
thuốc lá. Xác định hàm lượng nicotin trong máu của người lao động làm việc tại các
bộ phận trong nhà máy sản xuất thuốc lá. Tìm hiểu mối liên quan giữa hàm lượng
nicotin trong không khí và hàm lượng nicotin trong máu với tình trạng bệnh lý của
người lao động.

Keywords. Khoa học môi trường; Ô nhiễm môi trường; Ô nhiễm không khí;
Nicotin; Người lao động

Content

Mở đầu
Thuốc lá là một trong những sản phẩm có số người sử dụng nhiều trên thế giới. Việc
sản xuất thuốc lá tuy không được khuyến khích nhưng ngày càng phát triển và mở rộng cùng
với sự gia tăng mạnh về thị trường tiêu thụ. Ngành công nghiệp thuốc lá đã mang lại lợi ích
không nhỏ về kinh tế cũng như xã hội cho nhiều quốc gia. Tuy nhiên, xét về mặt tác hại thì

tím và ớt Bell. Nicotin là tên gọi được đặt theo tên của một nhà ngoại giao người Pháp Nicot
(1530 - 1600), ông đã gửi thuốc lá và hạt của nó từ Bồ Đào Nha tới Paris vào năm 1550 và cổ
vũ cho các ứng dụng y tế của nó. Nicotin được các nhà hoá học người Đức, Posselt &
Reimann chiết xuất ra khỏi cây thuốc lá vào năm 1828. Công thức hoá học của nicotin được
Melsen miêu tả vào năm 1843, được A.Pictet và Crepieux tổng hợp lần đầu tiên vào năm
1893.
Cơ quan Kiểm soát Dược và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp nicotin vào nhóm các
chất có tính chất dược lý gây nghiện chủ yếu, tương tự như các heroin và cocain. Nicotin rất
độc, trước hết nó là một chất độc thần kinh, ảnh hưởng lên các hệ thần kinh thực vật và hệ
thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể nicotin trên các cấu trúc não gây kích
thích và làm tê liệt hệ thần kinh.
Ngoài ra, nicotin còn ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn như: thay đổi huyết áp, tăng thể
tích tim, gây tổn thương hệ tim mạch, tác động trực tiếp lên cơ tim, thành mạch. Ảnh hưởng
tới quá trình cấu tạo tế bào máu. Gây đột biến gen, biến đổi chromosomal, mạng lưới
chromatit và các axit nucleic trong tế bào lympho của máu ngoại vi.
Nicotin có thể gây nhiễm độc hoặc gây tử vong (do hấp thụ bằng đường tiêu hóa).
Một điếu thuốc có từ 1 - 3mg nicotin, một giọt nicotin có thể gây chết một con thỏ hay một
con chó, 7 giọt nicotin làm chết một con ngựa, một giọt tiêm vào tĩnh mạch gây chết người.
Người lớn chết khi cơ thể hấp thụ 15 - 20 gam nicotin, trẻ em chỉ cần vài gam cũng có thể
gây chết vì nó tăng bệnh tim mạch, ung thư…. Nicotin làm cản trở đáp ứng thở của trẻ bình
thường, làm giảm các cảm thụ thể (ảnh hưởng đến việc báo động cho cơ thể tình trạng thiếu
oxi khi ngủ) ở trẻ, nhất là dưới 6 tháng tuổi, dẫn đến nguy cơ đột tử ở trẻ.
Nicotin là chất chủ yếu tác động lên não bộ, thay đổi tâm thế con người, gây cảm giác
thèm ăn, và sự tỉnh táo theo những cách mà con người tìm thấy sự thoải mái và có lợi.
Nicotin có khả năng gây nghiện cao, khi bị nghiện sẽ phải gắn bó với nó một cách
thường xuyên và càng ngày càng nhiều. Mỗi năm có khoảng 35 triệu người nỗ lực từ bỏ
thuốc lá. Tuy nhiên chưa đến 7% trong số này thành công trong việc cai nghiện với khoảng
thời gian nhiều hơn một năm, và hầu hết đều bắt đầu hút thuốc trở lại trong vòng vài ngày.
Đối với người mới hút thuốc, hệ phó thần kinh giao cảm bị kích thích, toát mồ hôi,
lạnh, buồn nôn, hạ huyết áp, tim đập nhanh, ngất lịm. Đối với người nghiện thuốc lá hay

