Tiểu luận
Thành tựu của sinh sản
hữu tính có hỗ trợ ở
Việt Nam
Phạm Văn Thương
Phạm văn thương 1
Phạm văn thương 2
Phạm văn thương 3
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài [4], [14]
Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ càng lập gia đình muộn
và tuổi bắt đầu mong con cũng muộn hơn. Sau 30 tuổi, buồng trứng của
người phụ nữ bắt đầu suy giảm chức năng và khả năng có thai cũng
giảm dần. Sau 35 tuổi khả năng có thai giảm càng nhanh hơn và đến 40
tuổi, hơn 1/3 phụ nữ đã không còn khả năng có thai tự nhiên, chủ yếu
do sự suy giảm chức năng buồng trứng. Ngoài ra, một số bệnh lý hoặc
các phẫu thuật trên buồng trứng khiến buồng trứng suy giảm hoặc mất
hẳn chức năng sớm hơn.
Với kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, các phụ nữ bất hạnh trên có thể mang
thai, sinh nở và làm mẹ bằng cách xin trứng của những người hiến tặng.
Tỉ lệ vô sinh nam chiếm từ 30-40% trường hợp vô sinh, trong đó
chủ yếu là thiểu năng tinh trùng. Nhiều báo cáo trên thế giới cho thấy
chất lượng tinh trùng của nam giới ngày càng giảm. Tiêm tinh trùng
vào bào tương trứng (ICSI) hiện nay là một kỹ thuật không thể thiếu ở
các trung tâm hỗ trợ sinh sản. Ở Việt nam, kỹ thuật này được thực hiện
vào tháng 5/1998 và đứa bé đầu tiên ra đời vào tháng 2/1999. Việc
đánh giá kết quả và tìm hiểu các yếu tố liên quan là cần thiết để góp
phần củng cố chương trình và phổ biến kinh nghiệm.
Phạm văn thương 4
Hơn 20 năm qua, thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đã gặt hái rất
nhiều thành công trong điều trị hiếm muộn do vòi trứng, hiếm muộn vô
mô lớn nhất cho đến nay của Hiệp hội sinh sản người và Phôi học Châu
Âu (ESHRE) báo cáo năm 1998, tỉ lệ thụ tinh của noãn sau khi tiêm
tinhg trùng vào bào tương noãn của 174 bệnh nhân là 55,4%; tỉ lệ noãn
thụ tinh tiếp tục phát triển là 44,0% (số liệu năm 1994, số liệu từ 30
trung tâm khác nhau).
Các em bé sinh ra do thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên tại Việt
Nam vào tháng 4 năm 1998 tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ. Đây cũng là
nơi đầu tiên ở Việt Nam thực hiên thành công kỹ thuật tiêm trùng vào
bào tương trứng năm 1998, em bé đầu tiên được sinh ra kỹ thuật này
vào tháng 2/1999. Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào báo cáo về khả
năng ứng dụng và kết quả kỹ thuật ICSI trong điều trị vô sinh nam tại
Việt Nam.
→ Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: "Thành tựu của
sinh sản hữu tính có hỗ trợ ở Việt Nam".
2. Mục đích nghiên cứu
Phạm văn thương 6
- Tìm hiểu về thành tựu của sinh sản hữu tính có hỗ trợ ở Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lịch sử phát triển của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Tìm hiểu về cơ sở lí luận của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Thành tựu của sinh sản hữu tính có hỗ trợ ở Việt Nam
4. Giới hạn nghiên cứu
- Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thông dụng và có hiệu quả cao hiện
nay
5. Đối tượng nghiên cứu
- Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết
7. Lịch sử phát triển của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trên thế giới và
12 trong số 15 em bé TTTON đầu tiên trên thế giới được ra đời từ trung
tâm Monash ở Úc.
- 1981, em bé TTTON đầu tiên ở Mỹ ra đời. Đây cũng là trường hợp
TTTON đầu tiên sử dụng gonadotropin để kích thích buồng trứng.
- Sau đó, trong những năm 80, kỹ thuật TTTON đã phát triển rất
mạnh và lần lượt được báo cáo thành công tại nhiều nước trên thế giới,
kể cả ở Châu Á. Trong đó, Singapore được ghi nhận là nơi thực hiện
thành công TTTON đầu tiên ở Châu Á vào năm 1983 bởi nhóm nghiên
cứu của SC Ng và cộng sự.