đào thải nicotin ra nước tiểu dưới dạng cotinin với thời gian bán hủy kéo dài (20 giờ).
1.2. Tìm hiểu về thuốc lá, hiện trạng sản xuất và sử dụng trên thế giới và ở Việt Nam
Tổ chức sức khỏe thế giới (năm 1990) đã đưa ra định nghĩa về cây thuốc lá như sau:
“thuốc lá là một loài cây độc, nhất là những lá già, có hàm lượng nicotin cao đóng vai trò là
hoạt chất chính của thuốc lá hay thuốc lào”.
Cây thuốc lá có nguồn gốc Nam Mỹ và có lịch sử trồng trọt cách đây khoảng 4000
năm, từ Nam Mỹ cây thuốc lá được đem đi trồng khắp nơi trên thế giới thuộc châu Á, châu
Mỹ, châu Âu, châu Phi.
Thuốc lá là tên gọi của một loại sản phẩm được làm chủ yếu từ nguyên liệu lá cây
thuốc lá đã thái sợi, được cuốn hay nhồi định hình bằng giấy, có dạng hình trụ (thường có độ
dài dưới 120mm, đường kính khoảng 10mm). Thuốc lá điếu thường được đốt cháy ở một
đầu, để cháy âm ỉ nhằm mục đích tạo khói và khói này theo dòng khí vào miệng người hút từ
đầu đối diện (thường có gắn đầu lọc). Một điếu thuốc lá có chứa từ 1mg đến 3mg nicotin.
Từ thế kỷ XIX, việc sử dụng thuốc lá đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu, với
quy mô lớn. Ngày nay, có khoảng 1,1 tỷ người trên thế giới hút thuốc lá. Trong số này, có
80% người hút thuốc sống tại các nước có thu nhập trung bình và thấp, với số lượng 933 triệu
người và chỉ có 20% người hút thuốc sống tại các nước có thu nhập cao với khoảng 209 triệu
người.
Tỷ lệ hút thuốc theo vùng cũng rất khác nhau ở cả hai nhóm nam và nữ. Tuy nhiên, tỷ
lệ hút thuốc trong nữ giới có sự khác biệt rõ ràng giữa các vùng. Tại Đông Âu và Trung Á,
trong năm 2001 có 59% nam giới và 26% nữ giới hút thuốc, cao hơn tất cả các khu vực khác.
Tại Đông Á và Thái Bình Dương, tỷ lệ hút thuốc trong nam giới khá cao ở mức 59% trong
khi tỷ lệ hút thuốc của nữ chỉ có 4%. Đi đôi với nó là tổng số điếu thuốc lá tiêu thụ bình quân
của một người trưởng thành cũng gia tăng. Theo số liệu thống kê, thế giới sản xuất ra 5,5
nghìn tỷ điếu thuốc lá mỗi năm.
Theo thống kê của WHO, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì sẽ có khoảng
10% dân số hiện nay nghĩa là vào khoảng 7,5 triệu người Việt Nam sẽ chết sớm vì các bệnh
liên quan đến thuốc lá, trong đó có 3,7 triệu người chết ở độ tuổi trung niên.
Số liệu ước tính mới đây (năm 2006) cho thấy tỷ lệ hút thuốc ở nam giới ở Việt Nam
là hơn 49%. Trong số những người trẻ (từ 25 đến 45 tuổi) tỷ lệ hút thuốc thậm chí còn cao

Phương pháp sắc ký khí

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được chọn là Nicotin trong không khí nơi sản xuất thuốc lá và khu vực
xung quanh; trong máu người làm trong môi trường sản xuất thuốc lá và người hút thuốc lá.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu là nicotin trong môi trường không khí và nicotin trong máu,
lựa chọn phương pháp sắc ký khí với detectơ cộng kết điện tử (GC/ECD) và phương pháp sắc
ký khí khối phổ (GC-MS), phương pháp chiết lỏng - lỏng là các phương pháp chính sử dụng
trong nghiên cứu. Các phương pháp lựa chọn này cho hiệu suất và độ thu hồi cao, ngưỡng
phát hiện thấp, quy trình đơn giản; thiết bị sử dụng trong nghiên cứu thông dụng ở các phòng
thí nghiệm tại Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp chiết lỏng -
lỏng, các phương pháp lấy mẫu khí, mẫu máu
Thực nghiệm
Quá trình tiến hành thực nghiệm được thực hiện tại phòng nghiên cứu độc chất thuộc
Trung tâm Giáo dục và Phát triển sắc ký - Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Xây dựng đường ngoại chuẩn của nicotin
3.1.1. Đường ngoại chuẩn xác định nicotin trong mẫu khí
Phương trình định lượng nhận được từ đường ngoại chuẩn để xác định nicotin trong
không khí có dạng:
y = 7886x + 37475, R
2
= 0,996
Trong đó: x là nồng độ của chất chuẩn nicotin (x10
-3
mg/mL)
y là số đếm diện tích píc trên sắc đồ