- 1983, siêu âm đầu dò âm đạo được giới thiệu và kỹ thuật chọc hút
trứng qua ngả âm đạo với với hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo
được giới thiệu lần đầu tiên và thay thế hoàn toàn việc chọc hút trứng
quan nội soi tốn kém, nguy hiểm và kém hiệu quả.
- 1984, kỹ thuật chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) được báo cáo
thành công tại Mỹ.
- 1984, em bé đầu tiên ra đời từ trường hợp một phụ nữ không còn
buồng trứng, thực hiện xin trứng-TTTON tại Úc.
Phạm văn thương 9
- 1984, em bé đầu tiên sinh ra từ phôi người đông lạnh được báo cáo
ở Úc bởi Trounson và Mohr.
- 1986, Chen báo cáo trường hợp có thai từ trứng người sau đông
lạnh và rã đông tại Úc. Tuy nhiên, tỉ lệ thành công được báo cáo rất
thấp.
- 1988, trường hợp tiêm tinh trùng vào dưới màng trong suốt (SUZI)
được báo cáo thành công lần đầu tiên tại Singapore bởi SC Ng và cộng
sự.
- 1989, kỹ thuật đục thủng màng trong suốt (PZD) để hỗ trợ thụ tinh
được giới thiệu ở Mỹ bời Cohen.
- 1992, kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng được báo cáo
thànnh công lần đầu tiên tại Bỉ bởi Palermo và cộng sự.
học về lãnh vực này tại các hội nghị khoa học trong vùng và trên thế
giới. Trong thời gian qua, chúng tôi đã thu hút được trên 100 trường
hợp người ở nước ngoài đến điều trị. Năm 2004, chúng ta cũng bắt đầu
thu hút được bác sĩ từ các nước đến học hỏi kinh nghiệm trong lãnh
vực này.
* Sự phát triển của TTTON tại Việt nam từ 1997 đến nay
- 1997, Bệnh viện phụ Sản Từ Dũ bắt đầu thực hiện TTTON.
- 30/4/1998, 3 em bé TTTON đầu tiên ra đời ở Việt nam.
-1998-2000, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ bước đầu đào tạo và chuyển
giao công nghệ cho học viện Quân Y về kỹ thuật lọc rửa tinh trùng, trữ
lạnh tinh trùng, TTTON.
- 1999, Bệnh viện Hùng Vương bắt đầu thực hiện TTTON.
- 1999-2000, Bệnh viện Từ Dũ bắt đầu đào tạo và chuyển giao công
nghệ cho viện Bảo vệ bà mẹ và sơ sinh. Trong thời gian này, 6 bác sĩ
và 2 kỹ thuật viên của Viện BVBMSS đã được đào tạo tại Bệnh viện
Từ Dũ.
- Cũng trong thời gian này, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã đào tạo các
kỹ thuật viên của Viện BVBMSS kỹ thuật thực hiện tinh dịch đồ theo
tiêu chẩn của WHO và kỹ thuật lọc rửa tinh trùng. Nhờ đó, trước khi
thực hiện được TTTON Viện BVBMSS cũng đã triển khai được kỹ
Phạm văn thương 12
thuật IUI với tinh trùng lọc rửa thay vì bơm tinh dịch trực tiếp vào tử
cung.
- Từ 4/1999 đến hết năm 2001, 2 bác sĩ Huỳnh Thanh Liêm và
Nguyễn Việt Quang được Sở Y tế Cần thơ cử đến đào tạo chuyên sâu
tại Bệnh viện Từ Dũ về các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
- Cuối năm 2000, Bệnh viện Từ Dũ hỗ trợ về kỹ thuật trong thời
gian chuẩn bị và cử bác sĩ giúp Viện BVBMSS thực hiện các trường
hợp TTTON đầu tiên. Trong thời gian 3 tháng đầu thực hiện chương
trình, bác sĩ Huỳnh Thanh Liêm đã ở hẳn tại Viện BVBMSS để trực
đã xây dựng được các đơn vị chuyên biệt khám, chẩn đoán và điều trị
hiếm muộn theo quan điểm hiện đại và thực hiện được kỹ thuật bơm
tinh trùng vào buồng tử cung với tinh trùng lọc rửa.
Phạm văn thương 14
- 2004, website đầu tiên cung cấp thông tin, kiến thức về hiếm
muộn-vô sinh và các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời:
www.ivftudu.com.vn .
- Với sự quan tâm của ngành y tế nhiều địa phương và sự chuẩn bị
tích cực trong việc đào tạo nhân sự cũng như sự phát triển nhanh chóng
của lãnh vực này tại Việt nam trong thời gian qua, hy vọng trong thời
gian tới chúng ta sẽ tiếp tục đón nhận sự ra đời của nhiều trung tâm
TTTON mới trong cả nước.
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I. Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là gì? [4]
Phạm văn thương 15
1.1. Khái niệm:
- Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) bao gồm các kỹ thuật giúp tăng
khả năng sinh sản của người.
- Theo định nghĩa, ART là những kỹ thuật trong đó có thực hiện
đem tế bào trứng người ra khỏi cơ thể. Đây là những kỹ thuật được
phát triển cơ bản dựa trên kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON)
trên người.
1.2. Một số từ viết tắt thường dùng trong hỗ trợ sinh sản [17]
- AI (Art ificial ensemination) - Thụ tinh nhân tạo: Kỹ thuật đưa tinh
trùng vào đường sinh dục người phụ nữ để điều trị vô sinh. Hiện nay
chủ yếu thực hiện bằng cách bơm tinh trùng đã chuẩn bị vào buồng tử
cung.
- AID, DI (artificial insemination using donor sperm, donor
insemination)-
Phạm văn thương 17
- IVF-ET (in-vitro fertilization and embryo tranfer) - Thụ tinh
trong ống nghiệm và chuyển phôi, thường được viết đơn giản là IVF.
1.3. Nguyên tắc cơ bản của TTTON [3]
- Tinh trùng và trứng được đem ra khỏi cơ thể người, sau đó được
xử lý và nuôi cấy trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình tạo phôi
và nuôi cấy phôi trong những ngày đầu cũng diễn ra bên ngoài cơ thể.
Sau đó, phôi hình thành sẽ được chọn lựa để cấy trở lại vào buồng tử
cung của người vợ. Sự phát triển và làm tổ của phôi, sự phát triển của
thai sau đó diễn ra tương tự như những trường hợp có thai tự nhiên.
II. Các phương pháp sinh sản có hỗ trợ [1, 130], [3, 186]
- Các phương pháp này có hai đặc điểm:
+ Liên quan đến việc thao tác xử lí các giao tử và phôi trong ống
nghiệm, bên ngoài cơ thể mẹ
+ Không cần có giao hợp giữa bố và mẹ
- Khi tình trạng vô sinh là kết quả của những bất thường ở bộ máy
sinh dục nam hoặc nữ thì người ta sẽ sử dụng các giao tử của chính bố
mẹ để tiến hành sinh sản có hỗ trợ. Biện pháp này có tên là thụ thai
nhân tạo "trong hôn nhân". Nhưng nếu một trong hai người hoặc cả hai
không có khả năng sản sinh giao tử hoạt động, hay có nguy cơ giao tử
mang đột biến có hại thì biện pháp cho giao tử sẽ được sử dụng.
Phạm văn thương 18
- Nói đến sinh sản hữu tính có hỗ trợ (SSHTCHT), người ta nghĩ
ngay đến gieo tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm trước khi
chuyển trứng thụ tinh vào tử cung.
2.1. Gieo tinh nhân tạo [1, 130], [3, 186]
- Tinh dịch tươi hay đã bảo quản lạnh, đã qua hay không qua xử lí
tuỳ trường hợp sẽ được đưa vào đường sinh dục nữ.
- Vị trí đưa vào có thể là âm đạo, cổ tử cung, lòng tử cung hay trong
màng bụng.
sau khi phôi có từ 2-3 phôi bào sẽ được đưa vào tử cung.
- Tỷ lệ thành công của phương pháp này là trung bình có 17% mang
thai và 12% sinh con. Đó là một tỷ lệ thấp. Tỉ lệ mang thai tăng tương
ứng với số phôi được đưa vào: tỉ lệ là 15% với 2 phôi, 25% với 3 phôi,
Phạm văn thương 20
30% với 4 phôi. Điều này làm tăng xác suất đậu thai nhiều (20% sinh
đôi, 4% sinh ba, tư).
- Do đó, ngày nay người ta có thể tạo một khe hở trong vùng sáng
để tinh trùng xâm nhập vào bên trong. Tuy nhiên, hai kỹ thuật đang áp
dụng hiệu quả nhất hiện nay là vi tiêm dưới vùng sáng nhằm đưa tinh
trùng vào giữa vùng sáng và màng noãn và kỹ thuật vi tiêm thẳng tinh
trùng vào trứng là biện pháp được ưa chuộng nhất.