cũng sẽ ảnh hưởng tới người lao động và người dân sống quanh nhà máy.
3.2.2. Kết quả phân tích tại khu vực sản xuất thuốc lá
Trong các mẫu nghiên cứu lấy tại cơ sở sản xuất, hàm lượng nicotin dao động rộng từ
0,015 mg/m
3
không khí (M22) đến 1,2 mg/m
3
không khí (M24). Như vậy, trong thực tế đã có
sự phát tán rộng nicotin trong môi trường không khí nơi có người lao động làm việc.
Mẫu M24 xác định thấy nồng độ nicotin cao nhất (1,2 mg/m
3
không khí), vượt quá
tiêu chuẩn cho phép (TCCP 3733/2002/QĐ-BYT cho phép nồng độ nicotin trong không khí
là 0,5 mg/m
3
), vì đây là mẫu lấy tại nơi có dây chuyền sản xuất thuốc lá thuộc công đoạn hấp
sợi. Do vậy sẽ làm phát thải ra nhiều chất khí độc hại trong đó có chứa nicotin, vì vậy kết quả
xác định nồng độ nicotin cao nhất.
Mẫu M22 xác định thấy nồng độ nicotin thấp nhất (0,015 mg/m
3
không khí), mẫu này
được lấy ở sân phía trước nhà hành chính, cách xa nơi sản xuất thuốc lá. Vị trí lấy mẫu ở sân
trước nhà hành chính thuộc phía cuối của hướng gió nên ít bị ảnh hưởng bởi khói thuốc lá
thải ra trong qúa trình sản xuất, vì nồng độ nicotin thấp. Nồng độ nicotin trong các mẫu khí
lấy trong khu vực nhà máy thuốc lá Thăng Long dao động rộng (từ 0,015 mg/m
3
không khí
đến 1,2 mg/m
3
không khí).

thuộc nhóm người làm việc tại Phân xưởng Bao mềm, trong đó có ba mẫu máu thuộc nhóm
người lao động làm việc tại Phòng nguyên liệu. Mẫu số 4 có nồng độ nicotin cao nhất (0,38
ng/mL) là mẫu máu của người lao động nữ làm việc tại Phân xưởng Bao mềm, có tuổi đời là
51, thâm niên công tác là 28 năm.
Do việc lấy mẫu máu phức tạp và gặp nhiều khó khăn nên chủ yếu tập trung lấy mẫu
máu của đối tượng nghiên cứu làm việc tại Phân xưởng Bao mềm, với khoảng độ tuổi giới
hạn trong khoảng từ 42 - 54 tuổi, thâm niên công tác nằm trong khoảng từ 24 - 34 năm.
3.3.4. Kết quả phân tích hàm lượng nicotin trong máu của 29 người điều trị bệnh tại Viện
Y học Cổ truyền Quân đội
Để có cơ sở so sánh nồng độ nicotin trong mẫu máu giữa người làm việc trực tiếp
trong nhà máy, tiến hành lấy mẫu máu của 29 người điều trị bệnh tại Viện Y học Cổ truyền
Quân đội. Đây là những người làm việc trong nhà máy thuốc lá và đã có các biểu hiện bệnh
lý về tim mạch, hô hấp, sạm da…,
Từ kết quả phân tích cho thấy nồng độ nicotin trong mẫu máu của những người đến
điều trị bệnh tại Viện Y học Cổ truyền Quân đội nằm trong khoảng từ 0,05 đến 0,75 ng/mL.
Trong đó, mẫu số 1 và mẫu số 77 có nồng độ nicotin cao 0,31 và 0,75 ng/mL thuộc người lao
động là nam giới, có tiền sử hút thuốc lá hàng ngày và không làm việc trong nhà máy sản
xuất thuốc lá. Có 3 mẫu có nồng độ nicotin lớn hơn 0,2 ng/mL, còn lại 26 mẫu có nồng độ từ
thấp hơn 0,2 ng/mL.
Mẫu máu của những người còn lại, mặc dù đã được Viện cho uống thuốc loại bỏ
nicotin ra khỏi cơ thể, nhưng vẫn khá cao so với những người không được uống thuốc đang
làm việc trực tiếp tại nhà máy sản xuất thuốc lá Thăng Long.
3.4. Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ nicotin trong máu và bệnh tật của người lao
động
Nicotin xâm nhập vào cơ thể qua nhiều con đường: qua đường hô hấp, qua đường tiêu
hóa, qua da. Cho dù đi vào cơ thể bằng con đường nào thì nicotin cũng đều gây ảnh hưởng
đến sức khỏe của người bị nhiễm nó với các mức độ khác nhau tùy thuộc vào nồng độ nicotin
có trong cơ thể.
Công nhân sản xuất thuốc lá làm việc trong nhà máy thuốc lá Thăng Long phần lớn
đều mắc bệnh về răng: sâu răng, viêm lợi.

những người chịu ảnh hưởng từ khói thuốc của những người hút thuốc lá, còn sức khỏe của
người lao động tại nơi sản xuất thuốc lá thì hầu như chưa được đề cập và chưa có biện pháp
giảm thiểu nào được đưa ra.
Để giảm thiểu tác động của các chất phát tán vào không khí do sản xuất thuốc lá gây
ra và ảnh hưởng của nicotin có trong môi trường không khí nói riêng đến sức khỏe người lao
động nơi sản xuất thuốc lá cần phải có chiến lược và biện pháp cụ thể.
Đối với nhiễm độc nicotin mãn tính không có thuốc điều trị giải độc đặc hiệu do vậy
chủ yếu là điều trị triệu chứng kết hợp với điều dưỡng nâng cao thể trạng.
Về dự phòng, cần lắp đặt các hệ thống thông hút gió có gắn với bộ phận hấp phụ khí
độc ở những nơi phát sinh hơi, bụi thuốc lá và đây chính là biện pháp hữu hiệu và quan trọng
nhất. Định kỳ tổ chức khám để phát hiện sớm tình trạng nhiễm độc nicotin nghề nghiệp ở
công nhân trực tiếp sản xuất, thường xuyên tiếp xúc với thuốc lá.
Trong nhà máy cần có những nơi để công nhân thực hiện vệ sinh cá nhân tốt nhất sau
mỗi ca làm việc trước khi về nhà, áp dụng chế độ ăn giữa giờ, uống sữa theo quy định về bảo
hộ lao động cá nhân. Định kỳ theo dõi, giám sát nồng độ nicotin trong không khí để có giải
pháp khắc phục kịp thời làm giảm nồng độ nicotin trong không khí ở dưới mức tiêu chuẩn vệ
sinh cho phép (dưới 0,5 mg/m
3
không khí).
Kết luận
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thu được có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Đã sử dụng phương pháp sắc ký khí với detector cộng kết điện tử (GC-ECD) và
detector khối phổ (GC/MS) để định lượng nicotin trong mẫu không khí và trong mẫu máu;
các phương pháp này cho kết quả xác định nicotin đáng tin cậy.
2. Đã tiến hành xác định nồng độ nicotin trong mẫu không khí lấy tại các phân xưởng
sản xuất của nhà máy thuốc lá Thăng Long và khu vực xung quanh. Nồng độ nicotin trong
không khí thuộc khu vực sản xuất thuốc lá nằm trong khoảng từ 0,015 đến 1,2 mg/m
3
, phần
lớn không vượt quá giới hạn cho phép (TCCP 3733/2002/QĐ-BYT là 0,5 mg/m

độc ở những nơi phát sinh hơi, bụi thuốc lá và đây chính là biện pháp hữu hiệu và quan trọng
nhất.
Định kỳ tổ chức khám để phát hiện sớm tình trạng nhiễm độc nicotin nghề nghiệp ở
công nhân trực tiếp sản xuất, thường xuyên tiếp xúc với thuốc lá.
Định kỳ theo dõi, giám sát nồng độ nicotin trong không khí để có giải pháp khắc phục
kịp thời làm giảm nồng độ nicotin trong không khí ở dưới mức tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
(dưới 0,5 mg/m
3
không khí).
Trong nhà máy cần có những nơi để công nhân thực hiện vệ sinh cá nhân tốt nhất, áp
dụng chế độ ăn giữa giờ, uống sữa theo quy định về bảo hộ lao động cá nhân.