2.3. Thụ tinh trong ống nghiệm có hỗ trợ [3, 189]
- Các kĩ thuật được sử dụng khi tinh trùng không có khả năng đi
xuyên qua vùng sáng của noãn. Người ta có thể tạo một khe hở trong
vùng sáng, cho phép tinh trùng xâm nhập vào bên trong: đây là biện
pháp tách một phần lớp zona. Bất lợi của biện pháp này là tần số đa thụ
tinh cao và trứng là biện pháp được ưa chuộng nhất hiện nay.
Quá trình sinh tinh: Tế bào nguồn phân chia đẳng nhiễm tạo tinh
nguyên bào lưỡng bội. Tinh nguyên bào tiếp tục phân chia đẳng nhiễm
tạo các tinh bào lưỡng bội. Tinh bào sẽ phân chia giảm nhiễm tạo các
tinh tử tròn đơn bội. Kế đó là các thay đổi xảy ra trên tinh tử tròn (hình
thành roi và túi tiết tức thể ngọn) biến nó thành tinh tử dài rồi cuối cùng
là tinh trùng có khả năng tiếp cận, xâm nhập vào trứng và kết hợp với
nhân của trứng.
- Ở người, một số trường hợp vô sinh là do sự vắng mặt hoàn toàn
của các tinh trùng biệt hoá trong tinh dịch. Vào đầu năm 1995, nhóm
Phạm văn thương 21
nghiên cứu của P.Vanderzwalmen (Bỉ) tiến hành một thử nghiệm nhằm
khắc phục dạng vô sinh này. Họ thu lấy một tinh tử từ sinh thiết tinh
phôi không có khả năng làm tổ.
+ Thiếu các thành phần gắn kết với phôi tại nội mạc tử cung (bình
thường phôi phải gắn với các phân tử tại nội mạc tử cung này thì mới
có thể làm tổ được).
+ Phôi không thể thoát khỏi sự bao bọc của màng zona (màng bao
bọc quanh phôi). Nguyên nhân sau cùng này chính nó mang lại sự phát
triển các kỹ thuật vi thao tác nhằm hỗ trợ phôi nuôi cấy trong môi
trường ống nghiệm(Cohen và cs , 1990 ).
Phạm văn thương 23
- Sự thụ tinh ở người xảy ra ở đoạn eo bóng của vòi trứng. Sau đó
trứng đã thụ tinh sẽ di chuyển vào buồng tử cung. Trong ống nghiệm,
sự xuất hiện 2 tiền nhân trong thụ tinh bình thường xuất hiện khoảng
18-19 giờ sau cấy tinh trùng. Đến ngày 2-3, phôi phát triển đến giai
đoạn 2-4 và 8 tế bào. Hiện tượng nén tế bào có thể xảy ra ở giai đoạn 8
tế bào khoảng ngày 3. Biểu hiện bằng sự tăng tiếp xúc bằng cách hình
thành các cầu nối giữa các phôi bào kế cận, giảm các khoảng gian bào
và đường viền mờ đi. Ngày thứ 4 sau khi thụ tinh, có sự hình thành
khoang phôi nang ở giữa. Ngay thời điểm bắt đầu quan sát thấy khoang
này là bắt đầu giai đoạn phôi nang.
- Hiện tượng thoát màng thường xảy ra vào ngày thứ 5 hay 6, lúc
này phôi đã ở tại buồng tử cung. Ở người hiện tượng này xảy ra tại một
vùng trên bề mặt của phôi nang. Phôi dần dần thoát ra khỏi màng trong
suốt bằng cách lồi qua một lỗ nhỏ. Hiện tượng thoát màng hoàn toàn là
lúc phôi chui ra khỏi màng trong suốt, thường xảy ra vào ngày thứ 6
hay 7.
Phạm văn thương 24
Phôi thoát màng: Mặc dù phôi nang người dễ nở rộng trong ống
nghiệm, khoảng 20% những phôi nang này gặp trở ngại trong vấn đề
giãn nở hay chỉ dãn rộng ở một vài chỗ hoặc không thể dãn nở hoàn
toàn để thoát khỏi màng zona, cuối cùng nang xẹp xuống và thoái hóa.