References

Tiếng Việt
1. Hoàng Mai Anh, Nguyễn Hoài An, Lê Thị Thu (2003), Thuốc lá và các bệnh liên quan,
NXB Y học, Hà Nội.
2. Hoàng Mai Anh, Lê Thị Thu, Trần Tuấn, Hoàng Văn Kinh (2004), Thuốc lá và chi tiêu
cho các nhu cầu cơ bản ở Việt Nam.
3. Lê Huy Bá (2008), Độc chất môi trường, NXB Khoa học và kỹ thuật.
4. Bộ Công nghiệp-Tổng công ty thuốc lá Việt Nam (2001), Báo cáo tình hình thực hiện kế
hoạch năm 2000, số 132/LTVN-TC.
5. Bộ Công nghiệp (2006), Tình hình thực tế sản xuất và buôn bán thuốc lá, giai đoạn 2003 -
2005 và nửa đầu 2006, Hà nội.
6. Bộ Y tế (2000), Chính sách Quốc Gia phòng chống tác hại thuốc lá 2000 -2001.
7. Bộ Y tế (2003), Điều tra Sức khỏe Quốc gia Việt Nam (VNHS) 2001-2002, Hà nội.
8. Bộ Y tế - Ban phòng chống tác hại của thuốc lá (1999), Một số kết quả điều tra về tình
hình hút thuốc lá ở Việt Nam về các bệnh có liên quan, NXB Y học Hà Nội.
9. Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Dược liệu, tr. 8-48.
10. Nguyễn Thị Thu Hiền, Hoàng Văn Kình, Đặng Vũ Trung, Nguyễn Tuấn Lâm (2010),

học, tr.241-250.
25. Đào Hữu Vinh, Nguyễn Xuân Dũng, Trần Thị Mỹ Linh, Phạm Hoàng Việt (1985), Các
phương pháp sắc ký, NXB Khoa học Kỹ thuật, tr. 6-7.
26. Viện kinh tế kỹ thuật thuốc lá (2009), Tài liệu kỹ thuật công nghệ sản xuất thuốc lá-Phần
kĩ thuật công nghệ đại cương, Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, Hà Nội.
27. Phạm Hùng Việt (2005), Cơ sở lý thuyết của phương pháp sắc kí khí, NXB Khoa học và
kỹ thuật Hà Nội.

Tiếng Anh
28. Application Note - 650 of ThermoQuest Corporation, 9001 ISI Registered Company.
29. Centers for Disease Control and Prevention, World Health Organization. Global Youth
Tobacco Survey (GYTS) (2003), Atlanta: Centers for Disease Control and Prevention.
30. Efroymson D, Hoang M, Thu L, FitzGerald S, Jones L, Tuan T (2004), Tobacco over
Education - An Examination of Opportunity Losses for Smoking Households, Hanoi.
31. ERC Statistics International Plc (2006), The World Cigarette Market: The 2005 survey,
Suffolk.
32. Euromonitor (2007), Baisha Group. Local Company Profile series, London.
33. Euromonitor (2007), Saigon Cigarette Co, Local Company Profile series, London.
34. Euromonitor (2007), Cigarettes, Vietnam, Country Sector Briefing series, London.
35. Group Research and Development Centre (1980), British - American Tobacco Co-ltd
Southampton, Menthod for nicotine and cotinine in blood and urine, Report No: RD,
1737-C.
36. J.A. Apfel and H.McNair, in J.A. Rifks (editor), Procceedings of the Fifth International
Symposium on Capillary chromatography.
37. James L. Repace, Jennifer Jinot, Steven Bayard, Karen Emmons and S.Katharine
Hammond (1998), Air Nicotine and Saliva Cotinine as Indicators of Workplace Passive
Smoking Exposure and Risk, Risk Analysis, Vol 18, No 1, p. 72-83.
38. Kinh HV, Bales S (2003), Tobacco in Vietnam: The industry, demand, control policies
and employment. Economic, social and health issues in tobacco control, Report of a
WHO international meeting, Kobe: Centre for Health Development, World Health


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status